HOA HẠ
Chiều vội vàng kéo tấm lưới mỏng như voan màu đỏ tía choàng xuống vùng phá Tam Giang, gió mơn man thổi nhẹ mang theo mùi chua nồng của đất, mùi ẩm mốc bốc ra từ chòi ông Bảy, mùi món cá bống kho riềng thơm phức đặc trưng rất riêng của cô Hồng ở chòi cạnh bên, mùi nước lá thơm mà dì Tư chiều nào cũng phải có để tắm cho đứa cháu đích tôn mới sinh…
Minh họa: NHÍM
Đủ thứ hương vị, tất cả quyện lại, đông đặc không thể trộn lẫn mà cho dù có đi xa bao nhiêu lâu Hạnh vẫn không thể quên được. Cái mùi mà không biết mấy lần Hoài Hương kêu trong thư gửi Hạnh trời ơi ở bên ni răng Hương nhớ mong nhớ mỏi, đến khi có dịp về biết có còn nữa không?
Như một thói quen, ngay từ hồi tóc còn lơ thơ vài sợi, quần cộc chạy nhong nhong như ngựa qua hết chòi canh này đến chòi canh khác, Hạnh thường hay ngồi trên bờ đê cạnh cái cầu khỉ bắc qua dòng mương mỗi chiều để đợi mạ đi làm về. Ba mạ quen nhau trên cái vùng đầm phá này khi chỉ mới có vài vuông tôm tự phát mà ông bà nội và ông bà ngoại kéo nhau qua be bờ mong thoát cái nghèo hồi những năm đầu giải phóng. Hai gia đình vốn thân nhau như anh em ruột thịt, chiến tranh kết thúc hai ông cụ bàn tính nhau qua vùng phá nuôi con cá con tôm. Xưa nay người ta vẫn thường đánh bắt trên đó kiếm ăn qua bữa, lâu dần nguồn lợi vơi cạn, không đủ ăn, cái nghèo đeo đuổi họ, người bỏ xứ ngày càng nhiều, không hiếm gia đính dắt díu nhau vượt biên sang trời tây làm thuê, làm mướn bên đó, đi mãi không về lại quê hương lần nào.
Ngày mới ra phá Tam Giang làm vuông nuôi tôm, ba mạ cũng trạc tuổi Hạnh bây giờ, mạ đẹp nhất vùng sông nước mênh mông này. Khi hai gia đình đã có mấy vuông tôm thì ba mạ quyết định cưới nhau, nói cưới cho có chữ có nghĩa chứ thực ra chỉ có mâm cơm đạm bạc với nồi cá kho tộ, bát canh rêu cua với món hến xào cùng cút rượu là đã kết nối tơ duyên cho đôi vợ chồng trẻ được rồi. Một đám cưới không ảnh, không hoa, không đủ đầy họ tộc nhưng lại ấm cúng hạnh phúc.
Khi Hạnh ra đời cũng là lúc mùa tôm trúng vụ, ông bà mừng quýnh, nước mắt nhòa cả khuôn mặt đứa cháu mới lọt lòng, có lẽ vì thế mà ba mạ mới đặt cho con gái đầu lòng tên Hạnh. Sau này những tưởng có đứa em trai thì kiểu gì tên nó chả là Phúc, nhưng sau ca mổ vì u nang buồng trứng, mạ không thể sinh thêm được đứa em nào cho Hạnh nữa. Hạnh trở thành niềm vui duy nhất của gia đình.
