Một lối viết cực kỳ xảo trá

15:10 02/06/2008
LTS: Sau khi Sông Hương đăng bài “Khủng hoảng ngay trong nhận thức và niềm tin đi tìm lối thoát cuộc khủng hoảng văn học” của nhà văn Nguyễn Dương Côn, chúng tôi nhận được ý kiến “phản biện” của 2 nhà văn Phương Lựu và Trần Thanh Đạm.

Thực chất đây là một cuộc tranh luận về quan niệm và học thuật. Ngoài bài viết, nhà văn Phương Lựu và nhà văn Trần Thanh Đạm còn có thư riêng kèm theo đề nghị Toà soạn thực hiện đúng luật báo chí, in nguyên văn, giữ lại bản gốc để đối chiếu khi cần. Sông Hương xin tôn trọng điều này!
Mặc dù cả 2 bài trao đổi ấy đã được Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam in trước nhưng Sông Hương là nơi “đánh trống” nên cũng không thể “bỏ dùi”. Mặt khác Sông Hương là tờ nguyệt san, ra chậm hơn, có độc giả riêng nên chúng tôi vẫn phải “nối mạng”.
Vấn đề văn học ngày nay, trước thế giới đồ vật, trước nền văn minh kỷ trị có khủng hoảng thật hay không dù đã được một số học giả trên thế giới “chiếu kiến” nhưng vẫn còn “tù mù”.
Sông Hương rất mong bạn đọc, bạn viết xa gần tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề này với tinh thần thẳng thắn, trung thực, lịch lãm và lịch thiệp.
                                                SH

           

Đó là lối viết trong bài Khủng hoảng ngay trong nhận thức và niềm tin đi tìm lối thoát cuộc khủng hoảng văn học (Sông Hương số tháng 6/2001) của ông Nguyễn Dương Côn. Bài báo Khủng hoảng. .. này ông Côn công kích hai người, hiển nhiên tôi chỉ phản bác lại những gì liên quan đến mình, nghĩa là cũng phải kể cả những gì ông Côn nói đến "hai ông", vì trong đó cũng có phần của tôi! Tôi cũng chỉ phản bác sơ bộ (sẽ tiếp tục khi cần), phải vạch trần ngay lập tức những gì xảo trá then chốt của ông Côn: Xuyên tạc một cách trắng trợn một bài báo nhỏ thông thường, thành bài tham luận "hân hoan" trên diễn đàn Đại hội Nhà văn; Bịa đặt không hề có chút căn cứ chuyện tôi bàn bạc và đề xuất lối thoát cho cuộc tổng khủng hoảng của văn học trên quy mô toàn thế giới; Đánh tráo một cách lố bịch khái niệm ngôn ngữ vốn chỉ sử dụng trên bình diện chất liệu; Xảo trá đến mức phải huy động cả những kiến thức sống sượng của mình v.v... Nào xin được bắt đầu:
1) Trước hết, xin mời ông Côn trả lời ngay cho mọi người được biết vì cơn cớ gì mà ông cố tình xuyên tạc bài báo nhỏ Văn học, lo mà không lo trước nghệ thuật nghe nhìn của tôi thành tham luận... hân hoan "trên diễn đàn có vị trí lịch sử của Đại hội Nhà văn lần thứ VI... Trong tham luận, Phương Lựu đã trình bày quan niệm và luận lý của mình thắm đượm một trạng thái tinh thần hân hoan với tầm vóc và không gian động viên, an ủi cao cả" (tr. 65,66)? Bài báo của tôi đăng trên Văn nghệ số 13/2000, ra ngày 25/3, phải sau đó non một tháng nữa vào ngày 17/4 Đại hội Nhà văn mới khai mạc! Bài Khủng hoảng... của ông, được viết cách đây tròn một năm, nghĩa là vào lúc mọi việc còn nóng hồi, đâu phải lâu ly mơ hồ gì cho cam? Và cho dù ông mới chỉ đọc qua loa bài báo của tôi một lần thôi, rồi cứ thế mà phán, thì chí ít ông cũng phải thấy nó được nằm chung với mấy bài báo nhỏ khác dưới hàng tít lớn đỏ chói đập