Một đời thơ Phùng Quán

09:54 19/03/2008
Phùng Quán ơi ! Bây giờ trước cái chòi ngóng sóng ở mé Hồ Tây nhà anh, quán nhậu mọc lên nghi ngút, che khuất những bầy sâm cầm đương hạ cánh xuống hoàng hôn. Cái nhìn của anh cũng đói, nhưng ở thế giới bên kia anh đâu có ngán :"Trong trăm nghìn nỗi đói/tôi nếm trải cả rồi/tôi chỉ kinh khiếp nhất/ là nỗi đói tình người

MỘT ĐỜI LAO LỰC - MỘT ĐỜI CÙNG CỰC -MỘT ĐỜI THƠ PHÙNG QUÁN - TÌNH YÊU -CHIẾN ĐẤU - VÀ SỰ VĨNH HẰNG
Bắt đầu từ tình yêu quê hương nung nấu tâm hồn nhà thơ để đến với tình yêu em :
... Sáng chủ nhật. Hoàng đế mặt trời khoác long bào chói lọi hào quang, từ Tử Cấm Thành - biển Thuận An, xa giá lên vòm trời cổ tích Cố Đô. Ban nhạc cung đình chim sáo, chim cà cưỡng, chim sẻ, chim sâu... khắp các lùm cây trong thành phố ríu ran tấu nhạc. Con sông Hương tắm vàng nấu chảy...
                Sông Hương ơi !
                Gió thổi chi nhiều rứa ?
                Sóng vỗ làm chi rối ruột cả hai bờ
                Tôi ngồi... đá mọc thành thơ
                Ngóng về cửa Thuận... tôi chờ đò lên...
                Một đò lên...
                Hai đò lên...
                Ba đò lên...
                Mà tôi chẳng thấy bóng em trong đò...
                Bến sông đá tạc thành thơ
                Đá thơ ngơ ngẩn ngẩn ngơ đợi đò
                Một đò lên...
                Hai đò lên...
                Ba đò lên...
                                (chương 8 Đợi đò)
Trên vực thẳm vô cùng của hạnh phúc
Tôi thấy mình đương đứng quá cheo leo...
                                (chương 10 Trái bí xanh)
Đối với Phùng Quán khi đã yêu hết mình anh trở thành "tội nghiệp" cái tội nghiệp đáng tôn vinh :
                ... Tôi biết
                em đâu phải Hằng Nga ngủ trong rừng?
                em có con phải nuôi
                có chồng phải bỏ
                em phải biết giá rau ngoài chợ...
                nhưng tôi vẫn quỳ xuống xin em
                ngay cả những phút nổi khùng
                em cũng đừng nói những lời chua chát
                em cũng đừng nói những lời cay độc...
Rồi như để biện minh cho mình nhà thơ tự an ủi :
               ... tôi chỉ biết với riêng tôi
                em là mái nhà
                giữa đồng hoang, trên sa mạc
                cho tôi ẩn trốn những trận mưa xấu xa 
                                                                                dung tục
                những trận mưa làm thối mục cuộc đời
                những trận mưa ngày càng nặng hạt !...
Cũng có đôi lúc gã si-tình-bi-tráng-Phùng-Quán ấy vẫn mơ một giấc mơ hoang tưởng :
                Trái tim tôi như trái cây bị dập nát
                rụng xuống từ cành cao
                tình tuyệt vọng là ngọn sào
                chọc cho trái cây rụng xuống...

