Một số đặc điểm của thơ Haiku Nhật Bản

11:49 27/05/2008
Trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, thơ haiku giữ một vị trí rất quan trọng. Nó là một viên ngọc quý giá và là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật Bản.

Thơ haiku dung hợp và kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người Nhật nói riêng và người phương Đông nói chung. Chính vì thế mà thơ haiku mang hơi thở của Thiền tông, in đậm dấu ấn của thế giới u huyền, thoát tục, đồng thời chứa đựng trong mình bức tranh thiên nhiên rộng lớn với những âm thanh màu sắc đặc trưng cho bốn mùa, được thể hiện dưới một hình thức ngắn gọn, cô đọng. Thơ haiku gắn liền với tên tuổi của Bashô, Kikaku, Chiyô, Buson, Chôra, lssa, Shiki...

I. Vài nét về sự hình thành thể thơ haiku Nhật Bản
Thơ ca Nhật Bản truyền thống thường dựa trên hình mẫu các câu 5 và 7 âm tiết và tồn tại dưới các hình thức thơ chôka (trường ca), waca (hòa ca) hay còn gọi là tanca (đoản ca), renca (liên ca). Từ thế kỷ XVl đến thế kỷ XlX, một thể thơ mới ra đời thay thế cho thể thơ renca, đó là thể haiku.
Thuật ngữ haiku (đọc theo âm Hán Việt là bài cú hay hài cú) không phải xuất hiện từ thời thịnh hành thể thơ này mà nó được sáng tạo vào năm 1890 theo đề xướng của nhà thơ Shihi (1867-1902) dùng để chỉ những bài thơ ngắn gồm 3 câu, 17 âm tiết đứng độc lập được bố trí theo thứ tự: 5-7-5. Thể thơ này vốn được tách ra từ ba câu khổ đầu của thể renca (phần phát hay còn gọi là hokku) đứng độc lập và phát triển mạnh mẽ dưới thời Edo . Từ đó nó trở thành một thể thơ với tên gọi là haiku hay haikai, hokku.

II. Những đặc điểm về nội dung của thể thơ haiku Nhật Bản
2.1. Thế giới thiên nhiên trong thơ haiku mang nhiều màu sắc rực rỡ, huyền bí và đầy quyến rũ. Đó là bức tranh thiên nhiên không chỉ có trăng, sao, hoa, lá, cỏ, cây mà còn là tiếng chim gù trong ban trưa tĩch mịch, tiếng dế mèn kêu trong đêm, tiếng chim gọi bầy và những áng mây xa, những cơn sóng, những cánh hoa anh đào... Đứng trước biển, trước những chuyển động của đất trời, con người càng ý thức về bản ngã của mình và lắng nghe được bước chuyển của thiên nhiên:
Bể động
Trải ra phía đảo Sađô
Sông ngân hà (Bashô)

Một cánh hoa Asagaô ban mai vô tình rơi xuống giếng cũng đủ làm xao động tâm hồn người thi sĩ:
A! hoa Asagaô
Dây gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên          (Chiyô)

Trong làn nước trong xanh, vào buổi sớm tĩnh lặng, người ta không nỡ làm tan biến đóa hoa Asagaô nhỏ nhoi vương vào dây gàu. Phải chăng tác giả muốn nâng niu, gìn giữ đóa hoa Asagaô vì nó mang tên "gương mặt buổi sớm" hay chính nhà thơ không muốn khấy động những giây phút huyền diệu của một buổi sớm mai. Ở đây hoa và người như hòa làm một hóa thân vào thế giới đầy lung linh huyền ảo và rồi người lấy nước phải lẳng lặng đi sang nhà khác.
Trong thơ haiku hoa anh đào nở rộ trắng muốt một màu vương đầy cả không gian bao la, bồng bềnh trôi in hình trên bầu trời xanh ngắt tượng trưng cho vẻ đẹp của tâm hồn người Nhật:
Hoa anh đào như áng mây xa
Chuông đền Uênô vang vọng
Hay đền Asukasa                    (Bashô)

Và trong không gian mờ ảo đó bỗng vọng về tiếng chuông chùa tạo nên một khung cảnh lung linh say đắm lòng người. Nhà thơ lssa giới thiệu với chúng ta một khung cảnh thiên nhiên rất sống động vào một buổi sáng sớm bên dòng sông:
Bên dòng Sumida
Chú chuột kia uống nước
Mưa mùa xuân pha     (Issa)

