LÊ QUỐC HÁN
Sương giữa mùa Xuân - Ảnh của NSNA Lê Minh
1. Điệp khúc thời gian
Từ xưa đến nay, không biết bao nhiêu cách ví von về sự ngắn ngủi của thời gian: Thời gian như vó câu qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu, như cánh chim vút ngang bầu trời, như tia chớp lóe lên trong đêm mưa gió: Thời gian ngọn gió vèo qua/ Bao triều vua cũng chỉ là hư không (Dương Kỳ Anh); Ðã nghe sợi tóc bạc trên tay mình (Nguyễn Duy); Thấy thời gian chạy vù qua mái đầu (Trương Nam Hương).
Dùng trí óc đơn thuần suy xét, thời gian là một khái niệm triết học không màu sắc, mùi vị và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Dùng tâm hồn suy xét, thời gian là một vật thể hữu hình, có màu sắc hương vị riêng phụ thuộc vào người đang chiêm ngưỡng, đang nếm trải nó. Chả thế trong bài thơ Màu thời gian, thi sĩ Đoàn Phú Tứ viết: Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát. Bởi lúc đó thi sĩ nhìn thời gian dưới con mắt của người đang yêu, tình yêu đơn phương: Duyên trăm năm dứt đoạn/ Tình một thuở còn vương. Tùy tâm trạng mỗi người cảm nhận màu sắc và hương vị khác nhau. Hãy lấy Mùa xuân, thời gian đẹp nhất trong năm làm thí dụ. Trong tâm trạng rạo rực tình yêu, ông vua thơ tình Xuân Diệu nhìn thấy mùa xuân trong một màu hồng rực rỡ, ngập tràn hạnh phúc nóng bỏng: Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi. Chàng thi sĩ chân quê Nguyễn Bính đa tình với tâm hồn hồn nhiên, trong trẻo lại nhìn mùa xuân qua lá nõn nhành non ai tráng bạc và thấy mùa xuân là cả một màu xanh. Và trở lên, thi sĩ tượng trưng Đoàn Phú Tứ thấy màu mùa xuân tím ngát, trong khi thi sĩ siêu thực Hàn Mặc Tử lại nhìn thấy mùa xuân trong một gam màu kỳ lạ khác: Khách xa gặp lúc mùa xuân chín/ Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng…
Thời gian được đánh dấu bằng bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa có những đặc trưng riêng. Nếu mùa Xuân khởi đầu của một năm, mùa tái sinh của vạn vật và vũ trụ: chồi non nhú mơn mởn, trăm hoa đua nở, chim hót líu lo thì mùa Hè là mùa thu hoạch. Dưới cái nắng chói chang, lúa đã chín vàng gọi nhà nông ra đồng gặt hái: Lúa đã chín rồi/ ngày ngày nóng bức/ hẹn đến ngày mai/ ta đi ta gặt/ Tình ta cũng chín rồi/ tim ta cũng nóng bức/ mong em em yêu ơi/ em là người đến gặt (Petofi). Tùy theo hoàn cảnh và tâm trạng người ta đợi chờ xuân đến cũng khác nhau. Với chàng Xuân Diệu, sự đợi chờ vội vàng náo nức. Chàng thấy: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, chàng muốn ôm: Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn. Đối với chàng: Tình không tuổi và xuân không ngày tháng. Trong khi Chế Lan Viên - thi sĩ cùng thời với chàng Xuân hờ hững với xuân sang: Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân đến gợi thêm sầu. Chế chờ đợi mùa Thu mơ mộng u sầu như chính tâm trạng Chế: Ai ơi trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho ta những lá vàng/ Với những hoa thơm muôn cánh rã/ Về đây đem chắn nẻo xuân sang. Tuy nhiên, ai cũng thấy mỗi giây mỗi phút trôi qua cướp đi một phần của cuộc sống, của đời người. Thi sĩ Văn Cao nhận ra Thời gian qua kẻ tay/ Làm khô những chiếc lá. Xuân Diệu chua chát thốt lên: Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già/ Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất, bởi: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn/ Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Và theo quy luật của tự nhiên, Bác Hồ đã viết: Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng mùa xuân.
2. Mùa hoa
Xuân về, hoa đào rực nở xua đi cái giá rét miền Bắc. Khi mới lên bảy, đọc truyện tranh “sự tích hoa đào” nói rằng xưa hoa vốn nhiều cánh và sắc trắng. Một chinh phụ thêu khăn gửi chinh phu đang trấn ngoài Ải Bắc sợ chồng cảm lạnh cắn ngón tay lấy máu thêu những bông hoa lên, từ đó hoa nhuốm màu hồng đỏ và có hình năm cánh như năm ngón tay chụm lại. Chẳng biết bao nhiêu phần trăm sự thật trong câu chuyện này, chỉ biết rằng nó đã đi cùng tôi suốt sáu mươi mùa xuân qua.
