Mấy nhận xét về trang trí nội thất lăng Khải Định

14:56 07/08/2025
Trong quần thể lăng tẩm của các vị vua nhà Nguyễn ở Huế, lăng Khải Định - tên chữ là Ứng Lăng - là lăng được xây dựng công phu, tốn kém và lâu nhất. Quá trình xây lăng kéo dài tới 11 năm (1920 -1931).

Vua Khải Định (1916 - 1925) phải tăng thuế thân 10%, thuế điền 30% mới có đủ kinh phí làm nên cái lăng đồ sộ này. Do kiến trúc theo lối mới, mà học giả người Pháp L.Bezacier gọi là phong cách "Néo-classique" (Tân cổ điển), nên lăng Khải Định thường bị người đời chê là lai căng, kệch cỡm và đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn.

Tuy nhiên, khi đến thăm di tích này, mọi người đều thán phục nghệ thuật trang trí nội thất ở cung Thiên Định - kiến trúc trọng yếu của Ứng Lăng. Một thế giới màu sắc rực rỡ với đầy đủ cỏ cây, hoa lá, thú vật, thơ văn... bày ra trước mặt, đã thực sự chinh phục du khách. Đằng sau sự lộng lẫy đó, khi đi sâu vào mặt trang trí, là một chuỗi vấn đề văn hóa, lịch sử vô cùng thú vị. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận xét về việc trang trí trong Thiên Định Cung, ngõ hầu góp thêm một vài sử liệu để chúng ta có một cái nhìn khách quan hơn với di tích lăng Khải Định.

I. Sự hội tụ phong phú về đề tài trang trí:

Nội thất lăng Khải Định là nơi hội nhập của hầu hết các đề tài trang trí thời Nguyễn. Từ những môtíp truyền thống của trang trí cung đình như tứ linh, tứ binh, nhật nguyệt,... đến những đề tài dân gian đi lạc vào chốn cung đình như thập nhị giáp, những loài vật nuôi, cây trồng gần gũi với đời sống thường ngày của người dân; từ những đồ án trang trí trích rút từ các điển tích của đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão, đến những vật dụng rất hiện đại so với bấy giờ như đồng hồ, đèn hoa kỳ, kính lúp... cũng góp mặt nơi đây. Tất cả được dung hòa một cách lôgich, chặt chẽ tạo nên một sự phong phú lạ kỳ.

Ở mảng đề tài truyền thống, đồ án rồng và mây chiếm ưu thế đặc biệt. Trần nhà của ba phòng chính giữa Thiên Định Cung là ba bức họa bột màu vẽ đề tài "Cửu long ẩn vân" do nghệ nhân Phan Văn Tánh thực hiện. Mỗi bức có diện tích hàng chục mét vuông, vẽ chín con rồng ẩn trong những cụm mây lớn. Trên tất cả các ô cửa hình vòm và những mảng tường sau của hậu điện đều có trang trí những hình rồng mặt nạ đắp nổi bằng sành sứ, miệng ngậm tua đính kim tiền. Quanh các mảng tường là hai mươi cột hình ống có đồ án rồng mây uốn quanh theo kiểu "long vân đồng trụ" như các di tích khác ở Huế. Các linh vật khác trong tứ linh như phượng, lân, rùa xuất hiện nhiều ở các khám thờ, án thờ, kỷ thờ, bửu tán...

Phổ biến nhất trong Thiên Định Cung là các đồ án hoa lá, tứ bình. Ở bốn góc điện Khải Thành là hệ thống 16 bức tranh trong bộ tứ bình với bốn loài cây mai - tượng trưng cho mùa xuân; liên (mùa hạ), cúc (mùa thu), liễu (mùa đông). Phần trên mỗi bức tranh đều có thơ vịnh bằng chữ Hán:

Hoa mai: Sổ điểm mai hoa thiên địa tâm
(Mấy cánh hoa mai giống như trái tim của trời đất) (1)

Hoa sen: Thái diệp phong đầu ngọc tĩnh liên
(Ngọn lá lớn trên đỉnh núi đó là cây sen giếng ngọc)

Hoa cúc: Thiên hạ vô song phẩm. Nhân gian đệ nhất hương.
(Phẩm chất vô song miền hạ giới. Hương thơm số một giữa trần gian).

Cây liễu: Liệt tú phân long ảnh. Phương trì tả phụng văn.
(Các vì sao được phân bố như hình ảnh con rồng. Ao thơm phô ra vẻ đẹp con phụng).

