Một mất mát lớn của bộ môn ca Huế

14:43 05/09/2008
PHAN THUẬN THẢOVào lúc 5 giờ sáng ngày 31/7/2002, nghệ nhân Nguyễn Kế, một danh cầm của cố đô, thành viên xuất sắc của bộ môn Ca Huế đã vĩnh viễn từ giã cõi đời.

Một sự ra đi thật thanh thản, nhẹ nhàng, nhưng để lại biết bao tiếc thương cho bạn bè và người mộ điệu. Thế là từ đây, bộ môn Ca Huế mất đi một thành viên ưu tú, một trong những nghệ nhân nắm giữ những tinh tuý của loại hình nghệ thuật bác học này.
Nghệ nhân Nguyễn Kế sinh năm 1919 tại làng Kim Đôi, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Từ thời niên thiếu, ông đã học đàn với một số thầy giỏi trong làng và đã sớm nổi danh bởi tiếng đàn chín chắn, giàu tình cảm. Khi chuyển lên sống ở Huế năm 1947, ông lại có điều kiện tiếp xúc với các danh cầm tại đây như các ông Ngũ Đại, Bát Lư, Nghè Toản, Vĩnh Phan, Bửu Lộc... cùng các danh ca của đất Thần kinh như cô Thông Thắng, cô Nhơn, cô Bích Liễu, Tuyết Hương v.v... Ông đã được cụ Ngũ Đại (tức Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh Trân, con vua Thành Thái), một tay đàn cự phách của đất Thần kinh, trực tiếp truyền lại các bài bản Ca Huế cùng những ngón đàn tuyệt kỹ của mình. Ông chuyên chú luyện tập và chơi giỏi nhiều nhạc cụ như Tỳ Bà, Nguyệt, Bầu, Tam, Bồng, nhưng trong đó, đặc biệt nổi tiếng với ngón đàn Tỳ Bà. Bấy giờ tuy triều đình Huế không còn, nhưng giới quý tộc vẫn duy trì được phần nào lối sống, cốt cách xưa với các thú vui cầm kỳ thi họa, và vì thế, bộ môn Ca Huế vẫn đang còn trong thời kỳ hoàng kim. Nghệ nhân Nguyễn Kế luôn được mời tham dự các cuộc "chơi" Ca Huế diễn ra thường xuyên trên các con đò hay tại dinh phủ của các danh sĩ trí thức như các cụ Ưng Bình, Ưng Thuyên, Nguyễn Khoa Vy, Nguyễn Khoa Nghi, cụ Thượng Hy... Thỉnh thoảng, ông còn được mời vào Đại Nội chơi nhạc hầu bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) bấy giờ sống tại cung Diên Thọ. Năm 1961, nghệ nhân Nguyễn Kế cùng một số nghệ sĩ khác đại diện cho cổ nhạc Huế tham gia Hội chợ Thị Nghè tại Sài Gòn. Cũng trong dịp này, ông được mời vào chơi nhạc tại Dinh Độc Lập và hoà đàn cùng Ban Ca Huế Hương Bình (do cụ Ngũ Đại làm trưởng ban) trên đài phát thanh Sài Gòn.
Trong thời hưng thịnh của Ca Huế, ông thường hoà đàn cùng các nghệ sĩ nổi tiếng trong Ca Huế như Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Trịnh Chức, Trần Kích, cùng các danh ca như cô Nhơn, Bích Liễu, Thu Tâm, Tuyết Hương, Minh Mẫn, Vân Phi, Thanh Hương... Những người bạn tâm giao này thường gọi ông là "quyển tự vị", tức là cuốn tự điển sống về Ca Huế. Suốt một thời gian dài tham gia Cổ nhạc của Đài Phát thanh Huế, tiếng đàn của nghệ nhân Nguyễn Kế đã trở nên thân thuộc với những người mộ điệu chân thành mà khó tính của vùng đất đế đô, cái nôi của nghệ thuật Ca Huế. Tiếng đàn của ông hướng sâu vào nội tâm, mượt mà, tình cảm mà phóng khoáng, thanh cao như chính nền nghệ thuật bác học ấy. Tuy vậy, người nghe vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên trước tài biến hoá ngòn đàn của ông. Khách tri âm thường bảo rằng ông chơi đàn rất "ngẳng"". Cái "ngẳng" đó thể hiện ở cách thả những "chữ" đàn lạ, độc đáo, ở cách bỏ những âm hình tiết tấu lơ lửng, chơi vơi bên ngoài khuôn nhịp, tạo nên những hiệu quả đầy bất ngờ, thú vị đối với người nghe. Có thể nói, khả năng ứng tác của ông đã đạt đến độ điêu luyện của một bậc thầy. Bên cạnh Ca Huế, ông còn thâm nhập vào các lĩnh vực khác như nhạc cung đình, nhạc Phật giáo và nắm bắt được hầu như toàn bộ thần thái của chúng.