Những năm Hạnh mới 6 tuổi, chuẩn bị vào lớp một, thấy vài gia đình nuôi tôm trúng mấy vụ liên tiếp, người dân vùng Thuận An kéo lên lập nghiệp. Chỉ vài năm mà hàng trăm vuông tôm lần lượt ra đời, chòi canh mọc lên như nấm, người ta trước làm tạm cái chòi con con để có chỗ ngủ, sau dần chái thêm vài gian, mua thêm cái nồi, sắm sửa thêm cái bát, kéo cả gia đình, con cái về ở để tiện làm ăn. Cũng nhờ vậy mà Hạnh mới quen thân với Hoài Hương và Mạnh. Cả ba trạc tuổi nhau, vào cấp một cũng học cùng một lớp. Hoài Hương là con một nên được ba mạ rất cưng chiều. Ba mạ Hoài Hương chỉ nuôi một vuông tôm, chủ yếu lên phố môi giới bán thuốc và thức ăn cho tôm, cá. Cũng vì thế mà gia đình Hoài Hương nổi lên như một “đại gia” của vùng đầm phá này. Cô ruột Hương vượt biên qua Mỹ cùng chồng cả chục năm không về, thỉnh thoảng lại gửi đủ thứ mĩ phẩm đắt tiền, đô la về cho gia đình anh trai có vốn làm ăn nên ngay từ lúc nhỏ, cô bạn thân của Hạnh đã biết thế nào là đầm, là váy áo đắt tiền, là nước hoa, son phấn. Còn ba mạ Hạnh nai lưng chật vật cũng chỉ đủ ăn nên Hạnh chỉ được tắm nước lá thơm. Không ai hiểu vì sao một con bé đen nhẻm, đầu khét nắng như Hạnh lại có thể chơi thân như chị em với Hoài Hương - đứa con gái lúc nào cũng sạch sẽ, xức nước hoa thơm lừng cả ngày và chẳng bao giờ biết đến sông nước.
Hạnh bơi rất giỏi, nhờ cái tài quẫy nước như rái cá ấy mà Hạnh đã cứu thoát Hoài Hương khi cô bé chân ướt chân ráo về vùng đầm phá, mải miết chơi nên trượt chân ngã xuống đầm. Hai đứa thân nhau từ đó. Hằng ngày sau giờ học, Hạnh lại cùng Hoài Hương ra cầu khỉ ngồi chơi, mặc kệ gió thốc lên mặt, thốc qua vai, mặc kệ chiều tan dần và đêm kéo xuống. Chỉ khi có tiếng í ới của mẹ Hạnh gọi từ chòi lá hai đứa mới tung tăng dắt nhau chạy về.
Gió thổi từ phá Tam Giang có vị ngọt lành đặc trưng, quyện vào đó mùi mồ hôi của biết bao con người nghèo khổ, bươn chải nên Hạnh rất thương cơn gió ấy. Nhiều đêm trăng sáng, Hạnh ra chòi ông Bảy ròm nghe ông kể chuyện chiến tranh, chuyện sông nước. Ông Bảy ròm sống một mình trong chòi canh, không biết ông bước ra từ thế giới nào mà chuyện từ thủa trời đất chưa sinh ông cũng thuộc làu làu không ai bì kịp. Ông không có con cái hay người thân nào, ông bảo ông là con trời đất, mở mắt nhìn được mặt trời là đã nằm lăn lóc trong cái tã rách bươm nơi góc vườn một ngôi chùa. Ông ở chùa được 17 tuổi thì đi vệ quốc quân, cũng vào sinh ra tử, cũng dăm lần bảy lượt vào tù ngồi chơi vui, cũng huân chương, cũng bằng khen hẳn hoi. Oai phong lừng lẫy vậy mà thời bình rồi ông lại như kẻ bất tài, không nghề, không nhà, không người thân thích. Ông bỏ xứ vào Nam được vài năm, thấy nhớ Huế quặn ruột gan lại xách túi trở về làm tạm cái chòi nơi vùng đầm phá này sống tạm. Người dân xung quanh thương ông làm giúp cho được vuông tôm be bé, năm cố gắng, trừ vốn cũng kiếm đủ bát cơm qua ngày. Hạnh thương ông từ ngày đầu mới gặp. Ông tự chế cho mình một cây đàn bằng cái ống bò sữa, vài sợi dây cước nhưng tiếng lại nỉ non, ai oán lạ thường. Tối tối ông Bảy ròm thường rủ vài người trong vùng qua chòi uống rượu, khi nghe hơi men nóng bừng nơi mặt ông khởi hứng làm vài điệu Nam Ai. Phải nói rằng mấy cô đào hát trong Nhạc viện Hoàng cung cũng chưa chắc ca Huế hay bằng ông Bảy. Mỗi lần ông ca, cả vùng sông nước Tam Giang này như lặng đi, tiếng ông lẫn vào lòng đêm huyễn hoặc, gió Tam Giang cũng vì thế mà thổi sâu hơn, mềm hơn, như nỗi lòng của ông, của những con người nơi vùng sông nước mênh mông, nghèo đói này. Ông Bảy thuộc rất nhiều điệu ca Huế, đặc biệt là những điệu ca cổ, cái thời còn vua còn quan, còn dân đen đói khổ cực cùng.