vào mắt ông: Tiến tới Đại hội Nhà văn... Còn hô Tiến tới nghĩa là Chưa tới, làm sao mà tham luận trên diễn đàn được hả ông Côn? Hay là ông suy tưởng, biết đâu đăng báo rồi vẫn cứ đọc tham luận như thường? Xin hiểu cho, tôi rất kính trọng các văn hữu, không bao giờ dám bắt họ nghe ngắm đến những hai lần trước dòng suối ngôn từ thô nông của mình! Ông nên tin đi, tôi tuy vậy chứ mà nhát lắm; trừ phát biểu nhì nhằng vài ba ý kiến ở các "tiểu hội" cơ sở, chứ chưa hề tham luận trong các đại hội bao giờ.! Còn như nói hân hoan, thì quả là ông có một cảm xúc ngôn từ rất đặc biệt! Bài viết của tôi, ngay tiêu đề cũng đã toàn lolo, rồi trong bài còn nói rõ hơn: "Không lo là không lo ngại, lo sợ, lo buồn, chứ phải lo tính trước, lo nghĩ xa! Tất nhiên không cần phải nhắc đến nỗi lo muôn thuở, là làm sao phải viết cho hay..." Tôi hân hoan cái nỗi gì? Tất nhiên tôi cũng không bi quan gì cả. Tôi bình thường, ông ạ!
Tất nhiên chuyện này nếu cô lập ra mà nhìn, thì cũng không nên lấy làm điều, nhưng với ông Côn thì dứt khoát phải nêu ra. Bởi vì trước hết, qua bài Khủng hoảng..., thấy ông quả là người sính bàn những chuyện cao xa, nào quy mô thế giới, nào vũ trụ, hoặc siêu hình tế vi trừu tượng trong bộ não người..., nhưng thử hỏi ai còn tin ông, một khi những sự việc trong nước, trước mắt còn nóng hổi, lại rõ ràng trên giấy trắng mực đen, mà ông còn cố tình xuyên tạc nữa là! Nếu ông nói không cố ý, thì sự gian trá của ông đã thâm căn cố đế, biến thành một bản năng trong vô thức, nó cho phép ông thấy cái gì loáng thoáng là cứ nói bừa, thoải mái không sao cả. Nếu ông lại cho chưa đến nỗi như thế, thì thôi, xin được ghé tai hỏi nhỏ, vậy chứ ông tưởng tượng ra chuyện tham luận hân hoan này để làm gì vậy? Nó có quá mức cần thiết cho ông như không khí để thở không?
2) Xin được tiếp tục, bây giờ hỏi thẳng ông Côn đã căn cứ vào câu nào, chữ nào, ý nào, ở đâu, để giả vờ suy tôn tôi "đã chính thức là những người đầu tiên khởi xướng cho lịch sử của CÔNG CUỘC QUAN TÂM... và ĐỀ XUẤT ĐƯỜNG LỐI CƯ XỬ với tình trạng KHỦNG HOẢNG CỦA VĂN HỌC TRÊN QUY MÔ TOÀN THẾ GIỚI, Ở NƯỚC TA" (tr.66)? Mặc dù cũng có chút hơi bị sung sướng trước lối đại ngôn mà đại lủng củng này, nhưng xin trả lại hết, ông Côn thu lại dùm cho! Nguyên do bài báo của tôi vẻn vẹn chỉ thế này thôi: Mặc dù đã chính thức "trả nợ" hưởng ứng Đại hội bên Nhà văn rồi, nhưng Văn nghệ lại vẫn yêu mến theo kiểu thúc bài, tôi bỗng nhớ lại một số văn hữu và độc giả có hơi lo về sự "lấn át" của nghệ thuật nghe nhìn, và đành phải góp thêm một tiếng nói nhỏ, tuy cũng là đầy đủ cả hai mặt. .. Lo, mà không lo!... Phải ngắn gọn, chỉ tiếp cận vấn đề từ mặt CHẤT LIÊU, nội dung bài báo của tôi có thể tóm gọn trong một câu là hết sạch: Không nên nói chuyện hơn thua, trong gia đình nghệ thuật, nghệ thuật nghe nhìn có chỗ mạnh, nhưng văn học cũng có nhiều chỗ mạnh, tuy vậỵ vẫn có thể học tập thêm nghệ thuật nghe nhìn! Một cột báo, ba đoạn chính, nói ba ý, chấm hết! Làm sao mà có thể khởi xướng cho lịch sử công cuộc quan tâmđề xuất đường lối cư xử cho cuộc tổng khủng hoảng của văn học trên quy mô toàn thế giới, nghĩa là cả ở nước ta được?
