Mưa An Cựu

09:54 19/12/2016

NGUYÊN HƯƠNG
            Tùy bút

Ta đã từng dựa vào những đêm mưa như một chút ân huệ cuối cùng của đời sống. Nơi đó có dấu chân của những kẻ đi hoang đốt cuộc đời mình trong bóng tối và cũng có thể là nơi những tên trộm lấy đi một vài thứ không thuộc về mình. Rồi một ngày kia dấu chân tan vào mưa, như suối tan ra giữa muôn trùng đá sỏi.

Sông An cựu ngày xưa (đoạn này có tên là Phủ Cam) - Ảnh: internet

Trong những cuộc rong chơi đểnh đoảng của tuổi trẻ, tôi đã nhiều lần một mình đi dưới cơn mưa. Với những kẻ lãng mạn phù phiếm, mưa giống như một thứ thuốc phiện thừa sức nhấn chìm mọi cảm xúc thượng thặng đến độ cháy túi. Đời người ta, nếu không có cơ hội để “đánh cho hết vốn” vào một canh bạc thì chí ít cũng nên một lần được “chìm dưới cơn mưa”. Chìm xuống, để thấy mình mềm mại và mỏng tang trong nước, để mọi buồn vui ái ố được chan hòa cùng nhau. Chìm xuống, để sớm mai về hong tóc úa, sẽ nhớ mãi không quên giây phút được thiên nhiên ưu ái chạm vào.

Đêm đó, có cơn giông tạt ngang An Cựu, gió giật và mưa tầm tã. Giữa cơn mưa xối xả vần vũ trên những nóc nhà đã say ngủ, tôi chợt nghe văng vẳng bên tai làn hơi sầu nữ không chút tì vết thời cuộc nhưng đã nhuốm hơi hướm tủi thân nghiệp mệnh xướng ca. Tiếng hát Thanh Thúy vang lên ở đâu đó, có thể từ chiếc đài casette của một kẻ lãng mạn ưa chịu những điều hoài cổ, khiến tôi không thể bình tĩnh bước đi những bước tiếp theo. Thúy hát Nửa đêm ngoài phố, lênh đênh và cheo leo, như thể mai mốt sẽ là những ngày sau cuối của đời sống riêng nàng. Tôi bỗng nhận ra có những khoảnh khắc trong đời, người ta không thở nữa, chỉ mải mê nghe ngóng một giai âm điêu luyện, lòng rộn theo tiếng nhạc khí phát ra từ dàn máy mà tưởng như sống lại cả một địa đàng.

Và thế là kẻ Bắc Kỳ tôi tự cho mình một đêm trắng lang thang giữa cố đô xa lạ, ngơ ngác lêu bêu một góc hẻm tối tăm chỉ bởi vô tình bắt gặp một câu hát, một mùi hương, hay một bụi nguyệt quế nhà ai len lén nở đêm. Những bước chân đơn độc đó đôi khi dẫn tôi dừng lại trước cổng một ngôi nhà, lập lòe ánh đèn trái nhót trên bàn thờ, nơi chân nhang đã nguội, và một bình cúc gỗ đang phập phồng hơi thở vô hình rất sâu. Cũng như những kẻ si tình khác, tôi đã từng ôm Huế thật sâu để hít thở căng lồng ngực hòng ép trọn làn hương ngọc lan lúc nửa đêm chờ sáng mà thấy thơm phưng phức những bình minh đục ngầu ảo ảnh, lẫn trong văng vẳng tiếng chuông lễ chùa buổi sớm.

An Cựu về sáng vẫn mưa không ngớt, bởi Huế mùa ni là mùa mưa. Ở Huế, An Cựu là một con sông nhỏ, chi lưu của sông Hương và đổ về đầm Hà Trung. Và bởi vì là sông nhỏ nên An Cựu có đầy đủ “tính cách” của một “người” biết thân biết phận: lưu lạc ngoại ô và sống đời riêng mình. Con sông ấy đã chứng kiến nhiều sự đổi thay của triều Nguyễn và hẳn nhiên, cả tiếng nấc của hiền nhân Bến Ngự trong đêm bão thị thành. Mưa An Cựu như là hiện thân của nỗi buồn tháng Mười Một, sau cuối và gần như mất dấu. Nó gợi nhớ những ký ức đã vang bóng một thời, với những lệ pha lê, những đèn khuya, những đêm vàng rêu phủ. Ngồi dưới một tán lều bạt bên Phan Đình Phùng nhìn ra sông, vẳng nghe bên tai lời của nước, của rêu, và bóng dáng những con người đã hằn in dấu vết nơi này.

