Một số hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ văn chương Việt Nam

10:41 25/06/2009
HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

Pidgins là một thuật ngữ chỉ một bộ phận ngôn ngữ lai tạp có phạm vi sử dụng hẹp. Pidgins hình thành từ cơ sở thực tiễn xã hội có nhiều xáo trộn về lịch sử như sự xâm chiếm lãnh thổ của các đế quốc thực dân; như sự giao thương giữa các nền kinh tế; sự truyền đạo của các nhà truyền giáo... Trong quá trình giao tiếp với những mục đích khác nhau cũng như nhu cầu hiểu biết lẫn nhau, sự bất đồng ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp hình thành nên hiện tượng Pidgins.

Trong xã hội tồn tại các loại ngôn ngữ khác nhau, giữa các đối tượng giao tiếp, với tất cả khả năng vận dụng, người ta vừa dùng ngôn ngữ này (tiếng này) với ngôn ngữ kia nhằm vào đích sử dụng là tìm tiếng nói chung, cốt để hiểu nhau, bất chấp mọi thuộc tính ngữ pháp của từng ngôn ngữ.

Hoàn cảnh giao tiếp cùng với những diễn tiến xã hội đã quyết định số phận tồn tại và phát triển của Pidgins. Vì vậy chúng ta có thể thấy rõ về hiện tượng tồn tại khá dài của một số Pidgins cũng như thời gian tồn tại rất ngắn của những Pidgins khác.

Không giống như Pidgins, Creoles là một thuật ngữ chỉ một bộ phận ngôn ngữ lai tạp có phạm vi sử dụng rộng, và thực chất có thể hiểu rằng Creoles là Pidgins đã trở thành ngôn ngữ có phạm vi sử dụng rộng; hay Creoles chẳng qua là sự phát triển của Pidgins ở một không gian, môi trường giao tiếp rộng hơn mà thôi. Cũng như có thể hình dung rằng, Pidgins và Creoles là hai giai đoạn trong một quá trình đơn giản của sự phát triển ngôn ngữ.

Có thể hình dung đó là một quá trình vận động của việc sử dụng ngôn ngữ. Khi mới hình thành trong một cộng đồng nói năng, Pidgins được sử dụng trong một phạm vi rất hẹp. Về sau, nhu cầu giao tiếp đã làm tăng lượng người sử dụng, phạm vi giao tiếp của Pidgins được mở rộng, củng cố rồi phát triển rồi trở thành Creoles. Đặc trưng của Pidgins là vốn từ vựng ít ỏi, kết cấu ngữ pháp đơn giản, khi chuyển thành Creoles thì tất nhiên các bình diện từ vựng, ngữ pháp sẽ được mở rộng.

Nhìn chung, Pidgins và Creoles đều là những hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ, chỉ phân biệt nhau ở mức độ và phạm vi sử dụng; ở vốn từ và cấu trúc ngữ pháp; ở đối tượng sử dụng nhiều hay ít...với những đặc trưng ngôn ngữ mang tính xã hội, mà nguyên nhân hình thành và phát triển chính là nhu cầu hiểu nhau trong một cộng đồng nói năng tồn tại nhiều ngôn ngữ ở các đối tượng giao tiếp.

Trong văn chương Việt Nam, hiện tượng ngôn ngữ lai tạp được thể hiện khá đặc trưng với những diễn biến phong phú, làm nên một sắc diện mới mẻ, độc đáo trong ngôn ngữ.

So với hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ giao tiếp, hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ văn chương Việt Nam có nhiều đặc trưng riêng. Lai tạp trong ngôn ngữ văn chương đã tạo nên những hiện tượng lai tạp khá đặc biệt, tạo nên một nét riêng của ngôn ngữ lai tạp được hình thành trong quá trình sử dụng ngôn ngữ từ mục đích giao tiếp đến ý đồ nghệ thuật.

Nhìn lại lịch sử có thể thấy, vào chế độ quân chủ ở Việt Nam, người Việt sử dụng cả hai hình thức ngôn ngữ tiếng Hán (khi viết) và tiếng Việt (khi nói). Tiếng Việt qua các giai đoạn sau được ghi lại bằng hai hình thức đó là chữ Nôm (theo hệ chữ vuông) và chữ Quốc ngữ (theo hệ La-tinh). Khi sử dụng cả hai loại ngôn ngữ tiếng Hán (khi viết) và tiếng Việt (khi nói) dẫu chẳng cần đến một Pidgins nào để "hiểu nhau" nhưng trong văn chương hiện tượng lai tạp này vẫn diễn ra và trở thành sản phẩm trí tuệ của thời đại này.

