Nửa thế kỷ văn học Việt Nam (1975 - 2025), một phác thảo mở(1)

09:44 28/04/2025
Chỉ cần nhìn qua danh mục các công trình nghiên cứu (bao gồm hơn 30 tác phẩm in riêng và chủ biên), có thể thấy gần như cả cuộc đời nghiên cứu của GS Phong Lê gắn liền với văn học Việt Nam hiện đại.

Các công trình nghiên cứu, phê bình của ông tập trung vào hai hướng chính: a) Khảo sát các khuynh hướng vận động, các vấn đề, hiện tượng văn học nhằm nhận diện và khái quát các quy luật, đặc trưng của văn học; b) Nghiên cứu các tác giả văn học nổi bật, gắn liền với từng thời kỳ, giai đoạn văn học, qua các tác giả tiêu biểu để xác định diện mạo và đóng góp của các giai đoạn, thời kỳ văn học. Bám sát tiến trình và hiện tượng văn học, đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng với hoàn cảnh chính trị, văn hóa - xã hội phát sinh để cắt nghĩa và lý giải, các tác phẩm nghiên cứu, phê bình của ông thường đem lại cái nhìn mang tính toàn cảnh, bao quát và hệ thống về đối tượng nghiên cứu. Điều này cũng thể hiện rõ trong công trình mới nhất của ông bàn về văn học Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay.  

Có thể nhận ra tính chất tổng hợp và khái quát của cuốn sách trên nhiều phương diện, từ bố cục, cấu trúc đến các nội dung trình bày, triển khai. Với hơn 300 trang in, ngoài Lời đầu sách, phần MởKết sách, công trình được chia thành ba phần, cụ thể như sau: Phần 1: Tổng quan; Phần 2: Các mối quan hệ trong đối ứng và tương tác; Phần 3: Về vị trí của giới trí thức và về vai trò của văn hóa, văn học - nghệ thuật… Đấy là một cấu trúc mạch lạc, chặt chẽ, vừa đáp ứng mục tiêu bao quát đối tượng, đồng thời, vẫn đảm bảo tính mở, tính linh hoạt, cho phép tác giả tập trung vào những điểm chính yếu mà ông quan tâm, tâm đắc. Để cung cấp một cái nhìn mang tính toàn cảnh về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ở phần Tổng quan, tác giả đã trình bày giản lược nhưng sáng rõ về những thành tựu của hơn một thế kỷ văn học Việt Nam hiện đại, nhằm giúp người đọc hình dung ra bối cảnh và diễn trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại mà giai đoạn văn học sau 1975 vừa nêu là một bộ phận khăng khít không thể tách rời. Ở đây, các phần viết (được đánh theo số thứ tự) bàn về văn học với khát vọng độc lập tự do trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975); Góc khuất 8 năm văn học Hà Nội trong chống Pháp (1947 - 1954) và 20 năm văn học miền Nam trong toàn cảnh cuộc chiến đấu chống Mỹ (1956 - 1975) qua tấm gương nghiên cứu phê bình; đến với những mô tả về văn học từ Đổi mới đến Hội nhập; tiếp đến là những chuyển đổi trong văn học mở đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương diện cảm hứng, thế hệ viết (sáng tác) hay phê bình… Có thể hình dung đấy như những mảnh ghép cốt lõi tạo nên diện mạo khá toàn diện và sắc nét của hơn một thế kỷ văn học Việt Nam hiện đại, giúp nhận ra mạch vận động, mối quan hệ biện chứng giữa bối cảnh lịch sử và các hiện tượng văn học tương ứng, cũng như những thời điểm và giai đoạn văn chương đáng/ cần chú ý. Không khó để nhận ra, khi đặt trên nền bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại với nhiều khúc quanh, lối rẽ, văn học Việt Nam giai đoạn 1975 - 2005 vẫn mang diện mạo riêng, có tính đặc thù, xuất phát trên bối cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa, công nghệ tương ứng và sự vận động nội tại.