Mỗi khi đến những ngày kỷ niệm lịch sử, ông Bảy thường diện bộ quần áo bộ đội, đeo đủ loại huân huy chương lên ngực áo với đủ đầy tự hào hiện lên trên nét mặt, chòm râu rung rung, đôi mắt ông ánh lên những ký ức đẹp đẽ, oai hùng nhất trong cuộc đời. Thỉnh thoảng cũng có vài nhà nghiên cứu gì đó trên tỉnh, mấy anh nhà báo về gặp ông hỏi ngược, hỏi xuôi những chuyện thuộc về ca Huế cổ, rồi đời lính để lấy tư liệu viết sử, viết báo. Mỗi lúc như thế ông kể say sưa lắm, cố không bỏ sót bước chân nào, vùng đất nào ông đã từng đi qua, với biết bao lửa đạn. Ông cũng kể về những năm chiến tranh, người chết rất nhiều. Ông bước chân qua xác bao nhiêu người mà đau đáu tận gan ruột, trong đó có những người đã từng nhường cơm sẻ áo cho chiến sĩ cách mạng, tất cả vẫn mãi mãi nằm gọn trong ký ức đau thương nhưng ngọt ngào của ông, để rồi trăm lần kể là trăm lần ông chìm trong cơn xúc động, nước mắt tự nhiên rơi.
Ông Bảy thương Hạnh và Hoài Hương nhất, sau này có thêm Mạnh nữa, ba đứa con nít ngày nào cũng phải ghé qua căn chòi nhỏ của ông một lượt, đôi khi chẳng để làm gì, chỉ để nhìn cái khuôn mặt gầy gầy phúc hậu ấy, nghe ông đọc vài câu thơ (mà trong ba đứa chắc chẳng có đứa nào hiểu nghĩa). Chỉ có vậy. Mà cũng lạ, cứ hễ có gì ngon là ông lại để dành cho mấy đứa trẻ con, khi thì con tràu nướng lá sen thơm lừng, củ khoai vùi trong đống than cháy đen, lúc lại món cơm nếp đậu. Mẹ Hạnh cũng quý ông ra mặt, thỉnh thoảng nấu được bát canh rêu mẹ cũng bắt Hạnh mang sang cho ông bằng được.
Lớn lên, Hạnh trở thành thiếu nữ, cũng bắt đầu biết thẹn, chẳng tự nhiên có thể ngồi lên đùi ba hay bá cổ thằng bạn học, nhưng thói quen ngồi hóng gió thì vẫn y nguyên không thay đổi. Như một định lệ, những cơn gió Tam Giang giống y chang những câu ca Huế ngọt lịm của ông Bảy, hay món canh chua của mạ, không thể mất đi trong tiềm thức của Hạnh. Bởi gió nơi đây chẳng khô cháy mặt như gió Lào ở đất cằn Quảng Trị, cũng không mang cái khí heo may báo hiệu một mùa lạnh đi qua như gió chướng trong mấy câu chuyện nhà văn miền Tây. Gió của Hạnh mát rượi mỗi hè, thổi tan cơn mệt mỏi và những giọt mồ hôi rơi trên lưng người nông dân, khi đêm hè đến, thoang thoảng mang hơi ẩm lành lạnh từ những con nước mênh mông thổi vi vu vào những căn chòi lá nằm chênh vênh trên khoảng đất đắp tạm bên cạnh vuông tôm. Vào mùa đông, gió rét thổi như xé da xé thịt, ngồi trong chòi, bên chậu than đỏ lựng vẫn cảm nhận được gió thốc đủ phía. Dù hiền lành ngày thường hay dữ dằn mùa bão, Hạnh vẫn cứ yêu nó như người chị yêu đứa em ruột thịt. Hạnh thích nhất cảm giác được ngồi trong chòi canh, đung đưa chân, để mặc gió vuốt ve mái tóc dài óng, ngắm trời đầy sao và nghe từng đàn tôm nhảy lóc chóc đùa giỡn dưới mặt nước. Vào những ngày trăng sáng, mặt nước lung linh, huyền ảo đầy mê hoặc. Sau này dần dần người ta được tập huấn kĩ thuật nuôi tôm, điện lưới về tận từng nhà thì vuông tôm nào cũng lấp lánh ánh đèn neon sáng lóa, nhìn từ xa trông vùng đầm phá này chẳng khác gì một thành phố.