Với một kho kiến thức sâu rộng về âm nhạc truyền thống Huế, nghệ nhân Nguyễn Kế đã có những đóng góp không nhỏ trong việc phục hồi và bảo tồn vốn cổ ở vùng đất cố đô. Ông luôn là một thầy giáo tận tâm, người có công đào tạo, rèn luyện bao thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ cho nền cổ nhạc Huế. Ngay từ những ngày đầu thành lập Trường Quốc gia Âm nhạc Huế năm 1962 cho đến những năm gần đây, ông đã tham gia giảng dạy, đào tạo bao thế hệ học trò. Chính các nghệ nhân lão thành của bộ môn Ca Huế hiện nay như Minh Mẫn, Thanh Hương, Vân Phi, Thanh Tâm, Diệu Liên... đều đã trải qua nhiều giờ học với ông, chịu sự uốn nắn, chỉ bảo của ông và tất cả đều tôn ông làm bậc thầy. Ngón đàn điêu luyện của ông đã được truyền cho thế hệ học trò đầu tiên là nghệ sĩ Tuyết Mại (người Quảng Ngãi), nhưng không may, người học trò nay đã qua đời quá sớm mà chưa kịp truyền nghề lại cho hậu thế. Thế hệ học trò thứ hai của ông là các nghệ sĩ Vĩnh Tuấn, Tôn Nữ Lệ Hoa, Nguyễn Ngọc Hùng. Người học trò xuất sắc, cũng chính là con trai của ông, anh Nguyễn Đình Vân, giờ đây là một nghệ nhân đầy tài năng của làng cổ nhạc Huế. Khi khoá Nhã nhạc khai giảng vào năm 1996, dù tuổi đã cao, ông vẫn tham gia đào tạo các sinh viên Nhã nhạc, những người gánh vác trọng trách bảo tồn nền âm nhạc cung đình Huế. Người viết bài này, một người học Ca Huế "amateur", cũng đã được thầy tận tâm truyền dạy cho một số bí quyết nghề nghiệp.
Trong quá trình truyền nghề, nghệ nhân Nguyễn Kế không hề tỏ ra là một người thầy nệ cổ, hay áp đặt đối với môn sinh mà ngược lại, ông khuyên học trò mình phải biết thức thời, phải nắm bắt được các kiến thức mới của thời đại mới, song cũng phải cố gắng gìn giữ những nét tinh tuý của nghệ thuật cổ điển, vốn quý của dân tộc. Ông luôn biểu lộ một tâm hồn lớn, một tình cảm lớn và chân thành đối với nghệ thuật truyền thống dân tộc, với bạn hữu, môn sinh, và người đời...
Những ngày cuối đời, trông thầy thật thanh thản. Dường như đã chiêm nghiệm hết mọi lẽ đời, mọi triết lý sống của con người, người nghệ sĩ dân gian ấy vững tâm đi cho trọn kiếp người, làm tròn sứ mệnh của một nghệ sĩ chân chính và tài năng. Thầy ra đi, môn sinh hụt hẫng vì mất đi một trụ cột vững vàng, những người đồng điệu tri âm cảm thấy cô đơn hơn trên con đường nghệ thuật khi vắng bóng bạn vàng. Trong tiếc thương ngậm ngùi, đâu đây văng vẳng lời ca tiễn đưa một tâm hồn lớn, một tài năng lớn của nghệ thuật Ca Huế đi vào cõi bất diệt:
            Ôi! trong cuộc phù sinh, chi rồi cũng tại trời xanh.
            Đi tìm mộng xinh xinh, để khuây tâm tình.
                                   