Thế mạnh của một chuyên gia hàng đầu về văn học Việt Nam hiện đại - với quá trình lao động nghiên cứu miệt mài và hàng loạt công trình nghiên cứu, phê bình chuyên sâu - khiến GS Phong Lê có khả năng nắm bắt và khái quát rất nhanh, trúng đặc điểm của các hiện tượng văn học mà không nhất thiết lúc nào cũng phải dẫn giải minh chứng. Đồng thời, ý thức kết hợp giữa việc cảm thụ về các hiện tượng văn học với các thao tác, phương pháp tiếp cận, nghiên cứu (phổ biến là phương pháp nghiên cứu lịch sử) khiến những mô tả, khái quát, định giá của ông có căn cứ và điểm tựa khoa học. Ông thường dùng một số từ ngữ cô đọng, hàm súc, có thể hình dung chúng như những “từ khóa” để nhận diện và chính xác hóa, cố định hóa đối tượng. Chẳng hạn, để xác định diện mạo và quá trình vận động của văn học Việt Nam ở thế kỷ XX, ông khẳng định sự hiện thân, hóa thân của chúng nằm trong “một chữ hóa, một động từ hóa”, “là đặc trưng của thế kỷ XX, thế kỷ sôi động và đầy ắp những chuyển động theo gia tốc lớn của lịch sử”2. Cụ thể, đó là “Thực dân hóa (gắn với hai cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây); là “Hiện đại hóa” (gắn với bối cảnh đời sống văn hóa, tinh thần như một hệ quả vừa cưỡng chế vừa tự nguyện trong thời đại đế quốc chủ nghĩa”3; là “Cách mạng hóa” với đỉnh cao tháng Tám - 1945; là “Dân tộc hóa, Đại chúng hóa, Khoa học hóa” nhằm xây dựng nền móng cho nền văn hóa mới sau 1945; là “Kháng chiến hóa văn hóa và Văn hóa hóa kháng chiến nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi; “Hợp tác hoá, Công nghiệp hóa, Điện khí hóa” trong những năm 60, 70… Sau tất cả, là “Toàn cầu hóa”4, cùng với công cuộc đổi mới đất nước vào cuối thế kỷ XX, cuộc hội nhập từng bước với nhân loại trong cuộc Cách mạng thông tin. Các hiện tượng văn học được đặt trong diễn trình lịch sử, trên nền bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội tương ứng, được cắt nghĩa, lý giải từ quan điểm nghiên cứu biện chứng, khoa học. Ý thức về độ phức tạp của đối tượng, tính chất tổng kết của công trình và giới hạn phạm vi tiếp cận của cá nhân người nghiên cứu (được ông nói tới nhiều lần trong công trình này) tạo nên một cái nhìn khách quan, chừng mực, không cứng nhắc, cực đoan.

Một trong những điểm nhấn của cuốn sách là phần bàn về các “góc khuất” trong văn học chống Pháp (1947 - 1954) và văn học miền Nam (1956 - 1975). Với một cái nhìn khoa học, cởi mở, GS Phong Lê khẳng định: “Nhưng điều quan trọng hơn, sau yêu cầu nhận thức toàn diện, đầy đủ mọi bộ phận cấu thành của nó, là một chuyển đổi trong cách nhìn, đánh giá để bớt dần những nghiệt ngã khe khắt ban đầu do sự chi phối của cuộc đấu tranh ý thức hệ và cuộc đối đầu giữa hai phe trên toàn thế giới - trong suốt hành trình lịch sử từ sau 1945 đến 1990”5. Một cách tiếp nhận, đánh giá khách quan, khoa học đối với các hiện tượng văn học - vốn bị xem là “góc khuất”, “nhạy cảm” trước đây - theo ông, là hết sức cần thiết, điều đó làm cho “di sản văn hóa, văn học, nghệ thuật dân tộc sẽ càng giàu có hơn rất nhiều”6. Hiện lên trong các trang sách là chân dung một nhà nghiên cứu có kiến văn rộng rãi, am hiểu sâu sắc văn học hiện đại Việt Nam, đã theo sát và gắn bó với nhiều thế hệ tác giả. Văn phong phê bình của ông tự nhiên, giản dị nhưng giàu hình ảnh và tính chủ thể. Ông thường sử dụng cấu trúc trùng điệp và cách nói nhấn mạnh, nhằm tạo ấn tượng và nhạc tính. Đằng sau những thông tin khoa học, ta nhìn thấy một tâm nguyện tha thiết của một người viết một đời dốc lòng gắn bó với văn chương, hiểu đời, hiểu người, hiểu mình; hiểu những gì đã làm, có thể làm và cả những giới hạn không thể tránh khỏi. Ông tin vào văn chương, tin vào thế hệ những người viết mới với tấm lòng đôn hậu, chân thành; mong mỏi, khao khát những thành tựu mới, thực sự có giá trị, đáp ứng yêu cầu của thời đại, dù vẫn còn đó những mối băn khoăn, nghi ngại, ưu tư. Thái độ chọn đối thoại với người viết trẻ (trường hợp tác giả Hoàng Đăng Khoa là một ví dụ) thật thẳng thắn mà cũng thật thấu hiểu, trân trọng.

Văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX đến nay, trên thực tế, đã được nghiên cứu khá sâu trên nhiều phương diện, vấn đề, hiện tượng... Nhiều lý thuyết hiện đại đã được vận dụng để tiếp cận, nghiên cứu đối tượng này, mở ra nhiều cách lý giải và đánh giá mới, phong phú, đa chiều. Dẫu vậy, đây vẫn là một đối tượng nghiên cứu rộng lớn và phức tạp. GS Phong Lê ý thức rất rõ về điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà tên cuốn sách lại là Phác thảo của phác thảo, nửa thế kỷ văn học Việt Nam trong hòa bình - đổi mới và hội nhập (1975 - 2025). Cũng không ngẫu nhiên mà cụm từ “phác thảo” (thậm chí là “phác thảo của phác thảo”), “cảm nhận sơ bộ”, “một ít ghi chép chủ quan” xuất hiện ngay từ trong tiêu đề cuốn sách và không ít lần trong nội dung. Tên gọi ấy cho thấy đối tượng, mục đích cũng như tâm thế, hướng tiếp cận của tác giả, được ông nói rõ ngay trong Lời đầu sách: nhằm “nhìn lại nửa thế kỷ văn học Việt Nam”, tính từ năm 1975 đến nay, một hoạt động tổng kết, đánh giá cần thiết cho một quá trình đọc, trải nghiệm, nhận thức “trong tư cách một người đọc chuyên cần”. Đó là lý do vì sao nội dung của công trình đặt ra và hướng về nhiều vấn đề có tính khái quát, ví dụ, tổng quan về thành tựu, diễn trình và các vấn đề, hiện tượng văn học nổi bật; các mối quan hệ trong đối ứng và tương tác; vị thế của giới trí thức và vai trò của văn hóa, văn học nghệ thuật… Dẫu vậy, đi cùng với mục tiêu đó là “một tâm trạng e ngại”, bởi nhiều lẽ. Thứ nhất, bởi mọi tham vọng tổng kết rất cần những khoảng lùi. Thứ hai, với bản thân người viết, việc tổng kết một thời kỳ văn học 50 năm là một công việc “đối với tôi là rất khó”, và “trong gắng gỏi để không quá lạc hậu với thời cuộc”, ông “chỉ mong xem đây là một ít ghi chép chủ quan cho riêng mình về những chuyển động mới của văn học”7. Rõ ràng, hơn ai hết, tác giả ý thức rất rõ về độ phức tạp của đối tượng cũng như những đòi hỏi tất yếu về khối lượng công việc và các thao tác khoa học phải thực hiện. Tuy nhiên, với ông, quan trọng hơn cả, “lịch sử (hoặc quá khứ) luôn luôn là điểm tựa, là chỗ dựa chứ chưa bao giờ là nơi giam giữ tương lai”8. Đây là một quan điểm hoàn toàn xác đáng. Cuốn sách này, vì thế, thể hiện niềm “mong mỏi được chứng kiến sự thay thế, sự chuyển giao” giữa các thế hệ sáng tác, trong xu hướng vận động đi lên mang tính tất yếu của văn học Việt Nam hiện đại. Trên thực tế, cuốn sách là một lời kêu gọi tiếp cận mở chứ không phải là một sự kết luận hoàn tất, đóng kín. Dẫu vậy, tính chất phác thảo và tổng quan - xuất phát từ mục đích và ý thức, tâm thế tiếp cận hết sức rành rõ của tác giả - tự nó lại tạo nên giới hạn và rào cản nhất định đối với chính hoạt động phê bình, khiến ông khó đi sâu vào việc phân tích các trường hợp cụ thể, làm điểm tựa cho sự khái quát hóa. Những nghiên cứu về văn học Việt Nam sau 1975 của ông chủ yếu dừng lại ở ngưỡng cuối thế kỷ XX về trước và có phần “ưu ái” hơn với những tác giả, tác phẩm đã có vị trí tương đối ổn định trên văn đàn. Quả thực, người đọc vẫn mong chờ được tiếp xúc nhiều hơn với những hiện tượng tác giả, tác phẩm giai đoạn đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là các hiện tượng phức tạp, gây tranh cãi gay gắt, không hiếm gặp trong thời gian gần đây và những lý giải, đánh giá cần thiết từ phía nhà phê bình.