                trái cây rụng vẫn mơ giấc mơ hoang tưởng
                may ra được gót chân em dẫm nát
                để trước khi tan vào bụi đất
                còn được hôn gót chân yêu...
Yêu như kiểu của nhà thơ Phùng Quán thì chúng ta xin bái phục. Không biết các thế hệ mai sau có yêu như thế không?
                ... quá đau khổ tôi trở thành lì lợm
                tôi xin em bớt giận...
                nếu không được ngồi
                thì tôi xin đứng
                cùng với cây chổi em dựng ở xó nhà
                nếu không được thở...
                tôi sẽ xin nín thở
                như cái ngày còn đi chăn trâu cắt cỏ
                tôi xuýt chết dưới đáy giếng làng
                vì mải lặn mò con cá bống thần
                                                cô Tấm bỏ quên...
                Và khi Phùng Quán bị người yêu ruồng bỏ xua đuổi ta lại càng thấy yêu thêm Phùng Quán, bỗng nhiên cái mất lại hóa ra được. Cái tình yêu đơn phương lại hữu hiệu trong biểu trạng tính cách nhân vật. Cái tình yêu lì lợm ấy chỉ có trong bản thể của Phùng Quán mà thôi :
                ...em giận dữ la lên :
                - đứng trong xó nhà cũng không được đứng !
                ... thì tôi ra đứng trước hiên...
                - đứng trước hiên cũng không được đứng !
                ... thì tôi xin ra đứng ngoài ngõ...
                - đứng ngoài ngõ cũng không được đứng !
                ... thì tôi xin ra đứng đầu đàng
                Tôi nhìn vào khung cửa nhà em
                môi rát bỏng những lời yêu thương...
Và cuộc đối thoại của tình yêu đến hồi quyết liệt ta tưởng chừng tan vỡ :
                - đứng đầu đường cũng không được đứng
                lời yêu thương cũng không được nói !
                ... thì tôi xin chết...
Tim ta như muốn ngừng đập và tưởng chừng như anh chàng thương binh đã từng là lính trinh sát của trung đoàn đã chọn nhầm đối tượng nên bị nhồi máu cơ tim có thể ngất đi, nhưng không ta lại nghe nhà thơ trỗi dậy nói :

 

 

                Nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt
               vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh............
Và như để khóa lại lời cam kết của mình nhà thơ thốt lên :
                dù hỏa táng
                dù chôn xuống chín tầng đất
                trái tim dập nát của tôi vẫn thắm một khối tình !
Chưa hết, nhà thơ còn chưa để cho mối tình tan biến đi trong không gian và thời gian :
                nếu dại dột
                một sớm mai nào đó
                em bỗng bay mất
                tôi sẽ tan vào mưa Huế những ngày đông
                xối xả xuống tất cả những nơi nào em đã đặt chân !
Khi tình yêu đã mất nhà thơ chỉ biết lấy chén rượu để giải sầu và vắt kiệt sức lao động của mình để bù vào chén cơm manh áo. Nhà thơ đã viết ... cạn kiệt thơ giữa cuộc sống thị thành, tôi quyết định rời bỏ gia đình bạn hữu giữa cái tuổi ngoài 50, lên rừng tìm đào bới mạch thơ giữa thiên nhiên.
Tôi đã sống một mình suốt ba năm (6-1981 đến 8-1984) trong cái lán lợp tranh lá mía, giữa một bãi đất phù sa cổ hoang vu vùng đồi núi Thái Nguyên. Quanh ngôi lán mọc lút đầu cỏ dại và cây trinh nữ xanh.Trước mặt lán là con suối Linh Nham. Mùa mưa lũ, nước đỏ ngầu phù sa cuốn theo củi rều lá mục, cây rừng trốc gốc, xác súc vật chết... cuồn cuộn dâng cao... Trong ba năm tôi đã ăn thịt được ba chục con hổ mang chì, giết chết vài chục con rắn lục, săn bắt vài chục con móc xiết - một loài chồn răng sắc như gươm sinh sống bằng thịt rắn - đốt phá hơn chục tổ ong lỗ...
Tôi sống cùng với một con chó, một con heo, một bầy gà cùng sắn bắp rau lang ốc suối và tôm cá tự đánh bắt lấy.
Trong ba năm chỉ có hai người bạn cũ từ Hà Nội lên thăm. Một giáo sư sử học và một nhà thơ.
Gặp lúc ốm đau, tôi tự chữa bệnh với lá xông, rượu tự cất lấy bằng sắn và men lá, và tia cực tím của mặt trời.
                Tôi phải lên rừng
                Hái lá khổ sâm
                tự mình cất lấy ly rượu sống...