Sự lai tạp các yếu tố Hán và Nôm; Nôm và Hán trong những tác phẩm thi ca, câu đối một mặt là sản phẩm của xã hội có song thể ngữ, mặt khác lại là sản phẩm đặc biệt của những cá nhân sử dụng ngôn ngữ với những mục đích rõ ràng. Tuy những hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ văn chương ở giai đoạn này không nhằm mục đích để hình thành Pidgins, nghĩa là không dùng với mục đích giao tế, nhưng tính chất lai tạp thể hiện trong chúng là rất rõ nét với ý thức cụ thể. Hiện tượng lai tạp kiểu này đã trở thành một ý đồ nghệ thuật- nghệ thuật chơi chữ với những cách thức phô diễn trí tuệ qua chữ nghĩa cũng như hướng đến những đích thẩm mỹ nhất định.

Vào thời Nguyễn (1802-1945), ở Huế, có một bài thơ chữ Hán, trong đó, mỗi câu đều có hai chữ Nôm (vốn được truyền là của Chu thần Cao Bá Quát - đọc ghép theo hai câu thực của vua Tự Đức) như sau:

Phiên âm:

Bảo mã tây phong huếch hoác lai
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài
Khù khờ thi tứ đa nhân thức
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.

Dịch thơ:

Huếch hoác gió phi tiếng ngựa lồng
Huênh hoang người tự bước vào trong
Giữa vườn oanh hót khề khà tiếng
Ngoài ruộng đào bung lấm tấm bông
Lộp bộp sương reo nghe xuân sớm
Bài nhài mưa rụng thấy thu không
Khù khờ tứ cũ thơ quen điệu
Khệnh khạng mai sau hỏi tú công.
                                (Hải Trung dịch)

Ở đây, có các yếu tố huếch hoác; huênh hoang; khề khà; tấm tấm; lộp bộp; bài nhài; khù khờ; khệnh khạng đều là chữ Nôm với nét nghĩa thuần Việt tồn tại đều đặn trong tám câu của một bài thơ chữ Hán thể thất ngôn bát cú Đường luật. Đây là sự lai tạp cố ý với dụng ý nghệ thuật rõ nét, và tất nhiên phải giỏi chữ nghĩa mới có thể tạo lập được dạng văn bản kiểu này.

Đối lập với kiểu lai tạp Hán-Nôm vừa đề cập, hiện tượng lai tạp trong ngôn ngữ Nôm- Hán trong văn học trung đại khá phổ biến với những đặc điểm khá rõ nét là tiếng Việt có một lượng từ gốc Hán khá lớn. Không kể rất nhiều bài thơ có sự lai tạp, hay nói đúng hơn là sử dụng từ Hán Việt một cách tự nhiên theo những kết hợp thường gặp trong tổ chức ngôn ngữ, thì có một số bài sử dụng từ Hán Việt có những đặc trưng rất riêng, rất điển hình với những sắc thái nghĩa rất rõ nét. Có thể xem đây như là một trường hợp lai tạp ngôn ngữ, tuy không nhằm vào đích là tạo Pidgins:

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
                (Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ)

Ở đây, không kể đến các yếu tố gốc Hán như tạo hoá, cuộc, hồn, thành, lâu đài, cảnh, thì toàn bộ các từ như hí trường, tinh sương, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường... được phân bố ở cuối các câu đã tạo nên những âm vang, sắc màu cổ kính, phảng phất về dĩ vãng rất phù hợp với tính chất hoài niệm về một Thăng Long thành. Tuy các bộ phận từ Hán Việt được xem như là những từ của tiếng Việt, vay mượn từ tiếng Hán và được phát âm theo cách của người Việt, nhưng quá trình sử dụng và trộn mã (ở đây chỉ xác định trộn mã với tư cách là kết hợp thông thường) của các loại phong cách ngôn ngữ là hoàn toàn khác nhau. Xu hướng của những thể loại thơ hoài cổ thường sử dụng từ Hán Việt với mật độ cao, nhưng kiểu Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan là hoàn toàn khác, không phải là sự trộn mã ngẫu nhiên, thuận theo dòng xúc cảm, mà là sự cố ý lai tạp ngôn ngữ được phân bố thành hai khu vực rất rõ trong một câu: dãy thuần Việt và dãy Hán Việt. Hay ở trường hợp Chiều hôm nhớ nhà, sự kết hợp đồng dạng kiểu này cũng diễn ra tương tự:

Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
                (Bà Huyện Thanh Quan)

Sắc thái biểu cảm đặc trưng của từ Hán Việt là mang sắc màu tĩnh tại, bất động gây ấn tượng nhoè về nghĩa, vang về âm, câu thơ trên không cho chúng ta một bức tranh cụ thể của một ông lão đánh cá, của chú bé chăn trâu trong bối cảnh một khu phố xa, một thôn làng hoang vắng...mà chỉ gợi lên những nét hoạ về các ý niệm ngư ông, mục tử với các tiểu cảnh của viễn phố, cô thôn đã tồn tại sẵn, chìm trong trong tiềm thức Đông phương...

Trong kho tàng văn chương Việt Nam, có rất nhiều câu thơ, câu đối thể hiện sự kết hợp lai tạp giữa các yếu tố Việt và Hán. Đó là những hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa khá thú vị. Trong bài Qua đèo ngang, Bà Huyện Thanh Quan đã viết:      

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
(1)

Ở câu này, các yếu tố quốc, gia đồng nghĩa với nước, nhà. Ngoài ra, quốc quốc lại đồng âm với cuốc cuốc (tiếng kêu của con chim cuốc); gia gia đồng âm với da da (một cách gọi khác của chim đa đa). Hay ở câu: Da trắng vỗ bì bạch thì bì bạch ở đây vừa là từ tượng thanh (nếu chỉ xét là một từ thuần Việt) miêu tả bổ sung cho nét nghĩa của vỗ, đồng thời lại có nghĩa là da trắng (nếu xét là từ Hán Việt). Kéo theo câu này là hàng loạt các câu đối lại với tính chất như thế, như: Trời xanh màu thiên thanh, Giếng nhỏ bé tỉnh tinh, Nhà vàng ngồi đàng (đường) hoàng, Tay tơ sờ tí ti...Hay hai câu đối vừa Việt vừa Hán dưới đây có cách tổ chức các đơn vị ngôn ngữ khá rõ trong ý nghĩa lai tạp:     

Bươm bướm đậu cành sen, liên chi hồ điệp
Gà trống mổ hạt thóc, cốc đế hùng kê
(2)

Trong hai câu trên có bốn cặp từ thể hiện hiện tượng đồng nghĩa thuần Việt-Hán Việt: bươm bướm- hồ điệp; cành sen- liên chi; gà trống- hùng kê; thóc- cốc, bên cạnh đó là hiện tượng đa nghĩa ở các từ Hán- Việt: nếu là liên chi (
) nghĩa là liền cành, nếu là liên chi ( ) nghĩa là cành sen; nếu là cốc đế ( ) nghĩa là chim cốc, nếu là cốc đế ( ) nghĩa là già cỗi (3).

Nhìn chung, là sản phẩm của lịch sử, do trước đây, người Việt sử dụng cả hai hình thức ngôn ngữ tiếng Hán (khi viết) và tiếng Việt (khi nói) và sau này có sự ra đời của chữ Nôm, việc lai tạp các yếu tố khác mã trong ngôn ngữ trong cùng một văn bản nghệ thuật đã tạo nên hiện tượng lai tạp ngôn ngữ khá đặc sắc. Hơn nữa, do đặc điểm tiếng Việt vốn có hai loại từ cơ sở là thuần Việt và Hán Việt nên việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tế cũng như nghệ thuật có sự trộn mã một cách tự nhiên, không một chút khiên cưỡng, nếu vận dụng lựa chọn, kết hợp khéo léo sẽ tạo ra những hiệu quả thẩm mỹ cao. Đó là một quá trình lai tạp rất đặc biệt, trở thành sản phẩm trí tuệ của những giai đoạn lịch sử khác nhau.