Chú chuột bé xíu dường như bị xóa nhòa dưới cơn mưa trắng trời bên dòng sông lênh láng nước. Mưa xuân cứ rơi, nước sông cứ dềnh lên, nhưng chú chuột vẫn ung dung thong thả uống từng ngụm nước mát của mùa xuân đất trời.
2.2. Trong thơ haiku nổi bật yếu tố "mùa". Vì thế người ta ví thơ haiku là tiếng hát của bốn mùa và "mùa" được xem là quí ngữ (Kigo) của thơ haiku. Sự luân chuyển của "mùa" thể hiện nhịp điệu của thế giới thiên nhiên và đời sống con người, và đó là sự vận động của thời gian. Khi cái nóng oi nồng làm tàn lụi những cánh anh đào rực rỡ của mùa xuân qua đi thì cái se lạnh của mùa thu ùa về làm cho màu xanh chuyển sang màu vàng, tiếng chim hót bỗng dừng và rồi những bông tuyết trắng xóa bắt đầu rơi báo hiệu mùa đông đến. Sự xoay vần của tạo hóa trên đất nước đã tạo cho con người Nhật mang những nét tính cách thật đặt biệt.
Mùa xuân được mô tả nhiều nhất trong thơ haiku không chỉ vì tác giả nhắc đến từ "xuân" nhiều mà cảnh sắc mùa xuân được miêu tả gắn với con người. Một bông hoa đại nazma nở e ấp bên hàng dậu cũng gợi lên cảm hứng cho thi sĩ:
Khi nhìn kĩ
Tôi thấy Nazma nở hoa
Bên hàng dậu              (Bashô)

Một tâm hồn bao lần tơi tả đau xót như lssa cũng bao lần hóa làm mưa mùa xuân đã nhìn thấy sự chuyển mùa sang xuân qua các hiện tượng tự nhiên:
Bồn tắm bốc hơi
Và đêm trăng sáng
Mùa xuân đến rồi!       (lssa)

Mùa hạ về với mẫu đơn, diên vĩ, hoa kì,hoa sen với tiếng chim cu hát vang giữa trưa hè oi ả. Nhiều bài thơ haiku miêu tả cảnh sắc mùa hè bằng tiếng cu gáy:
Ôi chim cu
Bay lượn và ca hát
Bận rộn xiết bao (Bashô)
Hoặc tiếng ve ran:
Ôi tiếng ve
Thấm xuyên vào đá
Trong cõi quạnh hiu    (Bashô)

Trong thơ haiku, mùa thu với những đêm dài thanh vắng, tiếng châu chấu, tiếng dế kêu trong đêm và những ánh trăng suông buồn bã:
Trăng thu
Suốt đêm tôi dạo
Loanh quanh bên hồ   (Bashô)

Một bức tranh mùa thu ban đêm thật buồn và hiu quạnh, có gió, có mưa, có tiếng xào xạc, tí tách trong vườn chuối được chấm phá như một bức tranh thủy mặc:
Cây chuối trong gió thu
Ta nghe giọt mưa rơi tí tách
Rơi vào bể đêm                       (Bashô)

Đồng hành với mùa đông là những cơn rét buốt, những bông tuyết rơi và không gian ngập trong tuyết phủ và lạnh giá, cây cối trơ trọi, khẳng khiu. Nhà thơ Bashô mô tả cảnh mùa đông bằng những hình ảnh thật độc đáo:
Đến đây xem để thấy
Một chiếc lá cô đơn
Trên cành Kiri ấy
Và đây là cảnh vườn chùa mùa đông trống vắng:
Những chiếc lá rơi
Dường như trăm tuổi
Giữa ngôi vườn chùa (Bashô)