Nuôi tôm cũng giống như trò cá cược, được ăn cả ngã về không. Có năm dân vùng này tự nhiên được mùa kinh khủng, tôm con nào con nấy to đùng, các tay lái buôn từ khắp nơi đổ về đặt hàng, tranh nhau mua với giá cao. Người nuôi tôm trở thành thượng đế, bỗng chốc có thêm tiền sắm được cho con cái xe đạp để đi học, nhà nào khấm khá hơn cũng có được con xe máy chạy oai phải biết. Nhiều người tranh thủ sửa sang lại cái chòi cho chắc chắn để chống chọi với bão lũ, có kẻ tính xa hơn lại làm ngay một cái nhà tàm tạm trên đất cũ trước đây để lấy chỗ cho con trai lấy vợ, con gái gả chồng (phòng trường hợp nhà chàng rể nghèo quá không có đủ tiền sắm miếng đất làm nhà). Gia đình Hạnh cũng kiếm được kha khá nên ba mạ quyết định dành tiền cho Hạnh lên phố học ôn thi vào đại học, còn lại mở thêm vài vuông tôm. Lớp 12 Hạnh phải ở trọ trên phố, Hoài Hương thi thoảng vẫn cười thi cử làm chi hả Hạnh, học chỉ tổ tốn thêm tiền, bây giờ biết bao kẻ học đại học mà về nhà cày ruộng, đi làm thuê. Mà có đi làm, tưởng oai phong lắm ai dè lương chẳng đủ mua rượu với đồ nhắm. Hạnh nghĩ khác với Hương, bởi sự học là ước mơ của riêng Hạnh và cũng là lối thoát mà bố mẹ chỉ ra cho con gái. Trong vùng này cũng có khoảng chục đứa đi học nhưng chẳng ai hết lớp 9, Hoài Hương chỉ xác định học cấp ba, lấy được cái bằng tốt nghiệp là sẽ theo người cô ruột sang Mĩ. Còn anh chàng Mạnh cũng chẳng tha thiết gì với việc học lắm bởi Mạnh là trẻ mồ côi, được ông Sung dưới Thuận An cưu mang, sau theo ông lên vùng đầm phá này đi làm thuê, học giỏi nhưng không có đủ tiền. Hết lớp 9 Mạnh đã nghỉ ở nhà, ai kêu việc gì cũng làm, kiếm ít tiền mua thuốc cho cha. Khi Hạnh lên phố học, ở nhà cha nuôi của Mạnh té nước chết, ông vốn đã yếu, da bọc xương, lần đó chẳng hiểu sao ông ngồi dậy được, lê ra ngoài chòi canh, ngắm sông ngắm nước rồi té xuống con mương dẫn. Khi người ta tìm thấy xác, ông đã cứng đờ. Mạnh ốm mất mấy ngày vì buồn, người gầy rộc và ít nói hẳn đi. Ngày đó đang những ngày cuối cấp nên Hạnh nghe tin cũng không về dự đám tang được, thấy lòng có lỗi và thương cảm bời bời.