(Nam Ai, lời Vu Hương)
Huế, 2/8/2002
                                                                                     P.T.T

(nguồn: TCSH số 164 - 10 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Hưởng ứng cuộc vận động sáng tác Văn học Nghệ thuật hướng về thiên tai với chủ đề “Nguyện cầu cho nạn nhân động đất tại Nhật Bản” do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức.

  • VIỆT ĐỨCCâu trả lời đầu tiên vẫn thuộc về môi trường sinh hoạt âm nhạc. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đêm có đến 50 tụ điểm ca nhạc hoạt động với cơn sốt ca sỹ leo thang đến chóng mặt.

  • Dương Bích HàCũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNgày xưa, xã hội Việt Nam thực hiện nguyên tắc “phụ truyền tử kế” (cha truyền con nối), cho nên ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiếu (sinh 1879), người làng Dã Lê chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lúc mới lên mười tuổi, đã được cố tôi (lính trong đội Nhã nhạc Nam triều) đem vào Đại nội học Nhạc cung đình (Musique de Cour).

  • PHAN THUẬN THẢONhã nhạc là loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các cuộc tế, lễ của các triều đình quân chủ ở Việt Nam và một số nước khu vực Đông Á. Trong các cuộc triều hội, cúng tế, âm nhạc luôn theo suốt quy trình của buổi lễ, từ lúc mở đầu cho đến hồi kết thúc. Nó tham gia vào từng tiết lễ, là một thành tố không thể thiếu của cuộc lễ, đồng thời, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thế giới thần linh. Loại hình âm nhạc này được các triều đại quân chủ hết sức coi trọng, được phát triển thành một thứ quốc nhạc và là một trong những biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự vững bền của triều đại.

  • THÂN VĂN1. Phương thức liên kết về bài bản.Đặc điểm chung nhất của hệ thống bài bản hòa tấu nhạc cung đình thường là ngắn gọn, gắn liền và phù hợp với các ca chương trong mỗi nghi thức tế lễ. Những nghi thức này được tiến hành theo một trật tự trang trọng và nghiêm ngặt, nên mỗi bài bản ca chương và âm nhạc buộc phải trình tấu đúng với thời gian cho phép của từng nghi thức. Những bài bản này đương nhiên hoàn toàn độc lập về nội dung, nhưng do nằm trong một trật tự trình tấu nối tiếp liên tục, nên ngẫu nhiên đã hình thành các thể loại liên hoàn khúc khác nhau. Trong đó, độ dài, ngắn của mỗi liên hoàn khúc, tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của cuộc lễ, tuỳ thuộc vào số lượt nghi thức và số ca chương mà cuộc lễ quy định.

  • YAMAGUTI OSAMUTháng Giêng năm 1994, trong lúc đang còn ngất ngây hương vị Tết, thì đột nhiên điện thoại và fax từ Paris đến tới tấp. Đó là vì UNESCO đã nhận lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam để mở một Hội nghị Quốc tế thảo luận về vấn đề nên làm gì và cái gì có thể làm được để bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá vô hình của Việt Nam, vì vậy họ muốn mời tôi tham gia hội nghị và đưa ra đề nghị cụ thể. Ông Tokumaru Yosihiko (giáo sư của Đại học Nữ Ochanomizu, lúc đó còn là Trưởng khoa của Khoa Văn hoá- Giáo dục) cũng nhận được lời mời như vậy, nên tôi đã liên lạc với ông và cả hai quyết định nhận lời mời này.

  • VIỆT HÙNGCuộc toạ đàm với chủ đề Sự cần thiết phải thành lập nhạc viện ở Huế vừa diễn ra vào ngày 10/3/2004. Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của Trại sáng tác khí nhạc dân tộc và phê bình lý luận âm nhạc, do Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam Thừa Thiên Huế phối hợp với Trường Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức từ 9/3 đến 17/3/2004.

  • THÂN VĂNSau hơn 2 tháng phát động và 9 ngày chính thức dự trại (từ ngày 09 đến 17/3/2004), với 14 tác phẩm khí nhạc dân tộc và 5 tác phẩm lý luận phê bình âm nhạc của 17 nhạc sĩ có mặt tham dự trại. Lễ bế mạc chiều ngày 17/3/2004 Trại sáng tác khí nhạc dân tộc & lý luận phê bình âm nhạc tại Huế đã gây được ấn tượng tốt đẹp và những tín hiệu đáng mừng trong lòng nhân dân Cố Đô. Điều đáng nói là các nhạc sĩ của Hà Nội, Huế và TP.Hồ Chí Minh đã gặp nhau từ một ý tưởng sáng tạo chủ đạo là nhằm tôn vinh và phát huy các giá trị của di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu ở Huế, góp phần định hướng cho mô hình và mục tiêu đào tạo của Nhạc viện Huế trong tương lai.

  • TRẦN VĂN KHÊNhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình. Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc Cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình. Nhạc Cung đình Huế là một bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch sử, nghệ thuật rất cao.