Giữa trưa, phố vắng như tờ giấy tùy thân, tôi lê bước chân đi dọc bờ An Cựu. Cung An Định hiện ra. Nơi này đã quá xa xưa, u tịch và lặng lẽ, bảo người ta rằng có những điều thực sự được lãng quên trong thinh lặng. Vả chăng còn điều gì đau xót và kiều mị đọng lại thì chắc chắn đó là giọt nước mắt đêm thâu của những người phụ nữ chốn hoàng tuyền. Tôi chạm tay vào cánh cửa, tưởng như chỉ cần đẩy mạnh một chút thôi là có thể được thấy gương mặt u buồn phía sau tấm rèm nhung của những đóa hải đường một thời thức ngủ. Bỗng thấy nhân gian này yên ắng quá. Thể như không còn sự hiện hữu của con người, chỉ có tiếng nước mưa chảy từng dòng qua từng khe gỗ cũ, thì thầm, buốt nhói can tràng. Mùi mưa quện với mùi rêu mùi gỗ khiến trong cùng lúc tôi muốn được gửi một lời hỏi thăm đến những chủ nhân của cố cung này “Liệu mai sau mùa xuân còn đến?”.

Một dạng cảm xúc ngưng đọng đến tột độ mà bé giờ tôi chưa từng trải qua. Tôi muốn tan vào mưa, để thấm tháp nỗi buồn lộng lẫy và óng ánh này. Nỗi buồn của một kẻ rong chơi, cứ hoài mãi những ký ức tàn dư già cỗi của dân tộc. Nhưng dẫu cho sống sâu hay sống cạn, tôi vẫn muốn thành thực với lòng mình về dòng cảm xúc mà bản thân đang nắm giữ, để như thế, tôi được sống trọn một kiếp lang thang, thương vay tiếc mướn những điều đã cũ. Mà có chi cũ lắm, bởi dưới cơn mưa này, mọi thứ đều trồi mình xanh lên.

Ở miền ẩn dật sau cùng, nơi những tiếng ồn thị phi không còn nghe thấy được, sau tất cả những cú giáng của thời cuộc và số phận, cụ Phan Bội Châu được trả về đây, thanh thản và bằng an với những sự thật của riêng ông, nằm sâu dưới tấm tượng đồng đen nghìn năm vĩnh viễn. Bến Ngự bây chừ chỉ còn là những mảnh vỡ huyền thoại, đan chéo so le hiện tại và quá khứ trong khung cửi của mưa. Nhưng mà mảnh vỡ ấy vẫn ngấm ngầm thôi thúc ý nghĩ người ta, nhất là những kẻ hoài cổ, rằng ông già ấy vẫn quanh quẩn đâu đây, hàng ngày neo thuyền câu cá trong nỗi đau bất lực mất nước. Cụ Phan Bội Châu chưa bao giờ quen nết Đào Nguyên lạc lối mà quên nỗi bận bịu con người, chỉ khi người ấy mãi mãi nằm dưới một lớp đất nâu sau 73 năm nghiệm sinh trên cõi đời này. Đó là giấc ngủ dịu dàng của cụ Phan vào mùa đông năm Canh Thìn 1940.