Thi tốt nghiệp xong, Hạnh cắp sách lên phố thi đại học, còn Hoài Hương cũng ráo riết đi học tiếng Anh, làm giấy tờ để xuất cảnh. Chỉ còn Mạnh ở nhà, xoay như con chong chóng giữa bốn bề mênh mông nước, lúc thì qua nhà Hạnh giúp ba mạ thu hoạch tôm, khi lại chạy lên ông Bảy sửa cái đài casset cũ kĩ, ọt ẹt để ông nghe thời sự, cái đài chưa kịp phát ra tiếng đã nghe tiếng chú Ngọc bên kia chòi canh gọi ời ời qua bốc hàng lên xe cho mấy lái buôn… Được cái khỏe mạnh, lại chăm chỉ thật thà nên trong vùng ai cũng thương Mạnh. Cái tình của những con người nơi đây mênh mông chẳng khác gì sông nước, ngọt bùi như gió Tam Giang vậy. Khi sinh ra đến khi già đi người ta đã mang sẵn trong mình cái tình lớn lao vậy rồi nên chẳng biết câu nệ là gì.
Ngày Hạnh nhận được giấy báo trúng tuyển cũng là khi mùa bão mới bắt đầu. Năm ấy mùa bão đến sớm, Huế lại chẳng mấy lần tránh được cơn thịnh nộ của ông trời. Mà kể cũng lạ, trời Huế sao lắm mưa nhiều nước, cứ hễ mưa một tý là nước đã ngập mênh mông, lai láng, đôi khi chẳng để cho người ta kịp lật ngửa bàn tay coi dơ hay sạch. Vì thế mà mấy vuông tôm gần đến kỳ thu hoạch, chưa kịp che chắn đã bị nước tràn về cuốn sạch. Mất mùa nên nước mắt người dân Tam Giang cũng vì thế mà chan hòa trong mưa. Thương nhất là khi mưa to, gió lớn, nước từ mọi nơi tuôn về, bao tấm lưng chẳng kịp mặc áo mưa đã phải chúi mình trong bão gió, cố vớt vát cứu con tôm con cá. Những cơn gió Tam Giang bình thường hiền lành là thế, đáng yêu là thế bỗng chốc như bị cuốn vào cơn giận của trời đất, thả mình như con thoi quất từng nhát xuống những con người từng yêu thương nó. Sau bão, bao mái chòi xiêu vẹo giữa trời, bước chân của con người cũng không thể thẳng đứng được nữa. Mạ Hạnh úp mặt vào lưng chồng khóc ròng, rứa là hết ông nờ, công sức cả năm theo sông theo biển trôi mất rồi, biết lấy gì mà cho con Hạnh học đây. Ba Hạnh chỉ ngồi im, đôi mắt sâu và ráo hoảnh nhìn lên mái lá rách bươm, lòng nặng trĩu. Cô Tư cũng suốt ngày thở ngắn thở dài nguyền rủa răng ông trời ác dễ sợ, một năm mà không làm mình điêu đứng được một lần chắc ông ăn không ngon ngủ không yên, giờ thì hi vọng vô nơi mô mà sống. Biết bao trăn trở rồi cũng qua đi, người ta lại tiếp tục cuộc mưu sinh mới, lại vay vốn, lại mua giống thả tôm, lại chăm sóc nâng niu như con, lại hi vọng và cầu mong trời đất thương mình.
Hạnh mấy lần suýt bỏ học nhưng ba mạ quyết không cho. Hằng ngày Hạnh phải đi làm thêm, gia sư, bán hàng kiếm thêm tiền học. Thỉnh thoảng ba mạ lại nhờ Mạnh lên phố đưa thêm ít tiền cho Hạnh. Những lúc ấy, cầm tiền mà nước mắt Hạnh rơi ướt sũng má, bảo Mạnh đừng cho ba mạ Hạnh biết Hạnh đi làm thuê kẻo ba mạ lo hí, giờ lo trả lãi ngân hàng đã khổ lắm rồi Mạnh nờ. Lại sợ Hạnh nước mắt ngắn dài, Mạnh dắt cô đi dạo trên những con phố nhỏ, đi ăn li chè bắp thơm dịu, cùng ra bờ sông Hương ngắm thuyền rồng, ngắm cầu Trường Tiền bảy màu lung linh rực rỡ. Hạnh tươi tỉnh hơn, bắt đầu biết cười duyên khoác tay Mạnh giữa dòng người qua lại. Chắc chẳng ai biết trái tim cô sinh viên vùng sông nước Tam Giang này đang dần mắc cạn, lỗi nhịp bình thường.