Ngoài ra, khắp các mảng tường đều có những bức tranh lớn với hình ảnh cây tùng (tượng trưng cho người quân tử), cây trúc (biểu hiện sự thanh cao), cây ngô đồng với con chim phượng hoàng tượng trưng cho Hoàng hậu. Hình ảnh con dơi tượng trưng cho Ngũ phúc và bộ bát bửu của đạo Nho với trân châu, đồng tiền, mao tiết phương trượng, hốt, ngòi bút, cuốn thư và cây phất trần, xuất hiện ở nhiều nơi.

Những đề tài dân gian xuất hiện trong nội thất lăng Khải Định ở những vị trí khiêm tốn nhưng rất đa dạng. Sau sự đột phá bởi những phù điêu đất nung trang trí ở cổ diềm lăng Đồng Khánh, việc tái hiện thế giới sinh vật trong lăng Khải Định được thực hiện ở một trình độ điêu luyện về tạo hình và phong phú, đa dạng về đề tài thể hiện. Ở các băng ngang chạy quanh phần tường trên của Khải thành điện xuất hiện những con vật trong thập nhị giáp, như: Chuột, hổ, dê, gà, chó, mèo...; những cảnh trống mái, cáo bắt gà, dê và cây so đũa... xếp xen kẽ với những bộ bát bửu được "mở rộng", dung nạp thêm những vật dụng trong cuộc sống hằng ngày. Những môtíp trang trí phổ biến ở các đình chùa như mai điểu, liên áp, tùng lộc, mẫu đơn trì..., cũng được sử dụng để trang trí trong nội thất Ứng Lăng.

Lần đầu tiên trong lịch sử trang trí thời Nguyễn những vật dụng hiện đại và lạ mắt xuất hiện rải rác trong các mảng tường của Thiên Định Cung bên cạnh các đồ án trích rút từ Kinh điển Nho gia. Đó là cây vợt tennis, chiếc đồng hồ để bàn, ngọn đèn dầu, ly uống champagne, hộp đựng thuốc lá, kính lúp. Khải Định là một ông vua hiếu kỳ, chuộng cái lạ nhiều khi đến kỳ quặc. Trong một bài viết đăng trên B.A.V.H, nhà Huế học L.Cadière đã cho biết nhà vua mang cả Bắc đẩu bội tinh lẫn thẻ ngà như những quan lại thời Nguyễn, thậm chí còn đính cả bóng đèn điện lên thắt lưng và tỏ ý thích thú. Chính vì thế việc cho trang trí trong lăng của mình những đồ vật nói trên là điều dễ hiểu.

Chữ Hán cũng được xem như một loại đề tài trang trí. Toàn bộ nội thất có 178 ô trang trí chữ Hán trong đó có 6 ô câu đối và 164 ô chữ Thọ, ngoài ra là các chữ Hỷ, chữ Vạn được thể hiện dưới nhiều hình thức: chữ Triện, chữ Lệ và chữ Chân. Toàn bộ mảng tường sau và hai bên hậu điện là hệ thống trang trí liên hoàn với hơn bốn trăm chữ Vạn (卐) nối tiếp nhau, xen kẽ với những cổ vật trong bộ bát bửu của đạo Lão(2).

Có thể nói rằng những đề tài trang trí trong nội thất Thiên Định Cung là sự hội tụ giữa truyền thống và hiện đại, là sự hòa nhập của ba ý thức hệ Nho, Lão và Phật để tạo nên nét đặc sắc và độc đáo trong nghệ thuật trang trí thời cuối Nguyễn.