Hay là ông Côn không bình thường, tưởng nhầm mình là người khác đó chăng? Quả vậy, chính ông mới nói rành rọt: "Không chỉ từng thể loại văn chương mà ngay cả từng loại hình ngôn ngữ nghệ thuật - trừ ra nghệ thuật điện ảnh nghe nhìn - đều đã hoàn tất sứ mệnh cổ điển hóa, nghĩa là đã hoàn tất sứ mạng sáng tạo cái mới thực thụ của chính bản thân chúng" (tr.65). Như thế là đâu phải chỉ văn học, mà cả nghệ thuật nữa cũng khủng hoảng chứ ông Côn? Và trừ điện ảnh ra, thì toàn bộ nghệ thuật của thế giới đang làm cái việc nhai lại? Như thế là hoàn toàn bế tắc, chứ đâu phải chỉ khủng hoảng? Và theo lô gích, đã tổng khủng hoảng văn học trên quy mô toàn thế giới thì ắt cũng không tránh khỏi ở nước ta, và chính ông cũng đã lấp lửng trong diễn đạt: "tình trạng khủng hoảng của văn học trên quy mô toàn thế giới, ở nước ta" rồi (tr.66). Rất thông cảm với những khó khăn của ông, thôi không hỏi chuyện thế giới xa xôi nữa, nhưng ông phải cho biết vài nét về cuộc tổng khủng hoảng văn học ở nước ta - những biểu hiện và đâu là nguyên nhân? Phải chăng nằm chung trong nguyên nhân "đó cũng là nạn nhân của một cuộc khủng hoảng khác mà người ta đang hy vọng ngõ hầu được cứu rỗi trong hoặc sau cuộc cách mạng trí tuệ sau thời hậu hiện đại" (tr.74) mà ông đã nói xa xôi và khó hiểu quá, xin giải thích cho rõ thêm! Nhưng ông đã vội khép lại: "Lối thoát cơn tổng khủng hoảng của văn học trên quy mô toàn thế giới vẫn còn là một nghi vấn VĨ ĐẠI BÍ ẨN, VĨ ĐẠI SÂU XA" (tr.74). Eo ôi, thế mà ông lại cho người thấp kém như tôi dám khởi xướng cho lịch sử công cuộc quan tâm...đề xuất đường lối cư xử cho tình trạng huyền bí vĩ đại này, lại vẻn vẹn chỉ trong một cột báo, mà vốn còn bị kêu dài nữa đấy!
Thật ra, với tất cả cái vẻ ngông ngao rối rắm, ông Côn vẫn giẫm lại vết chân muôn đời của kẻ xảo trá - cứ cố lái ý kiến của người khác sang một vấn đề khác hẳn về nội dung, quy mô, và tính chất, rồi lại xuất phát từ đó, trở lại bắt bẻ vặn vẹo người ta. Thí dụ, ở cuối bài báo tôi có viết: "Trước ưu thế trực quan của những hình tượng nghệ thuật nghe nhìn... văn học có thể nghĩ đến việc tăng cường tính nhạc, tính họa v.v... giàu sắc thái trực quan theo cách riêng trong nghệ thuật ngôn từ", ông Côn liền hăm hở hạ bút cho rằng tôi "đã lấy ngay cái đã, đang bị khủng hoảng trong cuộc tổng khủng hoảng... làm lối thoát cho cuộc khủng hủng đó" (tr. 73). Toàn khủng hoảng là khủng hoảng, buồn cười thật! Chả nhẽ ý kiến trên kia của tôi là đề xuất đường lối cư xử cho tình trạng khủng hoảng của văn học trên quy mô toàn thế giới đấy à? Không, nó cách xa hàng tỉ tỉ dặm!. Gợi ý của tôi vẻn vẹn chỉ nhằm góp phần giảm bớt chỗ yếu tính trực quan của nghệ thuật ngôn từ như đã nói rõ mà thôi. Hiển nhiên điều này không có gì mới mẻ, ai cũng biết cả. Nhưng biết và làm là hai việc khác nhau. Ông Côn cũng nói đến văn hóa tranh luận mà then chốt là phải ngay thẳng, trung thực đấy chứ, nhưng ông vẫn cứ xảo trá ngay trong việc này!