  • THÁI CÔNG NGUYÊNMột nhà văn nước ngoài khi đến thăm Huế đã nói: “Huế là một bảo tàng kỳ lạ chứa đựng trong lòng mình những kho tàng vô giá, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam”. Đúng vậy, bên cạnh kho tàng di sản văn hóa kiến trúc đồ sộ có giá trị tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm di sản văn hóa tinh thần phong phú, một vùng văn hóa Phú Xuân đặc sắc “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng.

  • PHÙNG PHUNgày 07 tháng 11 năm 2003, ông Koichiro Matsuura, Tổng Giám đốc UNESCO đã chính thức công bố trong một buổi lễ long trọng nhân kỳ họp toàn thể lần thứ 32 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris: UNESCO đã ghi tên 28 Kiệt tác vào Danh mục Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.

  • LTS: Đại hội khoá II (nhiệm kỳ 2003 - 2008) của Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam Thừa Thiên Huế vừa diễn ra vào trung tuần tháng 9. Nhạc sỹ Hồng Đăng, Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, thay mặt cho BCH Hội Nhạc sỹ Việt Nam vào tham gia chỉ đạo Đại hội. Tại Đại hội, nhiều tham luận, ý kiến phát biểu của các nhạc sỹ đã thể hiện được sự trăn trở về thực trạng và hướng phát triển của nghệ thuật âm nhạc đương đại Huế. Sông Hương xin trích đăng một số ý kiến đã trình bày tại đại hội.

  • LÂM TÔ LỘCĐại tá - nhạc sĩ Đức Tùng, sinh năm 1926 tại Huế đẹp và thơ, đã mãi mãi xa quê: Ông mất ngày 25/01/2003. Ông viết ca khúc từ trước Cách mạng tháng Tám như Kỷ niệm ngày hè, Bên trời xa, Dòng Dịch thủy, Dưới ánh trăng mơ. Ông đã từng biểu diễn ca nhạc tại nhà hát Accueil, là cây Accordéon cầm chịch của ban nhạc gia đình ở phố Hàng Bè.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ Năm nay (2003), nhạc sĩ Trần Hữu Pháp (NSTHP) “mới” tròn 70 tuổi, nhưng dễ đã mấy chục năm, sau khi nhạc sĩ Trần Hoàn rời Cố đô ra Hà Nội nhận các trọng trách, NSTHP nghiễm nhiên ngồi “chiếu trên”, là “già làng” của giới âm nhạc Thừa Thiên Huế. Kể cũng phải; từ bốn mươi năm trước, khi hàng triệu thiếu nhi miền Bắc đội mũ rơm dắt lá nguỵ trang đến trường, miệng líu lo ca bài hát ông vừa sáng tác “Tiếp đạn nào / Tiếp đạn chuyền tay trên chiến hào / Cho chú dân quân bắn nhào phản lực...” thì không ít các nhạc sĩ nổi danh bây giờ có lẽ còn... bú mẹ! Vậy mà trước mắt tôi (và chắc là với không ít người nữa) - nói ông anh đừng giận nhé - vị nhạc sĩ lão làng này lại rất...trẻ con!

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Người ta thường nhắc tới Thái Quý như nhắc tới một con người giàu tình cảm, dễ khóc, dễ cười, dễ nóng giận và cũng rất vị tha. Nói đến khuyết điểm của mình trong cuộc họp, anh khóc đã đành, nhưng khi chỉ trích khuyết điểm của đồng đội, anh cũng khóc...

  • NGUYỄN THANH TÚNăm ngoái, tôi tình cờ gặp nhạc sĩ Thái Quý khi ông đang bận rộn chỉ đạo "đoàn thành phố Huế" trước giờ ra sân khấu tham gia hội diễn ca múa nhạc công - nông - binh - trí thức do tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tại nhà hát Trung tâm Văn hoá.

  • VĨNH PHÚCNếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

  • VĂN THU BÍCHTừ bao đời nay, tình yêu Huế vẫn mãi chìm sâu trong lòng những người con xứ Huế, dù đang sống trên đất Huế hoặc đã biền biệt xa xứ và Huế mộng mơ cũng len nhẹ vào hồn du khách khi đến thăm vùng đất thần kinh này.

  • TRẦN NGỌC LINHBạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô?Trước khi tôi vào Huế, chị tôi dặn: “Vào muốn gặp bà Minh Mẫn cứ đến đường Nhật Lệ mà hỏi”. Theo cách nhớ đường của một người viễn khách từ xa đến thì đến phố đó cứ thấy đầu ngõ nào có một giàn hoa tử đằng với những dây hoa buông thõng chấm xuống nền đất vỉa hè thì đó chính là lối rẽ vào ngõ nhà danh ca Minh Mẫn.