Mùi của những sợi khói lam chiều

08:14 13/06/2017

Nguyễn Quang Thiều tâm sự rằng, suốt cả tuổi thơ của những đứa trẻ thôn quê như ông, có một ngọn gió không bao giờ ngưng thổi, đó là ngọn gió của… đói rét.

Những đứa trẻ đó phải ăn đủ thứ tìm thấy để lớn lên, như rau dại, quả rừng, côn trùng… 60 năm qua đi, bây giờ Nguyễn Quang Thiều đã trở thành “một ông già”, nhưng đứa trẻ của làng Chùa ngày ấy, vẫn còn in đậm trong mình ký ức về góc bếp của bà, của mẹ với những món ăn dân dã nhưng ngon đứt lưỡi, những sáng mùa đông sương phủ trắng cả cánh đồng rau khúc, những chiều hè ngụp lặn mò hến, cười vang cả một khúc sông…

…Và rồi, một phần của những góc bếp bình yên ấy đã được Nguyễn Quang Thiều tập hợp thành một cuốn sách nhỏ có tên gọi “Mùi của ký ức” với 18 câu chuyện là những món ăn của người làng Chùa quê ông - một ngôi làng cổ ven bờ sông Đáy.

Gian bếp bình yên của bà, của mẹ 

Cầm cuốn sách của Nguyễn Quang Thiều trên tay, lật dở vài trang lướt nhìn, tôi buột miệng hỏi: “Có phải anh viết về ẩm thực không?”. Nguyễn Quang Thiều lắc đầu phủ nhận... Ông viết sách với lý do duy nhất là vì nhớ bà, nhớ mẹ, nhớ ngôi làng xưa, những món ăn đã nuôi ông khôn lớn. Để bây giờ, khi đã có chút danh, đến những nơi xa xôi, gặp vô vàn những bữa tiệc thịnh soạn, ông vẫn chưa nguôi nhung nhớ về ngôi làng, nơi chiều chiều, trong gian bếp, bà lẫn mẹ ông vẫn đêm ngày tần tảo, chắt chiu để cho mâm cơm được đủ đầy.

 Tôi - một người đọc. Dẫu đã được tác giả “định hướng” nhưng tôi vẫn nhất định soi chiếu “Mùi của ký ức” như một cuốn sách về ẩm thực. Một cuốn sách viết về những món ăn đặc biệt nhất mà tôi đã từng đọc. 

Chẳng phải điều gì lạ lẫm đâu mà đó là sự thật, rằng bên trong những ngôi làng cổ luôn ẩn chứa rất nhiều bí mật, những bí quyết đời này rỉ tai đời sau, các thế hệ cứ nối tiếp nhau mà trân trọng gìn giữ, trong đó cả công thức nấu những món ăn, mà chỉ cần bước qua cổng làng thôi, là vĩnh viễn chẳng bao giờ gặp lại ở trên đời này. Làng Chùa cũng không phải là ngoại lệ.

Làng Chùa của Nguyễn Quang Thiều nằm kề bên dòng sông Đáy có món gỏi cua, người làng gọi là gỏi “Lý Trưởng” - nghĩa là món gỏi đứng đầu, quyền uy nhất trong tất cả những món gỏi còn lại như gỏi cá mè, cá diếc, tép đỏ… Tất nhiên, theo lời kể của tác giả thì để làm thành công món gỏi, để thưởng thức món gỏi thì ngay từ khi chuẩn bị nguyên liệu đã là một nghi thức. Những lá, những quả vốn là thứ có sẵn trong vườn nhà từ khế chua, lá nghệ, củ chuối, vừng đen… chẳng thể thiếu bất cứ thứ gì. Công thức món gỏi quyền uy này nhiều người đã học, đã thử nhưng khi mang nó đi khỏi làng thì đều bất thành, vì lẽ không thể làm tròn trịa được một hương vị khi ăn “thơm từ trong miệng mình thơm ra”.

Nguyễn Quang Thiều bầy ra trước mắt người đọc vô số những món ăn dân dã nhưng, để tìm được đủ những rau, gia vị mà bắt chước, mà học lỏm thì quả là một lời thách đố. Bây giờ, chẳng phải chợ nào cũng bán cá mè ta, lại tìm đâu ra củ chuối để mà làm món cá om, muốn kho cá mà cũng chẳng thể tìm được một bụi cúc tần, dù xưa mọc đầy bờ dậu...

ảnh 2

Sự vô cảm sẽ giết chết những gì thuộc về vẻ đẹp

“Mùi của ký ức” gợi cho người đọc nhiều liên tưởng, đôi khi là cả sự ám ảnh. Tôi cứ hình dung về một cánh đồng rau khúc với mơ hồ sương đọng, chờ đông sang bừng nở. Hình dung về một đứa trẻ lên 5 lũn cũn theo bà ra đồng hái rau rồi dưới cái lạnh lẽo của mùa đông miền Bắc, ngồi trong gian bếp ấm sực hít hà chiếc bánh với những hạt gạo nếp trắng tinh beo béo và thơm thơm.