3) Bài báo của tôi, như đã nói sơ qua ở trên, thật ra rất giản đơn, chỉ nói những điều sơ đẳng, có tính chất "phục vụ kịp thời" trước mắt, nhưng chính vì thế, nó lại thật rành mạch, rạch ròi. Trong bài viết ngắn gọn mà tôi đã phải hơn một lần nhắc lại rằng ở đây tôi chỉ tiếp cận vấn đề từ mặt CHẤT LIỆU. Cho nên, những khái niệm mà tôi sử dụng như ký hiệu, nhất là ngôn ngữ là chỉ trong phạm vi hoặc trên bình diện CHẤT LIỆU, tuyệt đối không thể hiểu theo nghĩa nào khác ngoài bình diện và phạm vi này. Ông Côn là cảm thấy lúng túng, cho nên bèn phải diễn nhiều trò rất khôi hài. Nào là ông ra tay "đính chính giúp" tôi thay tổ hợp từ "ngôn ngữ hay ngôn từ" thành "ngôn ngữ ngôn từ" là cái nghĩa lý gì vậy? Với tư cách là chất liệu của văn học, ngôn ngữ là tiếng nói của một cộng đồng, hay sát đúng hơn là lời nói (ngôn từ), tức là tiếng nói trong vận động qua những chủ thể và trường hợp diễn ngôn khác nhau. Vậy nói "ngôn ngữ ngôn từ" thì dịch ra thành "tiếng nói của lời nói" là cái quái gì vậy? Rồi nào ông còn hăng hái "gỡ rối dùm" tôi để ngang ngược biến "ký hiệu của vật chất" thành "ký hiệu của Tư Duy Vật Chất"? Tư duy vật chất là cái gì vậy, còn có tư duy tinh thần không? Rồi nào ông còn thay mặt tôi trả lời câu hỏi mà ông tự đặt ra, rồi lại thay mặt lần nữa để "hòa giải" với những điều trả lời mà ông tự tưởng tượng ra đó. Thôi ông ơi, xin miễn cho, bài báo tôi in ra giấy trắng mực đen mà ông còn trắng trợn xuyên tạc thành bài tham luận hân hoan trên diễn đàn, thế thì những điều trong đầu óc tôi mà lại do ông tượng tượng ra, sẽ bị xuyên tạc đến bao nhiêu tỉ lần nữa? Mà sao lại có lối tranh luận quái đản như thế nhỉ? Người ta viết như thế nào, thì để y nguyên như thế, đúng sai, cứ bàn thẳng vào đấy, sao lại cứ phải sửa chữa lại, tưởng tượng thêm ra rồi cứ lấy đó làm tiền đề suy diễn tiếp nhỉ? Điều này chỉ tự tố cáo lên rằng tâm địa đã không ngay thẳng, thì biện pháp phải quanh co. Chưa hết, ông còn xen vào những câu mà thật khó hiểu là ông muốn nói gì, đại khái như: "Những âm mưu xua đuổi những dạng thức vật chất trừu tượng và vô hình... ra khỏi phạm trù vật chất chẳng hạn như xua đuổi một cơ chế xã hội nào đó, đã từng được tố cáo và châm biếm là thói gian lận ngây thơ..." (tr.67). Cơ chế xã hội nào trừu tượng và vô hình mà bị xua đuổi, mà nó liên quan gì ở đây? Có thể thấy ông Côn đang giở trò vòng vo loanh quanh, rối rắm, tung hỏa mù, cố dắt dẫn vấn đề vào mê lộ, để cuối cùng đột ngột bật ra cái kết luận xảo trá cho rằng tôi "tước bỏ... biến có thành không có ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ vũ đạo, ngôn ngữ sân khấu kịch và ngôn ngữ điện ảnh. .."(tr.69). À, té ra là như thế, nhưng hơi bị tiếc là sao ông không nói luôn tôi phủ nhận ngôn ngữ máy tính, ngôn ngữ loài ong nữa cho thêm phần rôm rả? Chỉ tiếp cận vấn đề từ bình diện chất liệu, từ ngôn ngữ mà tôi sử dụng là theo nghĩa đen, nghĩa gốc là tiếng nói giao tiếp hằng ngày, và đó là chất liệu chỉ riêng văn học mới có. Còn từ ngôn ngữ trong cách nói như ngôn ngữ ba lê ..v..v.., thì dứt khoát không phải theo nghĩa đen là tiếng nói giao tiếp hàng ngày, càng không phải chất liệu của riêng ai, mà chủ yếu là chỉ hệ thống những quy tắc và phương thức biểu hiện, đều có riêng ở mỗi một ngành nghệ thuật, kể cả văn học. Nhưng ngay đối với văn học, tôi cũng chưa hề sử dụng ngôn ngữ theo nghĩa này. Thế mà ông Côn lại đánh tráo khái niệm trắng trợn thì thật trắng trợn nhưng quá đỗi vụng về như vậy đấy!