II. Sự cách tân trong phong cách thể hiện.

Chất liệu tạo hình cơ bản trong trang trí ở lăng Khải Định là sành sứ và thủy tinh. Nhà vua đã cho người sang Pháp mua kính và thủy tinh màu, sành sứ tốt mua tại Trung Hoa và Nhật bản còn sành ngang thì chở từ Bắc Hà vào. Việc tạo hình bằng phương pháp ghép khảm sành sứ không phải là một phát kiến hay một biệt lệ dưới thời Khải Định. Bởi trước đó, trong quần thể di tích cung đình và tôn giáo thời Nguyễn ở Huế và nhiều nơi khác, người ta đã thấy sự xuất hiện khá phổ biến của phương pháp này. Khảm ghép sành sứ có tính hai mặt. Nó có thể bù lấp, che giấu các chi tiết kiến trúc bị cong vênh hay hao khuyết mà những người thợ đã vô tình mắc phải trong quá trình xây dựng. Đồng thời, nó sẽ tôn nổi họa tiết, làm sinh động và rực rỡ những họa tiết trọng tâm. Tuy nhiên nếu việc ghép khảm sành sứ đó không được dung hòa trong một tổng thể trang trí mà chỉ mang tính riêng biệt thì sẽ đưa đến tình trạng mất cân đối trong trang trí. Bản thân sành sứ, thủy tinh là những chất liệu cứng, nếu không đạt đến độ nhuần nhuyễn, tinh tế trong tạo hình thì họa tiết sẽ trở nên khô cứng, nặng nề. Cũng là ghép khảm sành sứ, nhưng ở giai đoạn trước, phương pháp này như là một sự minh họa hay nhấn mạnh một chi tiết trang trí được tạo hình trước đó bằng phương pháp đắp nổi hay vẽ bằng bột màu. Điều đó có nghĩa là trong một cái "khung" có sẵn bởi họa tiết, người ta ghép khảm sành sứ lên bên trên chứ bản thân việc ghép khảm này không thể tạo ra một họa tiết độc lập. Ở lăng Khải Định, điều này đã không xảy ra. Những mảnh sành sứ, thủy tinh được cắt, gọt, tỉa đến từng đơn vị nhỏ nhất để trở thành những đài hoa, cánh lá... mà khi tập hợp những đơn vị này vào một họa tiết thì họa tiết đó tự thân hình thành, không có sự giới hạn của nét vẽ hay đắp vữa. Các nghệ nhân thời Khải Định đã biết thổi vào những mảnh sành sứ khô cứng kia một sự sống động để họa tiết trở nên có hồn và tinh tế vô cùng.

Tất cả các mảng tường của ba phòng giữa trong Thiên Định Cung đều được phủ kín bằng sành sứ và thủy tinh màu thông qua các họa tiết trang trí. Đó là một thế giới lung linh mờ ảo mà rực rỡ được tổng hòa từ những mảng màu nhỏkhông thể phai mờ theo thời gian. Việc sử dụng thủy tinh màu và sành sứ để trang trí có tác dụng làm cho họa tiết giữ màu vĩnh viễn. Đồng thời nhờ vào hiện tượng khúc xạ ánh sáng mà khi những tia nắng mặt trời chiếu vào các họa tiết bằng thủy tinh, sẽ tạo ra hiện tượng phản quang, đưa ánh sáng đi vào những góc tối trong nội thất làm cho Thiên Định Cung luôn luôn mờ ảo và lộng lẫy màu sắc. Những hiện tượng này không thể có được nếu trang trí bằng các chất liệu khác.

Bột màu cũng được sử dụng nhiều trong việc trang trí và đã mang lại hiệu quả nghệ thuật rất cao. Việc sử dụng màu than đen tạo vân trên nền xi măng trắng để giả đá cẩm thạch ở Tả trực phòng và Hữu trực phòng đã khiến đa phần du khách đi tới đây cứ ngỡ rằng hai phòng này được tạo từ những khối đá cẩm thạch vĩ đại. Bột màu cũng là chất liệu để nghệ nhân Phan Văn Tánh vẽ ba bức họa "Cửu long ẩn vân" nổi tiếng, đã được các họa sĩ Việt Nam hiện đại công nhận là những bức họa hoành tráng có giá trị mỹ thuật cao nhất của nền hội họa nước ta(3). Đáng chú ý là sự bền màu rất khâm phục của những bức tranh này bởi đã hơn 60 năm trôi qua, màu sắc của các bức tranh vẫn tươi nguyên như thuở ban đầu. Sau thành công của Lương Công Duyệt qua 6 bức tranh bột màu vẽ phong cảnh lăng các vua Nguyễn trong An Định Cung (nơi ở cũ của bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại) thì những bức họa của Phan Văn Tánh trong Thiên Định Cung đã đặt một cái mốc quan trọng trong lịch sử hội họa Việt Nam hiện đại.