Viết - với GS Phong Lê - chính là Sống, một hình thức sống vẹn tròn và thiết tha, đẹp đẽ nhất. Cuốn sách chốt lại một hành trình đọc và viết lâu bền, tận tụy của ông, người luôn thấy văn chương là ý nghĩa tồn tại đích thực của đời mình, đồng thời, cùng với văn chương, đã trải nghiệm biết bao ấm lạnh của đời văn, đời người. Những hiểu biết, trải nghiệm nhiều niềm vui nhưng cũng không ít nỗi buồn đó đem lại cho ông một tâm thế viết khoan hòa, bình tĩnh, dù vẫn luôn khao khát một sự thấu hiểu, chia sẻ. Với ông, Văn không chỉ là văn, mà hơn thế - Văn là Đời, là Người. Ông mong muốn cống hiến, chia sẻ, đồng thời luôn ý thức về sự khác biệt và sự cần thiết phải đổi mới, thay thế như một quy luật tất yếu của sự phát triển văn học. Cuốn sách, do đó, mang lại những khái quát đầy ý nghĩa về nửa thế kỷ văn học Việt Nam trong hòa bình - đổi mới và hội nhập (1975 - 2025), mở rộng thêm nhận thức, suy tư về những yếu tính để tạo nên một nền văn học dân tộc thực sự hiện đại, văn minh, dân chủ và tiến bộ. Với ý nghĩa đó, cuốn sách, như tác giả nhấn mạnh một cách khiêm nhu, nhún nhường, là “phác thảo của phác thảo”, nhưng là một phác thảo mang tính toàn cảnh về một giai đoạn lịch sử văn học cần thiết phải quan tâm, chú ý hiện nay. Đó cũng là một bản phác thảo mở, kêu gọi những bước tiếp tục của người đọc, người viết về văn học Việt Nam đương đại. Là một công trình khoa học, cuốn sách cũng cho thấy rõ chân dung chủ thể người viết phê bình ẩn sau từng trang sách: nhạy bén, ưu tư nhưng cũng đầy thiết tha, nồng nhiệt, chưa bao giờ nguôi lặng tình yêu và mối quan tâm với văn chương, đời sống, con người.

L.H.Q
(TCSH56SDB/03-2025)

----------------------
1 Về công trình nghiên cứu, phê bình của GS Phong Lê: Phác thảo của phác thảo, nửa thế kỷ văn học Việt Nam trong hòa bình - đổi mới và hội nhập (1975 - 2025), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2024.
2 Phong Lê (2024), Phác thảo của phác thảo, nửa thế kỷ văn học Việt Nam trong hòa bình - đổi mới và hội nhập (1975 - 2025), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2024, tr.11.
3 Phong Lê (2024), Sđd, tr.12.
4 Phong Lê (2024), Sđd, tr.12.
5 Phong Lê (2024), Sđd, tr.57 - 58.
6 Phong Lê (2024), Sđd, tr.58.
7 Phong Lê (2024), Sđd, tr.58.
8 Phong Lê (2024), Sđd, tr.8.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.

  • LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG   (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.

  • TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.

  • HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.

  • NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

  • PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H

  • MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.

  • INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.

  • HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).

  • VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.

  • HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.

  • NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.

  • L.T.S: Trong ba ngày từ 03 đến 05 tháng 5 năm 2005, tại thành phố Huế đã diễn ra hoạt động khoa học quốc tế có ý nghĩa: Hội thảo khoa học Tác phẩm của F. Jullien với độc giả Việt Nam do Đại học Huế và Đại học Chales- de-Gaulle, Lille 3 tổ chức, cùng sự phối hợp của Đại sứ quán Pháp ở Việt Nam và Agence Universitaire  francophone (AUF). Hội thảo có 30 tham luận của nhiều giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.