Mưa vẫn rơi như thiếu phụ khóc vọng phu trên bến vắng. Trôi trên sông, hạt mưa tỏa ra những đường vân mảnh khảnh. Tôi đứng trên cầu Phủ Cam suốt buổi chiều chỉ để nhớ duy nhất một khuôn mặt. Khuôn mặt ấy tưởng như rất thân quen nhưng lắm khi lại hoàn toàn văng ra khỏi hệ trật tự của đời này. Người trai bé bỏng ấy đã lớn lên bên dòng sông này, tuổi đôi mươi vừa hé những nỗi buồn chúm chím mà câu hát như đã “ăn cắp” tâm trạng người ta. Người đã gắn bó với Huế bằng một nỗi buồn tươi tắn, nguyên vẹn và chưa từng mảy may bội phản. Người hiện về trong suy nghĩ của tôi với mái tóc thưa thớt bồng bềnh, tay hạc vịn thành cầu như thể một sự chịu thương chịu khó, đôi mắt ngà ngà mơ màng vì khói thuốc mà đâu biết tất cả những điều đó là đề tựa cho một cuộc chia ly. Lá phượng nhỏ và giọt mưa cũng nhỏ, quấn quyện đến nỗi bất giác ta nghĩ không biết mưa đến từ đâu, hay là đã đến từ tiền kiếp.

“Chiều này còn mưa
sao em không lại
nhỡ mai trong cơn đau vùi
làm sao có nhau
hằn lên nỗi đau
bước chân em xin về mau”


Trong mưa có gió. Nhẹ thôi nhưng sao cứ khiến người ta run rẩy. Dòng sông này rõ ràng chẳng hề là một nhan sắc nổi bật của thiên nhiên xứ Huế nhưng tôi cứ có cảm giác nó thừa độ tin cậy để cất giấu những thân kiếp mong manh. Mà sự mong manh ấy, chính là phần hồn của Huế.

Những vệt mỏng cuối ngày nhòe dần trong mưa. Chạng vạng xứ này làm khổ người ta ghê lắm, buồn bã, chông chênh, ai hoài. Mưa bất chợt ào ạt, cuốn phăng mọi thứ trang phục rối rắm của phố phường và để hiện ra một khuôn diện bé nhỏ, kiệt cùng vật chất và khánh tận niềm vui. Đó là những vệt khói ám muội lẫn trong mùi mưa, xống áo xộc xệch của người nữ già phì phèo điếu thuốc, tới hơi thở đàn bà, khỏa lấp cả những giọt mồ hôi nhễ nhại của chủ tiệm hớt tóc đầu ngõ, cuốc xe cuối ngày nhặt nhạnh lối mưu sinh bên vỉa hè phố thị. Cứ thế, phố nhỏ hai bên sông như những người đàn bà nửa đời cam chịu, tiếc nuối thanh xuân và trong lòng đầy ắp những khát khao kín đáo.

Tôi ngửa mặt lên trời để ngũ giác được lịm đi trong nước. Như một kẻ đi bụi trên sa mạc bị khát cháy lâu ngày, bỗng liệng chân qua đây và được tái sinh bằng một mạch nguồn trong veo mát lạnh. Mắt tôi như đẫm trong một khe suối nhỏ, tai tôi nghe thấy tiếng cựa mình của hạt mưa va đập vào nhau, mũi tôi ngửi thấy mùi của cây khô đang tróc vỏ, lưỡi tôi cảm nhận vị ngọt của mùa và tay tôi muốn đưa ra để đón lấy làn nước trong khiết mà những kẻ bụi đời nơi cuối nẻo cuồng phong vẫn thường túng thiếu. Bỗng chốc tôi thấy mình như thuộc về nơi đây từ kiếp nào, bên dòng sông nhỏ và những gương mặt đã nhòe đi cùng cát bụi thời gian.

Thời gian và không gian như ngừng lại, chỉ còn lại tiếng kêu rỉ rả của côn trùng ăn sương. Rồi như ý nghĩ muốn chìm sâu hơn nữa dưới cơn mưa này, tôi nhận ra, mưa An Cựu chính là một ví dụ đẹp về nỗi cô đơn của Huế.

N.H
(TCSH334/12-2016)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).

  • PHẠM THỊ ANH NGA15-12-2002Hình như trong đám đông tôi vẫn luôn là một bóng mờ. Một bóng dáng nhạt mờ, lẩn trong vô vàn những bóng dáng nhạt mờ khác, mà giữa trăm nghìn người, ai cũng có thể “nhìn” mà không “thấy”, hoặc có vô tình “thấy” cũng chẳng bận lòng, chẳng lưu giữ chút ấn tượng sâu xa nào trong tâm trí.