Tuy nhiên, sự cách tân chỉ xảy ra trong phong cách thể hiện, còn trong bố cục và sự chọn lựa màu sắc, trang trí nội thất lăng Khải Định vẫn dựa trên tính truyền thống. Đó là việc khuôn định họa tiết trang trí trong các đơn vị ô hộc theo phong cách "nhất thi, nhất họa". Toàn bộ các mảng tường trong nội thất Thiên Định Cung có tới 396 ô hộc trang trí, trong đó, có 184 ô là văn tự Hán ngữ. Trên các án thờ, kỷ thờ, bửu tán... còn có tới 186 ô hộc trang trí hoa, lá, rồng, phụng,... và 24 ô chữ Hán. Như thế phong cách ô hộc vẫn xuyên suốt từ trang trí đầu thời Nguyễn đến trang trí thời Khải Định.

Về màu sắc, ngoài việc đưa thêm một vài màu mới vào trang trí như nâu đen và xanh thẫm, bảng màu chủ yếu vẫn là bảng màu của "pháp lam Huế”(4) với các màu vàng, đỏ, xanh lục... là chủ đạo. Điều đó có nghĩa là trang trí truyền thống vẫn ít nhiều tác động lên trang trí nội thất lăng Khải Định. Điều đó càng có nghĩa là không có lý do gì để đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc và nghệ thuật thời Nguyễn.

III. Sự dung hòa của nhiều tôn giáo trong tư tưởng.

Xã hội Việt Nam dưới thời Nguyễn là xã hội phong kiến thời mạt kỳ. Nền tảng tư tưởng đặt trên cơ sở ý thức hệ nho giáo với những thiết chế "tam cương, ngũ thường". Vào đầu thời Nguyễn, vua Gia Long (1802-1820) đã xây dựng bộ "Hoàng triều luật lệ" dựa trên luật Mãn Thanh và bộ luật Hồng Đức thời Lê, đề cao đạo Nho, hạn chế đạo Lão, đạo Phật. Tuy nhiên trong thực tế, Nho giáo thời Nguyễn đã không còn giữ đúng nguyên trạng của Nho giáo nguyên thủy hay Nho giáo thời Tống. Dưới thời các chúa, Phật Giáo đã được các chúa Nguyễn sử dụng như một chất keo để đoàn kết nhân dân xây dựng đất nước xứ Đàng Trong, vì thế đạo Phật rất được trọng thị. Bản thân các vua Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị... đến Đồng Khánh, Thành Thái đều nhiều lần cho tu sửa và mở mang đền chùa. Khi xã hội rơi vào cảnh rối ren, nhiều quan lại, quý tộc Nguyễn như Dương Khuê, Nguyễn Công Trứ, Tùng Thiện Vương... đã lui về ở ẩn, sống cuộc sống của một đạo sĩ, ẩn dật, yếm thế. Vì vậy, những tư tưởng Phật, Lão đó đã xâm nhập vào chốn cung đình, tạo ra một hệ ý thức mà người đời quen gọi là "Tam giáo đồng hành". Tư tưởng này đã thể hiện rất rõ nét trong trang trí ở lăng Khải Định. Từ ngoài vào trong, trang trí lăng Khải Định như muốn đánh dấu ba giai đoạn phát triển ý thức trong đời sống của một con người, cho dù, con người đó là một ông vua. Ở Khải Thành Điện, những đồ án của đạo Nho chiếm vị trí chủ đạo, đó là giai đoạn đầu tiên của một ông vua - nho sĩ, muốn thăng tiến bằng ý thức hệ Nho gia. Tiến vào chính điện, thấp thoáng xuất hiện những môtíp trang trí của Lão Giáo để có thể ngầm hiểu đến lúc cuối đời, con người nho sĩ đó muốn có được một sự nhàn tản, "vô vi" của một vị đạo sĩ, muốn thoát khỏi những xô bồ, mỏi mệt của đời thường. Tuy nhiên, vầng mặt trời đang lặn xuống sau lưng pho tượng vua Khải Định như vẫn khẳng định rằng vua là thiên tử, là mặt trời. Vua mất thì mặt trời lặn xuống. Ý thức hệ Nho gia vẫn trỗi dậy để tồn tại. Thế nhưng ở hậu điện, nơi thờ bài vị nhà vua, hơn 400 chữ vạn (卐) một biểu tượng của nhà Phật đã tồn tại để thể hiện ước muốn cuối cùng của ông vua nho sĩ kia. Đó là được siêu thoát trong cõi Niết Bàn, ước muốn không chỉ riêng của vua Khải Định mà của đa phần nhân dân đương thời đang chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo. Tất cả những họa tiết trang trí trong Thiên Định Cung với một bố cục có ý đồ đã chuyên chở một sự dung hòa tất yếu của ba ý thức hệ Nho-Lão-Phật trong hoàn cảnh xã hội bấy giờ. Đó chính là cái hay, cái đặc sắc trong trang trí nội thất ở lăng Khải Định.