Không biết quê hương gốc gác hoa đào ở đâu, nhưng chắc chắn nó đã xuất hiện trên đất nước ta từ lâu lắm rồi. Gần bảy trăm năm trước, Nguyễn Trãi (1380 - 1442) viết rất hay về loài hoa này: Một đóa đào hoa khéo tốt tươi/ Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười/ Đông phong hẳn có tình hay nữa/ Kín tiễn mùi hương dễ động người (Đào hoa). Một niềm tâm sự kín đáo u hoài. Trong tuyệt tác Truyện Kiều, có một câu thơ thường được nhắc đến: Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Có thể Nguyễn Du (1765 - 1820) dịch từ câu thơ của Thôi Hộ đời Đường đào hoa y cựu tiếu đông phong, nhưng câu thơ của người Việt hóa đến mức không còn một dấu vết của đường thi; nó lột tả hết tâm trạng ngổn ngang của chàng Kim khi trở lại Vườn Thúy sau ba năm xa cách trước cảnh: trước sau nào thấy bóng người!
Hình dáng như hoa đào nhưng hoa mai vàng rực như sắc nắng phương Nam. Đây là loài hoa được nhắc đến nhiều trong thơ ca cổ điển Việt Nam. Gần một nghìn năm trước, thiền sư Mãn Giác Lý Trường (1052 - 1090) nhắc đến loài hoa này trong bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Có bệnh bảo mọi người): Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai). “Cành mai này vượt khỏi không gian và thời gian. Nó vượt khỏi mọi định thể của con người, siêu vượt cả sự sống và lẽ chết. Đó là chân lý luân hồi đạo giới nhà Phật nhưng cũng là hy vọng của cõi nhân sinh và cũng chính là bản ngã đầy tính lạc quan của tác giả. Tính lạc quan này tạo sức sống cho bài thơ qua bao thế kỷ!” (Hà Quảng). Hoa mai tượng trưng cho khí tiết thanh cao của người quân tử. Bởi vậy, nhà thơ Cao Bá Quát - một nhà nho ngang tàng, khí phách một đời chưa biết cúi đầu trước mọi cường quyền cũng phải thừa nhận: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai). Trong thi ca Việt Nam hiện đại, bài thơ Thướng sơn của Bác Hồ nói đến hoa mai được nhiều người yêu thích: Lục nguyệt nhị thập tứ/ Thướng đáo thử sơn lai/ Cử đầu hồng nhật tận/ Đối ngạn nhất chi mai. Nhà thơ Tố Hữu dịch: Hai mươi tư tháng sáu/ Lên ngọn núi này chơi/ Ngẩng đầu mặt trời đỏ/ Bên suối một nhành mai.
Còn hoa ban màu trắng như những đám mây bay bồng bềnh trên những dãy núi cao trùng điệp Tây Bắc. Rồi hoa mơ, hoa mận nở trắng Việt Bắc tạo nên bức tranh thổ cẩm rực rỡ muôn màu suốt một dải Bắc Nam.
Những ai có tuổi thơ gắn với vùng quê, hẳn rất nhớ hoa xoan (còn gọi là hoa sầu đông) với màu tím thủy chung tượng trưng cho tình yêu đôi lứa. Lại còn hoa chanh, hoa bưởi nở tím vườn nhà. Có một thời thơ viết hoa xoan, hoa chanh, hoa bưởi nhiều lắm, nhưng có lẽ người viết nhiều nhất hay nhất là thi sĩ chân quê Nguyễn Bính. Bài thơ nào ông viết về hoa xoan, hoa chanh, hoa bưởi cũng đầy ắp kỷ niệm với những mối tình trong sáng thủy chung, sao trên đầu tôi chỉ văng vẳng câu thơ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời của nữ thi sĩ Anh Thơ? Có phải nông thôn đã đô thị hóa nên cây xoan phải nhường chỗ cho những hàng rào xi măng tương xứng với những ngôi nhà tầng, những biệt thự cao vút, hay lòng người đã khác xưa? Nhưng rồi tháng ba đến, hoa gạo thắp lửa báo một mùa hè với cái nắng chói chang, và thắp lên một niềm hy vọng mới.
3. Xuân về nhớ bạn
Những ngày cuối năm, đứng một mình trên tầng thượng phóng tầm mắt ra xa. Nhìn những cành xoan nẩy lộc đâm chồi, những nụ đào rực rỡ thắp lửa, không khỏi bồi hồi thương nhớ cố hương. Lần theo thang gác xuống phòng khách, bất chợt gặp cành mai vàng khoe sắc nắng vàng tươi, lòng bâng khuâng nhớ bạn bè cùng trang lứa. Và câu thơ của thi sĩ Thế Lữ lại hiện ra lung linh: Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy/ Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.