  • PHẠM THỊ CÚC                       KýTôi sinh ra ở một làng quê, không những không nhỏ bé, hẻo lánh mà còn được nhiều người biết đến qua câu ca dao "Ai về cầu ngói Thanh Toàn/ Cho em về với một đoàn cho vui".

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                        Bút kýNhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

  • THÁI VŨ        Ghi chépNhững năm đầu kháng chiến chống Pháp, từ Quảng Nam- Đà Nẵng vào Bình Thuận lên Tây Nguyên được chia ra làm 3 Quân khu thuộc Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, cụ Cố vấn Phạm Văn Đồng là đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ. Qua năm 1947, 3 Quân khu (QK 5, 6 và Tây Nguyên) hợp nhất thành Liên khu (LK) 5.

  • PHƯƠNG HÀ                     (truyện ký)Cho anh em trong phân đội trở về các vị trí giấu quân xong thì trời cũng vừa sáng. Đang giăng võng để ngủ lấy sức sau một đêm trinh sát, tôi chợt nhớ phải đến thăm Hoà vì Hoà sắp đến ngày sinh nở. Chúng tôi đang ở ngay làng của mình nhưng làng không còn nhà, dân bị giặc lùa đi hết, muốn tìm nhau thì phải tìm đến những căn hầm.

  • LÊ TRỌNG SÂMTrong cuộc đời của mỗi chúng ta, khi Bác Hồ còn sinh thời, được gặp Bác một lần đã quý. Trong cuộc sống của tôi, do có nhiều hoàn cảnh, nhiều duyên may lại được gặp Bác đến ba lần thì càng quý biết bao nhiêu. Tự đáy lòng, tôi thầm cảm ơn Đảng, cảm ơn Bác đã cho tôi ba lần vinh dự như vậy. Và những kỷ niệm đó vẫn còn tươi nguyên.

  • PHẠM THỊ CÚC                         Ký…Tôi chưa thấy ai hay ở xứ nào làm các tác phẩm mỹ thuật từ cây với dây... Nếu gọi là tranh thì là một loại tranh ngoài trời, lấy tạo hoá, thiên nhiên làm cốt, không giới hạn, dãi nắng, dầm mưa, đu đưa theo chiều gió, màu sắc cũng thay đổi từng giờ, từng phút, tuỳ theo ánh sáng mặt trời hay mặt trăng. Cho nên, tác phẩm rất linh động…

  • LÊ VĨNH THÁI                Ghi chép Sau chặng đường dài gần 20 km vượt qua các con dốc cao ngoằn ngoèo, hiểm trở, tôi đã đến “hành lang” công trình hồ Tả Trạch, nằm giữa vùng rừng núi bạt ngàn thuộc xã Dương Hoà, huyện Hương Thuỷ. Công trình hồ Tả Trạch được khởi công xây dựng ngày 26/11/2005, là công trình trọng điểm của Thừa Thiên Huế và của cả nước, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, với tổng mức đầu tư khổng lồ 2659 tỷ đồng. Đây là một trong những công trình lớn của vùng Đông Nam Á.

  • TRƯƠNG ĐÌNH MINH                                 Ký Đợt này trở lại Trường Sơn, tìm hiểu thêm các tấm bê tông xi măng vắt qua đỉnh Trường Sơn, lượn quanh các đèo U Bò, Cù Đăng, A Dớt - A Tép mưa mù phủ trắng... Có đỉnh như đỉnh Sa Mù cao trên 1400m mà đợt tháng 3/2003 vừa rồi chúng tôi đã có mặt. Song do mưa liên miên, xe vận chuyển vật liệu, vật tư đi lại co kéo quá nhiều, đường lầy lội. Các đơn vị thi công chưa hoàn thiện phần nền...