* * *

Mạo muội đưa ra những nhận xét trên đây, chúng tôi muốn nói rằng lăng Khải Định đã đạt đến một trình độ nghệ thuật tuyệt vời trong cả kiến trúc lẫn trang trí. Và đó là điều đáng trân trọng, ngưỡng mộ. Đồng thời, để khẳng định rằng, cũng như văn hóa, nghệ thuật chính là bản sao trung thành của lịch sử, phản ánh từng bước thăng tiến của khúc quanh lịch sử, góp phần thúc đẩy lịch sử tiến lên.

T.Đ.A.S
(TCSH60/02-1994)

-------------------
(1) Phiên âm và dịch chữ Hán trong bài này là do ông Phan Thuận An - cán bộ nghiên cứu Trung tâm bảo tồn di tích Huế cung cấp.
(2) Bộ bát bửu của đạo Lão gồm: cây gậy của Lý Thiết Quả, Phất chủ của Hán Chung Ly, Con lừa giấy của Trương Quả Lão, lẳng hoa của Hàn Tương Tử, Sách ngọc của Tào Quốc Cựu, ống tiêu của Lữ Đồng Tân, tám ngọc bảng của Lam Thái Hoà, hoa sen của Hà Tiên Cô.
(3) Theo Phan Thuận An - Kiến trúc cố đô Huế - Trung tâm bảo tồn di tích Huế xuất bản - Huế 1992 trang 96.
(4) Xem thêm: Phạm Đăng Trí - Quanh các pháp lam Huế - nghĩ về màu sắc - Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật số 3 (44) 1982.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • Lâu nay, nhiều người ở thị xã Hương Thủy, và có những người ở địa phương khác thường gọi hai ngôi làng một ở xã Thủy Vân, một ở phường Thủy Phương hiện nay, là Dạ Lê (bao gồm làng Chánh ở xã Thủy Vân và làng Thượng ở phường Thủy Phương). 

  • MAI KHẮC ỨNG - TỐNG VIẾT TUẤN

    Giữa sân Thế Miếu trong Hoàng Thành thuộc cố đô Huế có chín đỉnh đồng lớn được gọi một tên chung là Cửu Đỉnh.

  • Ký sự NGUYỄN ĐĂNG HỰU

    Tam Giang rộng lắm ai ơi
    Ai về ngoài Sịa nhắn người năm xưa

  • Mỗi khi đông về, nhiều góc phố ở cố đô thơm lừng món chè nóng hấp dẫn học trò. Mùa mưa ở Huế thường kéo dài từ tháng 7 đến tháng chạp, bắt đầu bằng những cơn dông đầu thu ồn ào đến những cơn mưa dầm dai dẳng, lạnh buốt xuyên suốt mùa đông.
     

  • Tuy chỉ là món ăn dân dã và phổ biến ở Huế, nhưng để chế biến được một tô bánh canh cá tràu ngon đúng vị… món ăn này cũng đòi hỏi người chế biến phải tỉ mẩn và khéo léo. Ở Huế, bánh canh có nhiều cách chế biến khác nhau, như bánh canh nấu tôm, chả cua, bò viên, da heo... Tuy nhiên, đặc sắc và thu hút nhất vẫn là bánh canh cá tràu (người Bắc gọi là cá quả, miền Nam gọi đó là cá lóc).

  • Huế những ngày này mưa dài lê thê. Từ sáng đến tối hầu như mưa không lúc nào ngớt. Đi kèm mưa là cái lạnh rét luồn vào da thịt, làm tím tái những khuôn mặt, bàn tay, đôi chân trần đang tất tả mưu sinh trên đường phố.

  • BẠCH LÊ QUANG

    Nghệ thuật và âm nhạc nói riêng, khi vượt qua lằn ranh của hữu hạn sẽ trở thành những sấm truyền vĩnh hằng, một thứ Kinh mà con người sẽ truyền rao trong cõi nhân sinh đầy biến động.