Tôi một đứa trẻ lớn lên ở thành phố, chưa một lần biết mặt lá khúc, nhưng vẫn còn ký ức vẹn nguyên về những buổi chiều đông, cứ tầm giờ ấy, có ông già chở chõ bánh khúc đi ngang qua phố, thế nào bà ngoại tôi cũng vẫy lại, thế nào cũng mua cho tôi một chiếc bánh nhỏ chấm với vừng. Bây giờ, bà tôi đã già, thi thoảng mua biếu lại bà chiếc bánh của ký ức xưa ấy, lần nào bà tôi ăn cũng lắc đầu, toàn lá su hào, làm gì còn lá khúc!

Những cánh đồng ngoại thành Hà Nội đã mất đi, những ngọn rau dại như lá khúc cũng chẳng còn vì thuốc bảo vệ thực vật. Con cua, con cá, con hến… cũng cùng chung số phận. Bây giờ chỉ còn toàn nhà là nhà, những con đường vài làn xe chạy, tiện nghi nhưng lạnh lùng. Phải vậy chăng nên nhiều người sinh ra hoài cổ.

Có một dạo, ở Hà Nội rộ lên trào lưu trở về quá khứ. Người ta thi nhau đến những quán ăn được bài trí theo phong cách bao cấp, bát đĩa ở đó được đập mẻ có chủ  ý, cố để cũ kỹ. Tất cả những món ăn thuở Hà Nội còn bươn chải nghèo đói đó được tính với giá cắt cổ. Tôi dăm lần ăn ở những quán ăn đó và dĩ nhiên hiển hiện một chữ… tệ. Có phải người ta trả tiền để tìm lại ký ức hay không? Tôi đem thắc mắc hỏi Nguyễn Quang Thiều, ông giải thích, có những món ăn xưa ngày nay người ta vẫn nấu nhưng chỉ nấu với cách làm toán 1 + 1 = 2.

Nghĩa là họ chỉ thực hiện nó dựa trên một công thức thô thiển mà không hề mang trong đó cảm xúc. Chính vậy mà cùng một món ăn thì người nấu ngon và người nấu không ngon. Sự vô cảm sẽ giết chết tất cả những cái gì thuộc về vẻ đẹp. Bởi lẽ, để tìm lại ký ức và để cho ký ức đó sống lại thì con đường duy nhất chỉ có thể là… cảm xúc. 

Rồi Nguyễn Quang Thiều lạc quan: “Những gì đã thuộc về “cái đẹp” thì không bao giờ mất đi cũng như những món ăn ngon sẽ mãi là món ăn ngon. Nhưng “cái đẹp” nói chung và những món ăn ngon nói riêng tồn tại hay biến mất lại phụ thuộc vào việc con người còn biết hưởng thụ nó nữa hay không. Thực tế trong cuộc sống có không ít những điều đẹp đẽ đã và đang biến mất. Cuộc sống gấp gáp và thực dụng đã giết chết quá nhiều những vẻ đẹp ấy.

Nhưng rồi, những món ăn dân dã của bà, của mẹ vẫn được nấu trong ngôi nhà của chúng tôi. Bởi đó thực sự là những món ăn ngon và nó chứa đựng trong đó cả một lịch sử và ký ức ấm áp và xúc động. Nó làm cho ta được thưởng thức hương vị của ẩm thực và làm cho ta được sống trong cảm xúc đẹp và ý nghĩa. Khi tôi nấu một món ăn dân dã xưa là lúc những điều thiêng liêng và ấm áp lại trở về với tôi một lần nữa. Và như vậy, tôi đã được sống…”.

Theo Quỳnh Vân - ANTĐ

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Hội Nhà văn Việt Nam được chính thức thành lập từ năm 1957, sau Hội nghị thành lập Hội diễn ra tại trụ sở Câu lạc bộ Đoàn Kết, từ 1/4 đến 4/4/1957. Trong lịch sử văn học Việt Nam thời hiện đại đây là lần đầu tiên có một tổ chức của những người lao động văn học trên  toàn quốc.

  • Tái hiện bức tranh Hà Nội thời bao cấp, rồi từ đó đi tìm cái chất nhân văn thuần nhất trong đời sống con người, “Chuyện ngõ nghèo” là cuốn tiểu thuyết đánh dấu sự trở lại của Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh năm 2017 sau một loạt các tiểu thuyết đình đám như: Mẫu Thượng Ngàn, Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa…

  • 1. “Thiện, Ác và Smartphone” là tập tiểu luận thứ hai của Đặng Hoàng Giang, sau “Bức xúc không làm ta vô can” - cuốn sách ra mắt năm 2015 và gây được tiếng vang rộng rãi.

  • Nhân chuyến trở lại Việt Nam truyền giảng phật pháp, ngày 4-4, Tiến sĩ Phật học Khangser Rinpoche đến từ Ấn Độ đã dành nhiều thời gian giao lưu cùng bạn đọc tại TPHCM.

  • Nguyễn Trí được biết đến vào năm 2013 khi tác phẩm Bãi vàng, đá quý trầm hương (NXB Trẻ) đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. “Sự nghiệp” cầm bút của Nguyễn Trí đến nay mới chỉ 5 năm nhưng ông đã có 9 cuốn sách truyện dài, truyện ngắn ra đời.