Hạnh lên năm hai thì Hoài Hương sang Mĩ sống, ngày tiễn đưa hai đứa cứ sụt sùi như mưa Huế. Hạnh và Mạnh đứng tần ngần nơi phi trường, khi chiếc phi cơ chỉ còn một đốm nhỏ như cánh chim và mất dạng mà Hạnh vẫn trân trân nhìn lên bầu trời xanh thẳm. Chẳng biết bên trời Tây ấy có chút gì giống nơi này không, có những cơn gió như gió Tam Giang không, có những mùa bão nổi bão chìm đay nghiến và dập tắt hi vọng của biết bao con người, có cây cầu khỉ mong manh đứng lặng bên dòng mương mà mỗi chiều hai đứa hay ngồi chơi nhìn mặt trời lặn về Tây, có ai hát ca Huế hay như ông Bảy ròm mà bao lần nghe rồi hai đứa suýt khóc, có hay không? Đến khi thời gian qua đi, Hương sẽ còn giữ lại chút gì trong lòng mình về những ký ức đẹp mà ngọt ngào, trong veo của ngày hôm qua? Cuộc sống trời Tây nghe nói xô bồ lắm, biết Hoài Hương còn có thời gian để mong nhớ về những người như Hạnh và Mạnh?
Cũng không phải chờ lâu, được mấy tuần thì Hạnh nhận được thư và quà Hoài Hương gửi, lá thư dài mấy trang giấy viết đủ thứ kỷ niệm mà khi viết chắc cô bạn ấy cũng phải tiêu tốn không ít nước mắt. Hương gửi tặng Hạnh một tấm khăn choàng cổ màu lân tinh, óng ánh. Hạnh nâng niu và chỉ choàng khi đi chơi với bạn bè. Hương cũng gửi tặng cho Mạnh một chiếc bảo tháp mô phỏng tòa Nhà Trắng của Mĩ làm kỉ niệm. Thời gian đầu thư qua thư về, mong mong nhớ nhớ, nhưng lâu dần thư bắt đầu thưa thớt, lá nào cũng ngắn cứ như hết điều để nói cùng nhau mất rồi. Hương bảo có thời gian thì gửi qua hòm thư điện tử, vừa nhanh và đỡ tốn tiền, chỉ vài tích tắc là người kia có thể nhận được. Và từ đó chẳng khi nào Hạnh còn phải trải qua cảm giác đợi chờ những lá thư tay như trước, khi cần Hạnh lại ra quán nét, kích vào hộp thư trên mạng là có thể nhận được hồi âm của Hoài Hương, nhưng những dòng thư điện tử ấy cũng vơi dần, chỉ thỉnh thoảng Hạnh mới nhận được vài dòng của bạn, ừ thì mình vẫn khỏe, công việc bình thường, mong gặp lại mọi người lắm, Tam Giang còn gió xưa không? Tam Giang vẫn còn gió xưa, chỉ có người đổi khác Hương nờ!
Ra trường Hạnh về công tác tại phòng nông nghiệp huyện, thỉnh thoảng lại về vùng Tam Giang tập huấn nuôi tôm cho dân, đi kiểm tra chất lượng con giống, chất lượng môi trường nuôi, đưa về tận nơi những kỹ thuật nuôi trồng mới, nhiều loại giống như nghêu, như sò để bà con vùng đầm phá có thể hạn chế được rủi ro. Ba mạ Hạnh tự hào lắm, mà cả dân vùng đầm phá này đều tự hào hết, vì có được đứa nào như bé Hạnh, chẳng những học hết đại học, làm kĩ sư thủy sản hẳn hoi mà nghe chừng sắp tới được ra nước ngoài để dự hội nghị, còn được đi học lên thạc sĩ nữa chứ chẳng phải giỡn. Dù bận việc nhưng Hạnh vẫn thường dành thời gian nghe ông Bảy hát ca Huế, ông cũng già lắm rồi, giọng ông đã trầm và run đi nhiều, chỉ có niềm đam mê ca Huế của ông thì vẫn chảy rần rật trong huyết mạch của người vệ quốc quân năm xưa. Nghe ca Huế, ngồi giữa mênh mông sông nước, giữa bạt ngàn gió Tam Giang, Hạnh như quên hết những mệt mỏi để trở về cùng những ký ức tuổi thơ ngày trước.