Sự phát triển và tồn tại của Pidgins liên quan chặt chẽ với những diễn tiến xã hội, gắn liền với những môi trường, bối cảnh và mục đích giao tiếp. Ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XIX đến khoảng những năm 1950 của thế kỷ XX, ngót nghét 80 năm, Pidgins Việt- Pháp đã tồn tại ở Việt Nam(4) cùng với chế độ thực dân. Tiếp theo là 20 năm Pidgins Việt -Anh ở miền Nam Việt Nam cùng với sự tồn tại của chế độ Mỹ Ngụy. Chính sự tồn tại của những hình thức Pidgins này cũng tạo cơ sở cho thể loại thơ ca dân gian phát triển với tính chất trào lộng, trở thành những nét đặc sắc trong mảng thơ ca trào phúng giai đoạn này. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của Pidgins Việt- Pháp, hàng loạt bài thơ trào phúng đã ra đời.

Đặc điểm của loại hình thi ca này là sử dụng cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp trong cùng mạch diễn đạt, cách đọc tiếng Pháp cũng không đúng với âm chuẩn, ép ngữ âm tiếng Pháp nhằm phù hợp với nguyên tắc hiệp vần của thể lục bát. Chẳng hạn:  

Sao toa vội gót trở Ăng-phoong
Bạc bẽo làm chi hỡi đi- đoòng
Chắp cánh bay cao lòng cá-nác
Dừng chân đứng lại phận cô-soong
Sụt sùi moa những nhìn la-pốt
Năn nỉ sừ ơi nỗi lạc-gioòng
Một tiếng ô-voa không kể xiết
Xa người xa cả cán ba-toong.
(5)

Đó không đơn thuần chỉ là lối chơi chữ mang màu sắc hình thức, bài thơ đã thể hiện lối lai tạp đặc trưng. Ngoài cách kết cấu nhịp nhàng, được phát triển từ cơ sở Pidgins Việt- Pháp, nội dung bài thơ mang nội dung xã hội sâu sắc: mỉa mai thói tật ở đời, thật sự có tác động thẩm mỹ đến người đọc; và hình thức vẫn đảm bảo được tính chất đối ngẫu của một bài Đường luật.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, sự phát triển của hiện tượng Pidgins Việt- Pháp đã trở nên mạnh mẽ trước nhu cầu giao tiếp của xã hội. Một bộ phận lao động trong xã hội đã sáng tạo ra một lối “tam thiên tự” mới vận dụng để học tiếng Pháp lúc bấy giờ.

Khi học tiếng Hán, trước đây đã có tam thiên tự với lối đọc có vần điệu nhịp nhàng như: thiên trời, địa đất, tử mất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước... Đến giờ người ta cũng sáng tạo ra lối nói vần vè kiểu này, nhưng bằng thể lục bát, để học nhanh tiếng Pháp với đặc tính là dễ nhớ, lâu quên:Đit mười, oong một, xăng trăm/ Toa ba, huýt tám, xanh năm, min nghìn/ Vạn thời tiếng gọi đit-min... (6)

Đả kích vào những cô gái Việt Nam lấy người Tây, một hiện tượng bị lên án gay gắt vào thời bấy giờ, thơ trào phúng Pidgins Việt- Pháp có rất nhiều bài. Phổ biến vẫn là lối lai tạp ngôn ngữ sử dụng các lối kết hợp theo tập quán của ngữ pháp, của cách tổ chức ngôn ngữ thơ Việt Nam. Có thể kể ra hàng loạt bài hình thành theo lối này (lúc chia xa nhân vật trong bài thơ vẫn vọng tưởng không nguôi thương nhớ đến người xưa, thổn thức trong niềm đơn côi đến chán chường):

Dê-cờ-ri tình thơ uynh-lét
Để cho mình con-nét mông-cơ
Từ khi mình kit-tê-dơ
Bon-nơ cũng lắm, ma-lơ cũng nhiều
...(7)

Hay là:    

Moa kit-tê vu mạch-tớ-nằng
(...) Mặc ai cẩm-lách với a-măng
(8)

Theo quan điểm của David Crystal trong Bách khoa ngôn ngữ học thì trên thế giới có 100 Pidgins và Creoles. Trong đó, Việt Nam có hai Pidgins: một được xây dựng trên cơ sở tiếng Pháp, được dùng rộng rãi ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc Pháp, bây giờ không còn tồn tại nữa; một được xây dựng trên cơ sở tiếng Anh, được sử dụng ở Việt Nam giữa người dân bản địa với các nhân viên người Mỹ, hiện nay cũng không còn tồn tại nữa (9).