  • Phan Việt vừa có buổi giao lưu về tác phẩm mới nhất, cũng là tác phẩm chị cho là quan trọng nhất trong bộ ba "Bất hạnh là một tài sản" của mình.

  • Sáng 21-3, tại trụ sở Hội Nhà văn TPHCM, đã diễn ra buổi ra mắt tập tiểu luận, phê bình Nhà văn Lê Văn Thảo trong lòng đồng nghiệp do Hội Nhà văn TP thực hiện (NXB Hội Nhà văn xuất bản).

  • Nhà sách Trí Việt cho biết sau gần 3 năm thực hiện với 6 lần chỉnh sửa, Hội đồng thẩm định cuốn sách “Gạc Ma - Vòng tròn bất tử” do Ban Tuyên giáo TƯ thành lập đã đồng ý cho phép xuất bản cuốn sách này.

  • Lịch sử phát triển của hệ thống thể loại báo chí cho thấy Bút ký chính luận giữ một vai trò quan trọng trong việc định hướng xã hội. Nó là thể loại không thể thiếu trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho quần chúng. Trong một thế giới đương đại, trong một xã hội bùng nổ thông tin với nhiều biến động, Bút ký chính luận càng trở nên quan trọng và cần thiết cho đời sống.

  • Ngày 4 và 5/1, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam tiến hành họp để bình chọn bảy tác phẩm xuất sắc của làng viết năm qua. Kết quả được công bố hôm 10/1.

  • Nghiên cứu công phu, tư liệu chính xác, văn phong mạch lạc và giàu cảm xúc, tác phẩm Văn chương phương Nam - một vài bổ khuyết của hai tác giả Võ Văn Nhơn và Nguyễn Thị Phương Thúy không chỉ khiêm tốn “bổ khuyết” mà là công trình giàu tâm huyết với những khám phá ngạc nhiên mới lạ rất hữu ích.

  • Nói về cuốn sách phê bình văn học Giăng lưới bắt chim của mình, Nguyễn Huy Thiệp hay nhắc lại điều thoạt tiên tưởng rằng ông "lấp lửng": tôi viết có đúng có sai, có chính xác có nhầm lẫn, viết khi mình "đang còn nửa mê nửa tỉnh".

  • Có một thực tế là rất nhiều người song hành giữa việc viết văn và viết báo. Xét về góc độ thể loại thì văn học và báo chí là hai thể loại khác nhau nhưng giữa chúng lại có sự tương đồng với nhau về nhiều khía cạnh. Vì thế việc song hành giữa văn chương và báo chí là điểu dễ hiểu.

  • hông biết đã đến đáy chưa thảm trạng tác giả (khoa học và nghệ thuật) bị xâm hại trắng trợn về bản quyền như hai công trình về dân tộc học của GS.Từ Chi, và về sử học của GS.Trần Quốc Vượng. Hai tác giả có tên tuổi đã quá cố, và những nhà xuất bản gây nên sự cố, làm méo mó, biến dạng đứa con tinh thần của họ lại là những nhà xuất bản có những cái tên rất sang, là cơ quan ngôn luận của những cái hội nghề nghiệp lẽ ra phải rất nghiêm chỉnh, đứng đắn trước công luận. Các cơ quan truyền thông đã lên tiếng. Không biết gia đình, thân nhân của hai tác giả có ý kiến gì không? Ta đã có lệ luật gì về những vụ việc như vậy, để đưa ra tòa án dư luận?

  • Chiều 7.10, Hội đồng giám khảo giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội gồm các nhà văn, nhà thơ: Bằng Việt, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Việt Mỹ, Nguyễn Sĩ Đại, Lê Minh Khuê, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thành Phong đã họp phiên chung khảo.

  • Ngày 4/10, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến dự và phát biểu tại Hội thảo khoa học toàn quốc “Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Tác phẩm văn xuôi, trong đó có truyện ngắn xuất hiện trên báo chí đã trở thành món ăn tinh thần nhiều năm nay cho độc giả. Tuy nhiên, dường như món ăn tinh thần này đang ngày càng có xu hướng bị co lại, bị thay thế.

  • Sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài chiến tranh, cách mạng thời gian qua đã có nhiều đổi mới và được giới chuyên môn ghi nhận.

  • Viết về cuộc Cách mạng mùa Thu 70 năm về trước, nhà văn  Nguyễn Đình Thi -  người can dự, đồng thời là chứng nhân của cuộc cách mạng vĩ đại đó (Năm1945 ông dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào và được cử vào Ủy ban Giải phóng dân tộc; sau đó được bầu làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I là Ủy viên thường trực) đã ví nó giống như “một cuộc lột vỏ”, “rũ bùn” đứng lên của con người, của dân tộc Việt Nam: Súng nổ rung trời giận dữ/ Người lên như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa (Đất nước).        

  • Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới về văn hóa văn nghệ được đề ra trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986), văn học Việt Nam đã có nhiều bước chuyển sâu sắc, đạt nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các thể loại, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa, tinh thần của con người và xã hội.