Hai năm trước Hoài Hương có về quê một lần, chạy vạy làm hộ chiếu và rủ Mạnh qua Mĩ cùng mình. Mạnh như sợ cái nghèo sẽ đeo bám mình suốt đời hay không đành lòng trước nụ cười rạng ngời của cô bạn thời thơ ấu mà bỗng dưng buông cánh tay Hạnh ra, bước lên máy bay sang quê người tìm kiếm hư vinh. Đêm trước ngày đi, Mạnh cầm lấy bàn tay Hạnh hồi lâu mới nói nổi một câu, hãy chờ Mạnh về, kiếm đủ tiền nhất định Mạnh sẽ trở về bên Hạnh. Nhưng tiền biết răng cho đủ Mạnh ơi!
Hai năm trôi qua, tin tức về Mạnh cứ ngắn dần như tuổi xuân của Hạnh, không còn đủ dài để Hạnh chong mắt mỗi đêm chờ đợi. Bao nhiêu người đàn ông thành đạt đến với cô nhưng Hạnh cứ khép lòng mình lại, bởi Hạnh còn mang nặng lời thề hứa với Mạnh năm nào. Như hiểu nỗi lòng con gái, mạ Hạnh chỉ lén nhìn con quệt nước mắt, bà có bao giờ dám nhắc đến chuyện chồng con với Hạnh đâu, sợ đời dù ngắn nhưng bàn tay chẳng kịp với.
Rồi những gì không trông mong cũng đến khi Hạnh nhận được tin Hoài Hương và Mạnh sẽ tổ chức hôn lễ bên Mĩ. Giờ Mạnh làm ăn khấm khá, có nhà hàng riêng bên trời Tây, Hoài Hương thì làm trợ lí cho công ty của người cô ruột. Hương hồn nhiên kể rằng họ sẽ làm lễ cưới tại nhà thờ ở NewYord và đi dự tuần trăng mật ở Canada, hồn nhiên đến độ không biết Hạnh ở quê nhà đang đau đáu mong chờ. Hạnh mỉm cười hồi âm chúc phúc mà nước mắt thi nhau rơi ướt má. Ngày ba mạ Hoài Hương chuẩn bị sang Mĩ dự hôn lễ, Hạnh chỉ tới để gửi lời chúc phúc, cô muốn gửi cho họ những thứ mà không gì có thể mang được, là nắng, là mưa, lá gió Tam Giang, là tấm lòng trắng trong, ngọt lịm như hoa sữa đầu mùa của cô, là những ký ức đẹp đẽ từng đi qua cuộc đời mỗi người, là những nụ cười của bao trái tim hồn hậu quê nhà, là những món ăn dân dã, thơm lừng mùi của đất, của mồ hôi, của đắng cay…
Ngày bên ấy đôi bạn thân nói câu thề nguyền và đeo nhẫn cưới trong hân hoan hạnh phúc, bên này, nơi chiếc cầu mới xây, trước đây là cây cầu khỉ thân thuộc, Hạnh ngồi im nghe gió thì thào bên má, vuốt ve, đêm ấy trăng sáng lắm, cô ngước nhìn vầng trăng vằng vặc trên bầu trời thăm thẳm, bỗng nghe tiếng đàn nhị réo rắt, có tiếng ai như tiếng ông Bảy ròm với ngàn điệu Nam Ai da diết, mùa gió Tam Giang lại ùa về…
H.H
(SH283/09-12)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.