Rõ ràng những dẫn chứng qua các tác phẩm văn chương bình dân vừa đề cập là những minh chứng khá thuyết phục cho sự tồn tại của hình thức Pidgins Việt-Pháp. Việc sử dụng khá rộng rãi của hình thức Pidgins này đã làm hình thành nhiều hiện tượng ngôn ngữ thể hiện ở nhiều dạng phong cách ngôn ngữ khác nhau. Điều đặc biệt đó là sự tồn tại của Pidgins trong phong cách ngôn ngữ văn chương, một hiện tượng rất hiếm trong các loại ngôn ngữ khác trên thế giới.

Pidgins với tất cả những đặc trưng của nó thật sự đã trở thành một bộ phận ngôn ngữ mang những yếu tố xã hội rất cao. Sự tồn tại của nó gắn chặt với sự tồn tại của những bối cảnh xã hội, những như cầu bức bách trong quá trình giao tiếp.

Xuất hiện với tư cách là ngôn ngữ bình dân, là sản phẩm của một bộ phận giao tiếp trong xã hội nhưng lại được sử dụng trong ý nghĩa là phương tiện biểu đạt văn chương đã thể hiện rõ khả năng của Pidgins. Điều này cũng cho thấy quá trình tiếp xúc ngôn ngữ trong tiếng Việt. Từ sự kết hợp của các yếu tố thuần Việt (thông qua sự ghi lại của các hình vị Nôm) với các yếu tố tiếng Hán đến sự kết hợp của tiếng Việt (thông qua sự ghi lại của các hình vị la-tinh) với các yếu tố tiếng Pháp đều có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng, với đặc trưng ngôn ngữ của mình, tiếng Việt có khả năng và xu hướng có thể kết hợp với các yếu tố lai tạp rất cao, đặc biệt trong nghệ thuật. Qua đó, cũng phần nào thấy được bức tranh xã hội của Việt Nam vào những giai đoạn lịch sử khác nhau, đặc biệt là tâm hồn của người Việt, trong phạm vi ngôn ngữ nào đều cũng để lại những sản phẩm văn chương thú vị, góp phần làm giàu kho tàng tiếng Việt.

H.T
(178/12-03)

-----------------------
(1) Có tài liệu ghi là con cuốc cuốc... cái da da (H.T).
Câu này dẫn theo PGs Hồ Lê, Ts Lê Trung Hoa, Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt (Thú chơi chữ), Nxb KHXH, Hà Nội, 2002, trang 142.
(2) Dẫn theo PGs Hồ Lê, Ts Lê Trung Hoa, như trên, trang 146.
(3) Liên chi hồ điệp: có thể hiểu theo các nghĩa: Bươm bướm (đậu) cành sen; cành sen, bươm bướm; liên tiếp nhau (nghĩa thoát). Cốc đế hùng kê: có thể hiểu theo các nghĩa: gà trống già cốc đế (khú đế); chim cốc, gà trống.
(4) Theo quan điểm của Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội-những vấn đề cơ bản, Nxb KHXH, 1999, trang 77.
(5) Ăng-phoong (en France): về Pháp; đi-đoòng (dis-donc): vậy, hãy nói đi; cá-nác (canard): con vịt; cô-soong (cochon): con lợn; la-pốt (la poche): cái túi, cái ví; lạc-gioòng (l'argent): tiền bạc; ô-voa (au revoir): tạm biệt; ba-toong (bâton): cây ba-toong.
(6) Đit (dix):10; oong (un):1; xăng (cent): 100; toa (trois): 3; huýt (huit):8; xanh (cinq):5; min (mille): nghìn; đit-min (dix-mille): một vạn.
(7) Dê-cờ-ri (J'écris): tôi viết; uynh-lét (une lettre): một bức thư; con-nét mông-cơ (connaitre mon coeur): hiểu lòng tôi; kit-tê-dơ (đáng lẽ phải là je te quitte): ý là chia tay; Bon-nơ (bonheur): hạnh phúc; ma-lơ (malheur): bất hạnh.
(8) Moa kit-tê vu mạch-tớ-nằng (Moi quitter vous maintenant): bây giờ tôi phải xa anh, đúng ngữ pháp và kết cấu tiếng Pháp là moi, je vous quitte; cẩm lách (camarade): bạn; a-măng (amant): người tình.
(9) Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, sách đã dẫn, trang 76.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.