  • HỒ THỊ HỒNG

    Vua Thiệu Trị từng nói với bề tôi rằng: “Việc dạy học là chính sự trọng đại của triều đình”(1). Nhưng với truyền thống hiếu học của nhân dân ta, từ lâu vấn đề giáo dục đã được xã hội hóa một cách sâu rộng từ trong từng gia đình, dòng họ và toàn xã hội Việt Nam.

  • (SHO). “Đã mê ớt đỏ cay nồng
    Tìm trong vị hến một dòng Hương xanh
    Ruốc thơm, cơm nguội, rau lành
          Mời nhau buổi sáng chân thành món quê”

  • PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO

    Trong chuyến đi Huế dự lễ kỷ niệm ba mươi năm Tạp Chí Sông Hương vừa rồi, tôi được Tổng Biên Tập Hồ Đăng Thanh Ngọc ghé tai thông báo: “Chị cứ đi chơi Sông Hương và thăm quan quanh cố đô Huế những chỗ chưa biết, nhưng đừng nên khám phá hết để còn có cái thôi thúc mình lần sau vô  Huế mà khám phá tiếp  nữa. Nhưng dù đi đâu các anh chị cũng đừng quên đến thăm Gác Trịnh mới khánh thành nhé, hay lắm đấy, dù bận mấy  cũng nên tranh thủ ghé thăm Gác Trịnh dù là vài phút ”.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

    Buổi sáng, tôi ngồi trong Gác Trịnh nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài trời đang se sắt chuẩn bị mưa, sự se sắt nằng nặng.

  • PHẠM HUY THÔNG

    Đầu năm 1986, nghĩ rằng năm nay là một năm có nhiều sự kiện trọng đại diễn ra trong nước ngoài nước, tôi e rằng kỷ niệm mùa hè 200 năm trước của Phú Xuân và của dân tộc, dù không phải là không có tầm vóc, có thể chỉ được chú ý có mức độ, - nếu có được nhắc đến.

  • LÊ HUY ĐOÀN

    Những cửa thành của Kinh thành Huế ghi dấu những sự kiện từ kinh đô thất thủ ngày (23/5 năm Ất Dậu, 1885) sau cuộc chiến không cân sức giữa phe chủ chiến của triều đình Huế với giặc Pháp rồi đến sự tàn phá của thiên tai qua trận lụt 1953 làm 4 cửa thành đổ sập, rồi lại trải mình qua chiến sự Tết Mậu Thân (1968) với bao nhiêu vết hằn của bom đạn.

  • VÕ NGỌC LAN

    Như một mặc định của thời gian khi Huế là kinh đô của cả nước và nơi đây cũng là kinh đô của những chiếc áo dài. Vì vậy con gái Huế được làm quen với tà áo dài rất sớm. Bởi khi mới sinh ra đã thấy mẹ, thấy bà, thấy những người phụ nữ chung quanh khoác trên mình chiếc áo dài.

  • LÊ PHƯƠNG LIÊN 

    …Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
    Những buổi ngày xưa vọng nói về…

                       (Đất nước - Nguyễn Đình Thi)

  • G.S. TRẦN QUỐC VƯỢNG

    Thế kỷ XVI chứng kiến sự vỡ ra của nền quân chủ quan liêu Nho giáo Việt Nam.

  • THANH TÙNG

    Tháng 10/2012, tại khách sạn Rex - thành phố Hồ Chí Minh, chiếc bánh đậu xanh Phượng hoàng vũ khổng lồ của nghệ nhân ẩm thực Tôn Nữ Thị Hà và ái nữ Phan Tôn Tịnh Hải được vinh danh Kỷ lục châu Á - do Hội Kỷ lục châu Á công nhận.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

    Ở Huế có nhiều món ngon nổi tiếng như bún bò, cơm hến, dấm nuốt, bánh khoái, bèo, nậm, lọc… điều này đã được nói nhiều. Nhưng còn nhiều chuyện có thể bạn không để ý lắm.

  • NGUYỄN HUY KHUYẾN

    Vườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Khu vườn này đã được đi vào thơ ca của các vua nhà Nguyễn như là một đề tài không thể thiếu.

  • VÕ NGỌC LAN 

    Đã từ lâu danh xưng mai Huế như một mặc định cho loài hoa mai có năm cánh với sắc vàng rực rỡ. Loài hoa mai ấy chỉ sinh trưởng trên đất Cố đô và cũng là đặc sản của vùng sông Hương núi Ngự.