Những ngón xảo trá như thế nhan nhản trong bài viết của ông Côn mà hễ có dịp nữa, tôi sẽ lôi ra hết, nhưng trước mắt đành phải sớm kết thúc mục này bằng một thí dụ nữa mà thôi. Tôi viết: "Chúng ta thường nghe nói sân khấu, điện ảnh, chất lượng còn chưa được như mong muốn, vì MỘT TRONG NHỮNG nguyên nhân cơ bản là thiếu kịch bản văn học hay", thế mà khi trích dẫn ông Côn tỏ ra rất điệu nghệ vứt luôn ba chữ một trong những đó đi (tr.71). Và chỉ có cắt xén như thế, mới có "luận cứ" cho một quy kết xằng bậy hơn cho rằng tôi xem văn học quyết định cho sự sống còn của tất cả các loại hình nghệ thuật khác. .." (tr.70). Thế nào ông Côn, hãy dũng cảm lên, thành khẩn xác nhận là mình gian trá đi chứ!
4) Ông Côn rất ngông ngạo, luôn muốn chứng tỏ mình biết những điều cao siêu, nhưng tỏ ra không hay biết gì về điều giản dị này. Đó là một khi anh tập trung dồn trí lực vào cố xuyên tạc người khác, thì vô tình đã tạo ra một trường diện rộng rãi bao la để cho kiến thức đích thực của ông được dịp bộc lộ một cách tự nhiên, tự do, thoải mái. Có thể một người khác cũng xảo trá, nhưng nếu có trình độ hơn, thì sẽ quy kết, xuyên tạc tinh vi hơn, tất nhiên trước sau gì cũng bị lật tẩy. Đằng này sự quy kết, xuyên tạc của ông Côn ngang nhiên lì lợm đã đành rồi, nhưng sao nó thô thiển và lố bịch đến mức ngạc nhiên. Điều này chỉ có thể giải thích bằng những lỗ hổng to tướng trong kiến thức cơ bản của ông:
- Tôi chỉ nói ngôn ngữ không phải là vật chất, nhưng nó là ký hiệu của vật chất, ông Côn liền đắc ý phát hiện ra mâu thuẫn trong câu này: "Ngôn ngữ hay ngôn từ chỉ là ký hiệu, cho nên nó mới trở thành cái vỏ vật chất của tư duy. ..". Điều này chứng tỏ một cách hùng hồn rằng trong quan niệm của ông Côn, ký hiệu chỉ có "cái được biểu đạt" chứ không có "cái biểu đạt", vốn đã phải hình thức hóa, vật chất hóa với một mức độ và dạng thái nào đó rồi. Người ta tư duy theo ngữ nghĩa, nhưng ngữ nghĩa không thể tách rời ra khỏi cái vỏ vật chất ngữ âm, cho dù nó "câm lặng" trong đầu óc.