  • DƯƠNG PHƯỚC THU                              Bút kýNhiều năm rồi tôi vẫn nghe, đồng chí đồng đội, nhân dân Dương Hoà và những người từng ở hoặc đã qua lại nơi đây trước chiến tranh, khẳng định rằng: Sau khi hy sinh, thi hài liệt sĩ Ngô Hà được đơn vị tổ chức an táng tại sườn tây núi Kệ, nơi có khe suối Ngân Hàng chảy qua thuộc vùng chiến khu Dương Hoà. Trước ngày giải phóng miền Nam, mỗi lần ngang qua chỗ ông nằm mọi người lại tự ý đắp thêm một viên đá nhỏ, để cho ngôi mộ ấy sớm trở thành hòn núi như mới mọc lên từ đất, ghi dấu chỗ ông yên nghỉ ... Chờ ngày chiến thắng.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNăm cuối cùng của bậc học phổ thông, tôi được học 2 tiết văn giới thiệu về "Dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945". Cũng không có tác phẩm thơ hoặc văn xuôi được tuyển chọn để phân tích, bình giảng như bây giờ. Ngày ấy - những năm chống Mỹ cứu nước, thơ văn lãng mạn được xem là điều cấm kỵ.

  • TRƯỜNG ANChúng ta đang sống giữa những ngày rực lửa truyền thống hào hùng của Tháng Năm trong lịch sử cách mạng Việt và thế giới. Trước hết, hãy nhắc đến một sự kiện lớn của giai cấp công nhân quốc tế. Ngày 1.5.1886, do yêu cầu không được đáp ứng một cách đầy đủ, công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!”.

  • PHẠM THỊ ANH NGA       Gởi hương hồn bạn cũTôi qua đến Pháp ngày hôm trước thì hôm sau ba tôi mất. Cái tin khủng khiếp đó đối với tôi vẫn không đột ngột chút nào, bởi từ những ngày hè về thăm nhà, tôi đã biết trước ba tôi sẽ sớm ra đi.

  • TÔ VĨNH HÀEm hẹn gặp tôi ở quán cà phê Trung Nguyên. Đó là địa điểm em tự chọn. Cái tên ấy cho tôi biết rõ là giữa hai chúng tôi không có gì nhiều hơn một cuộc trao đổi bình thường. Tuy nhiên, sự mách bảo từ nơi nào đó của linh cảm và cả ước muốn, cứ làm cho tôi tin rằng đó là điểm khởi đầu. Đêm cuối xuân, Huế gần như ít buồn hơn bởi cái se lạnh của đất trời. Huế bao giờ cũng giống như một cô gái đang yêu, đẹp đến bồn chồn. Nếu được phép có một lời khuyên thì chắc hẳn tôi đã nói với tất cả những người sẽ được gần nhau rằng, họ hãy cố chờ đến một đêm như thế này để đến bên nhau. Bầu trời mà Thượng đế đã tạo ra sẽ cho mỗi con người biết cách đến gần hơn với những lứa đôi.

  • CAO SƠNChuyện xưa: Vua Hùng kén tìm phò mã cho công chúa Ngọc Hoa, đồ lễ vật phải có gà chín cựa ngựa chín hồng mao? Thôi thúc Lạc dân xưa kia, đánh thức tiềm năng người dân phải tìm hiểu, lặn lội từ đời này sang đời kia chưa thấy. May sao với thú đi để biết, anh Trần Đăng Lâu, cựu chiến binh, hiện Giám đốc vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ cho hay: Vườn quốc gia nguyên sinh anh Lâu đang quản lý, mới phát hiện giống gà lạ ấy. Con vật đặc biệt chưa có ai biết tới, chưa được phổ biến rộng rãi, thương trường chưa có cuộc trao bán...

  • NGUYỄN HỮU THÔNG                             Bút ký"Buổi mai ăn một bụng cơm cho noChạy ra bến đòMua chín cái tráchBắc quách lên lò

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG                                                Bút kýTrong hồi ức của một số cán bộ lão thành cách mạng ở A Lưới kể lại rằng: “Hồi đó có một số người ở đồng bằng tản cư lên sống cùng đồng bào; qua họ, đồng bào nghe đến tên Cụ Hồ, nhưng đồng bào chỉ biết đầy đủ về Bác cũng như thấu hiểu được những điều Bác dạy qua các cán bộ người Kinh lên hoạt động ở đây vào khoảng những năm 1945-1946. Cán bộ bảo: Cụ Hồ muốn nhân dân mình học lấy cái chữ để biết bình đẳng. Muốn bình đẳng còn phải đánh Pháp. Nếu đoàn kết đánh Pháp thì ai ai cũng đánh Pháp và khi đó đồng bào ta nhất định thắng lợi” (1)