Nhớ nhất các bạn thời thơ ấu. Với những tình cảm trong sáng hồn nhiên, đã cùng nhau lớn lên như măng mọc thẳng; cùng nhau chơi đùa, cùng nhau chăn trâu cắt cỏ rồi cùng nhau lên đường đánh giặc giữ nước. Giờ người còn kẻ mất, để lòng suốt đời khắc khoải khôn nguôi. Nhớ sao bạn cùng lớp cùng trường, đặc biệt các bạn xa nhà trọ học. Đã từng chia nhau củ khoai hạt gạo, từng chung một ngọn đèn một trang sách, từng thương nhau và đôi lứa phải lòng nhau, để lại một vết thương lòng khá sâu: mối tình đầu. Phần lớn thành danh trong sự nghiệp và hạnh phúc trong tình yêu; nhưng không ít bạn tài hoa mệnh bạc, bị các bệnh nan y cướp đi sinh mệnh khi tuổi đời rất trẻ: Bạn xưa người ngay thẳng/ Sóng dạt tận mù khơi/ Đứa tài hoa phận mỏng/ Ngọn cỏ xanh rợn trời. Nhớ sao các bạn đồng nghiệp thời thanh xuân với nhựa sống dồi dào và bao mơ ước cao vời. Ta đã thầm yêu trộm nhớ đôi người, và biết đâu có cô phải lòng ta. Tiếc rằng ngày ấy đang nuôi một hoài vọng, một khát khao: Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông (Nguyễn Công Trứ) nên không thể ghé bến hạnh phúc. Không biết bây giờ các bạn theo chồng theo con sống ở phương nào? Nhớ cả các bạn chưa từng gặp mặt, chỉ hiểu nhau, mến mộ nhau, yêu quý nhau qua mỗi bài toán, qua từng câu thơ. Vẫn biết: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, nhưng giá một lần mắt trong mắt, tay trong tay quý biết bao. Nhưng rồi: Tôi chỉ là người ước mơ thôi/ Là người mơ ước hão. Than ôi (Thế Lữ). Các bạn ơi! Giờ này các bạn ở đâu?
Một năm lăn lộn giữa cuộc đời, vì bát cơm manh áo, vì công danh sự nghiệp, vì khát vọng đam mê, bị dòng sông thời gian cuốn trôi về phía trước, mấy khi có giây phút thảnh thơi quay lại nhìn quá khứ. Giờ đây, trong phút giao thừa không khỏi nao lòng nhớ về các bạn với bao kỷ niệm ngọt ngào êm ái. Xin thắp một nén tâm nhang tưởng nhớ những người bạn đã đi vào cõi vĩnh hằng để báo rằng các bạn luôn ở trong trái tim tôi. Và cả bạn nữa, dù ở phương trời nào trên Tổ quốc thân yêu hay phiêu bạt xứ người, xin hãy cùng nhau giao cảm qua những câu thơ thấm đẫm tình người của nữ thi sĩ Đinh Thị Thu Vân trong giờ phút thiêng liêng này: Rồi sẽ có một ngày, sau tháng ngày dâu bể/ Chúng mình cùng ngoái lại để tìm nhau/ Ta nói yêu thương khi mắt đã đổi màu/ Bàn tay héo cầm lên cho ấm mãi.
4. Mùa hy vọng
Mùa Xuân khởi đầu một năm mới. Nắng ấm dần xua tan cái rét từ phương Bắc tràn xuống. Hạt mầm tý tách tách vỏ. Chồi non mở ra. Nụ hoa xòe cánh. Trên cành chim hót líu lo. Trên trời xanh những đàn chim tránh rét bay về. Con người như trẻ lại, phơi phới nét xuân sang. Một năm trôi qua với bao nhiêu khó khăn vất vả con người phải trải qua: Thiên tai dồn dập. Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển kinh tế. Năm cũ đang qua, năm mới đang tới. Ta sửa sang bàn thờ gia tiên, dâng lên mâm ngũ quả tưởng nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ, không quên cặp bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho trời tròn đất vuông nhắc nhở mình con Lạc cháu Rồng. Bàn thờ Tổ quốc trang trí lại trang trọng hơn để tỏ lòng biết ơn những người anh hùng dựng nước, giữ nước đã dâng trọn đời mình cho non sông đất nước để mọi người có một cuộc sống thanh bình hôm nay.
Chúc mọi người rũ bỏ mọi ưu phiền để đón nhận một năm mới đầy ắp ánh sáng hy vọng.
L.Q.H
(TCSH396/02-2022)
Tải mã QRCode
ĐOÀN MINH TUẤN Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.
NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".
PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
LÊ KHAI Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ. Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.
HÀ KHÁNH LINH Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!
TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.
TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.
NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.
PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước vào đời.
NGUYỄN VĂN VINH Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.
TRẦN HOÀI Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...
LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.
NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.
TỐ HỮU Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.
NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.