- Tôi cũng chỉ vẻn vẹn mới nói chất liệu của các ngành nghệ thuật "đều là vật chất với những trạng thái của nó", thì ông Côn liền không chút e dè gì, suy luận thẳng luôn rằng như thế nghệ thuật phải "phản ảnh thế giới. .. bằng chính vật chất. .. phản ảnh cuộc sống bằng chính hình tượng cuộc sống" (tr.68). Như thế là ông Côn tự tố cáo rằng chính ông đã đồng nhất chất liệu nghệ thuật với sự phản ảnh nghệ thuật và với cả hình tượng nghệ thuật. Cái đoạn văn đặc sắc về chim rán, cá bột tẩm màu, thịt bò sốt vang là sản phẩm trung thành cái quan niệm đó của chính ông. Chao ôi, từ chất liệu nghệ thuật đến hình tượng nghệ thuật, còn trăm thứ chuyện nữa chứ ông Côn, chã nhẽ tôi cứ phải kể ra cho bằng hết?
- Tôi cũng chỉ vẻn vẹn mới nói chỉ có chất liệu (tức là cái còn nằm bên ngoài) của văn học mới là ký hiệu, ông Côn liền la ó khá buồn cười rằng tôi "thẳng tay tước bỏ phương thức, quyền lợi được dùng ký hiệu để làm công cụ của tư duy của tất cả mọi loại hình nghệ thuật khác" (tr.68). Hóa ra ông Côn đã đồng nhất, không hề biết phân biệt ký hiệu vốn có trong chất liệu với việc ký hiệu hóa trong tư duy là khác nhau trời vực. Đâu phải đợi chất liệu có ký hiệu mới tư duy được bằng ký hiệu hả ông Côn?
- Tôi nhắc lại kinh nghiệm lâu đời là văn học nên tăng cường tính nhạc, tính họa. .v..v.., ông Côn liền cho đó “vốn là tập tính tham vọng cố hữu của sáng tạo văn học"(tr.73), chứng tỏ ông Côn không hiểu một điều sơ đẳng là trong gia đình nghệ thuật, giữa các loại hình có giao thoa ảnh hưởng nhau là rất bình thường. Đâu phải chỉ văn học mới có "tập tính" ấy, mà ngược lại các nghệ thuật khác cũng học tập văn học đấy chứ! Người xưa hay vẽ tranh theo những thi đề, và nếu thành công thì được gọi là những bức vô thanh thi, hữu hình thi, bất ngữ thi. .v..v.. Đó là chưa kể những thể loại có tính chất trung gian như "kịch bản văn học", nhưng ông Côn liền nói: "... Tư duy kịch bản sân khấu kịch, điện ảnh chỉ bằng ngôn ngữ riêng có của sân khấu kịch, điện ảnh" (tr.71). Điều này chứng tỏ ông Côn cho kịch bản văn học không liên quan gì đến tư duy văn học cả (mặc dù không ai phủ nhận viết thể loại này phải có tư duy sân khấu). Vậy ông giải thích như thế nào về vị trí sáng chói của Shakespeare ngay trong lịch sử văn học Anh?
Còn không biết bao nhiêu điều cần nói nữa như cụm từ "ngôn ngữ ngôn từ" xuất hiện với tần số cao trong bài viết của ông Côn, nếu không phải là vô nghĩa thì cũng sai lầm. Cho dù chữ ngôn ngữ ông dùng theo nghĩa như ngôn ngữ điện ảnh. .v..v.., thì tương ứng với văn học, ông phải diễn đạt là "ngôn ngữ của nghệ thuật ngôn từ". .v..v.. Nhưng thôi, chỉ mới sơ qua vài ba điểm như trên cũng đủ thấy trong bài viết của ông Côn, có tiềm ẩn quá nhiều những hiểu biết không đến nơi đến chốn. Nói một cách khác, ngoài tâm địa ra, ông còn huy động cả những kiến thức sống sít để xuyên tạc người khác!
Sống trên đời dễ nhất mà cũng khó nhất là phải ngay thẳng, thật thà phải biết làm người trong từng giây từng phút, chớ có lúc nào đem cái sống sượng và xảo trá của mình ra gây ô nhiễm, nhất là từ cái nơi mà cả một thời gợi nhớ đến TRỜI TRONG VEO, NƯỚC TRONG VEO.

PHƯƠNG LỰU
(nguồn: TCSH số 151 - 09 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.

  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.