2.3. Trong thơ haiku, dấu ấn Thiền tông để lại khá đậm nét trong cách nhìn và thể hiện của các nhà thơ. Theo quan niệm của Thiền tông, mọi sinh linh trên cõi đời này đều bình đẳng như nhau. Vì thế, thơ haiku thường nói đến các sinh vật và hiện tượng tự nhiên (con sâu, con bọ, con chuột...) với một sự ưu ái và tự nhiên. Thi sĩ Bashô đã mô tả một cảnh ban mai có tuyết, có cánh quạ ô:
Con quạ ô
Sáng mai trong tuyết
Đẹp không ngờ
Ở đây, "con quạ" và "tuyết" bình đẳng với nhau tạo nên một bức tranh "đẹp không ngờ". Tuyết trắng đẹp nhờ có chú quạ đen làm vật tương phản và ngược lại chú quạ được tôn thêm màu đen mượt mà, óng ả nhờ tuyết trắng làm nền. Nhà thơ phát hiện ra cái quy luật tự nhiên của tạo hóa, sự phụ thuộc và bình đẳng với nhau của vạn vật, đó chính là chân lí của cuộc sống. Nhà thơ lssa mô tả hình ảnh con bướm và em bé trong vườn hoa:
Trong vườn cánh bướm
Đứa bé bò theo, bướm bay
Đứa bé bò theo, bướm bay

Hình ảnh đứa bé và con bướm song hành vận động vừa mang tính ngẫu nhiên vừa mang tính tất nhiên. Ở đây, cánh bướm tượng trưng cho cái đẹp của thế giới nhiều màu sắc mà con người vươn tới. Hai câu thơ lặp lại vừa thể hiện sự thất vọng của đứa bé vừa nói lên sự vô thường của cuộc đời.
Từ một câu hỏi trong kinh của nhà Phật "Một đóa hoa rơi có thể trở lại trên cành không?", Moritake viết nên một bài thơ haiku:
Hoa rụng cành
Nơi trở lại - khi tôi nhận ra
Thì ra đàn bướm (Moritake)

Là một nhà sư, Moritake thấu hiểu sâu sắc cái vô thường và bản ngã con người của triết lý nhà Phật. Vì thế, câu cuối bài thơ haiku, tác giả hạ câu "thì ra đàn bướm" tạo ra một sự bất ngờ làm nên một tầng nghĩa mới. Về điều này chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Mãn Giác Thiền sư (Việt ): "Chớ thấy xuân tàn hoa rụng hết. Hôm qua sân trước nở nhành mai".

III. Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ haiku
3.1. Thơ haiku có một cấu trúc nghệ thuật đặc sắc. Một bài thơ haiku rất ngắn gồm 17 âm tiết và được xếp 3 dòng theo thứ tự 5-7-5: (theo âm tiếng Nhật)
Shichi Kei wa (5 âm tiết) Hồ Ômi tám cảnh
Kiri ni Kacurete (7 âm tiết) Sương mù dấu bảy rồi
Mii no KKane (5 âm tiết) Còn chuông đền Miithôi (Bashô)

Do cấu trúc chặt chẽ như trên cho nên đòi hỏi người làm thơ haiku phải biết "kiệm từ", chọn những từ và ý nào thật đắt, cô đọng, ẩn chứa nhiều ý nghĩa để đưa vào thơ. Ở đây, câu mở đầu có tính chất giới thiệu, gợi cảnh, gợi tình để mở ra ý cho hai câu sau. Các sự việc được phản ánh trong thơ haiku có khi tưởng như rời rạc, không liên kết với nhau, nhưng thực ra giữa chúng có mối liên kết chặt chẽ từ bên trong. Từ "sự tinh giản của tâm hồn" (A.Tagor), thơ haiku đã tạo nên sức mạnh nghệ thuật to lớn. Chính vì thế, nhà nghiên cứu phê bình Roland Barther (Pháp) nhận xét: "Sự ngắn gọn của haiku không phải là vấn đề hình thức. Haiku không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn mà là sự tin vắn tắt tìm ra được hình thức vừa vặn cho mình". [ I.54 ]
3.2. Sử dụng nghệ thuật tương phản, đối lập cũng là đặc trưng của thơ haiku. Đó là sự đối lập tương phản giữa cái vô hạn - hữu hạn, giữa không - có, giữa cái lớn - bé, xa - gần, con người - vũ trụ... Trong bài thơ "Ao cũ", Bashô viết:
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao

Ở đây có sự tương phản đối lập giữa cái trường cửu của con người (ao cũ) và cái nhất thời (hình ảnh con ếch nhảy vô). Hình ảnh "ao cũ" thể hiện tính vĩnh cửu của không gian và thời gian, hình ảnh con ếch nói lên quan hệ biến dạng của sự vật trong sinh tồn. Nhờ cú nhảy của con ếch mà xao động cả mặt ao đánh thức sự yên tĩnh của sự vật, đánh thức cả không gian vũ trụ. Nhận xét về bài thơ này, nhà nghiên cứu Nhật Bản D.T Suzuki cho rằng: "Cái Ao cũ của Bashô nằm bên bờ kia vĩnh cửu nơi của thời gian vô thời gian. Đó là nơi vạn vật sinh ra là nguồn suối của thế giới sai biệt này nhưng trong chính nó không hề có mảy may sai biệt nào". Và tiếng vang của nước do con ếch của Bashô khuấy động lên vẫn còn vang mãi cho đến tận bây giờ. [I.29]
Ở bài thơ "Con quạ", thi sĩ Bashô mô tả một cảnh đêm thu thật buồn, cô liêu:
Con quạ về làm tổ
Trên một cành cây khô
Đêm thu
Trong bài thơ này ba sự vật: con quạ, cành cây khôđêm thu có sự đối lập với nhau. Nếu "con quạ", "cành cây khô" là cái hữu hạn thì đối lập với nó là cái vô hạn (đêm thu). Sự tương phản của ba sự vật tạo nên một khung cảnh thật ảm đạm cô tịch.
3.3. Giới thiệu đề tài để tạo ra sự liên tưởng đối với người đọc cũng là một nghệ thuật của thơ haiku. Các bài thơ haiku thường chỉ là những nét chấm phá, gợi mở để độc giả vận dụng trí tưởng tượng nhằm liên tưởng đến các sự vật và hiện tượng khác. Vì thế, người ta cho rằng thơ haiku giống như những bức tranh thủy mặc của người Nhật. Nó chứa đựng một khoảng trống, một khoảng chân không nhưng tràn trề sự sinh động của cuộc sống. Nhà thơ chỉ phác họa vài dòng về thiên nhiên:
Lá thủy tiên
Dưới làn tuyết mới
Nhè nhẹ trĩu mình (Bashô)

Vẽ lên một chiếc lá thủy tiên thôi mà ta cảm thấy được cả đời sống của cỏ cây, sự phân định của các mùa... Điều này có được là nhờ sự liên tưởng của người đọc để lấp đầy chỗ trống mà nhà thơ bỏ ngỏ. Chính vì thế mà nhà thơ Tagor (Ấn Độ) nhận xét, trong thơ haiku "Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước nhanh sang một bên" và "lý do khiến nhà thơ rút nhanh chóng thế vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn" [I.56,57]
Cho đến ngày nay, thơ haiku Nhật Bản vẫn lôi cuốn người đọc nhiều nước trên thế giới bởi nội dung phong phú và nghệ thuật đặc sắc của nó. Đồng thời thể thơ này vẫn được nhiều người bắt chước sáng tác, nhưng không ai có thể vượt qua được thơ haiku Nhật Bản với những thi hào nổi tiếng. Thơ haiku là sản phẩm tinh thần riêng của người Nhật là niềm tự hào của đất nước Phù Tang, của xứ sở hoa anh đào.

HÀ VĂN LƯỠNG
(nguồn: TCSH số 150 - 08 - 2001)

-------------------------------------------------------------
1. Nhật Chiêu: Bashô và thơ haiku - NXB Văn học - Trường ĐHTH Thành phố HCM, 1994.
2. Nhật Chiêu: Thơ ca Nhật Bản - NXB Giáo dục, Hà Nội 1998.
3. N.I.Kônrat: Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại - NXB Đà Nẵng, 1999.
4. Hữu Ngọc: Dạo chơi vườn văn Nhật Bản NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Phê bình thi pháp học đã mang đến sức sống mới cho phê bình văn học Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thi pháp học là phương pháp minh chứng cho thành quả thay đổi hệ hình nghiên cứu trong phê bình văn học.

  • Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.

  • HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

  • PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao”                                       (Martin Heidegger)

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.

  • LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.

  • Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.

  • ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH             Phóng sự điều tra

  • THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.

  • Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.

  • Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.

  • Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.

  • TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.

  • AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.

  • Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)

  • HOÀNG NGỌC HIẾN    (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.