               Ơi rượu khổ sâm đắng lắm !
                đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian...

                bạn hữu thân thiết ơi !

 

 

                xin đừng trách cứ tôi
                sao trong câu thơ tôi cứ lẫn nhiều vị đắng
                chỉ vì
                tôi vừa ngâm ngợi câu thơ
                vừa cạn chén rượu đời
                cất bằng lá khổ sâm...
Nhưng rồi lá khổ sâm cũng không còn nữa, những con cá con cua cũng rời bỏ nhà thơ, những con rắn con cheo trong rừng cũng lẫn tránh nhà thơ... Sức tàn lực kiệt gót nhọc lòng đau, nhà thơ đành tìm về với mẹ - đó là đất Cố đô. Sông Hương mở lòng ra đón đứa con lưu lạc trở về :
                ... nhưng cuối cùng quê hương đã nhận ra
                trái-tim-thơ-trong-sạch
                và gương mặt Thơ-bi-thiết -của tôi...
Đó là câu thơ đầu tiên khi gặp lại Huế tôi nức nở thành lời.
Văn hữu và thi hữu quê nội hay tin tôi trở về đã quây quần săn sóc, đùm bọc chiêu đãi tôi.
Văn hữu thi hữu quê tôi nghèo lắm, có lẽ nghèo nhất đất nước. Thế mà vẫn chiêu đãi tôi theo cung cách các vương hầu thời chiến quốc chiêu đãi bạn. Ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn.
Rượu như lửa tôi uống tràn thay nước. Tôi van các bạn rượu thì đắt mà các bạn thì nghèo, đừng cho tôi uống nữa!
                Các bạn gạt đi...
                Đất Cố đô bao giờ chịu mang tiếng
                Để một nhà thơ phải đói rượu giữa quê hương !
                Tôi ngất ngưởng sống, ngất ngưởng thơ, ngất ngưởng say.
                Và tôi ngất ngưởng gặp nàng...
Chết đi sống lại bâm dập bao lần thế mà mới hồi sức lại ngất ngưởng yêu. Yêu như thế thì đến trời cũng phải sợ. Người đọc cũng bật cười nhưng cười ra nước mắt.
Năm 1950 Phùng Quán là chiến sĩ trinh sát của trung đoàn. Trong một trận chống càn ở chiến trường Bắc Thừa Thiên, tiểu đội trinh sát bị giặc bao vây tiêu diệt, chỉ còn một mình Phùng Quán may mắn sống sót, chân bị thương.
Nửa đêm, từ giữa cánh đồng khô nẻ, anh bò vào làng tìm nước uống. Anh bị rơi xuống một con lạch sâu xâm xấp bùn. Anh vùi mặt vào bùn để dịu bớt cơn khát... Những câu thơ ập đến trong đầu, tưởng chừng như nó vọng lên từ lòng mẹ. Đất ru đứa con chiến sĩ vào giấc ngủ kiệt sức mất máu...    
                ...ai yêu đất bằng tất cả cuộc đời mình
                sẽ được nghe đất hát...
                Đất ơi !
                Con nguyền yêu người với tất cả máu xương
                với tất cả cuộc đời con mười bảy tuổi !
Trong trận công đồn diệt viện Phò Trạch Thừa Thiên, Phùng Quán đã viết quyết tâm thư bằng máu :
                nếu tôi chết
                xin các đồng chí đừng đưa tôi đi đâu hết cả
                Hãy chôn tôi ngay chính nơi tôi đã ngã !
                dù đồng xanh hay giữa núi đồi
                dù bãi lầy trảng cát xương rồng gai
                hay ngay bên rệ đường tôi nằm phục kích
                mà không ngày nào đinh giày và xích xe tăng địch
                không xéo dày lên phần mộ của tôi
                dù thế đi nữa các đồng chí ơi !
                cũng đừng đưa tôi đi đâu hết cả
                hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã !

                để mát dạ những người đã khuất
                người ta trồng cây đẹp rủ bóng lên nghĩa trang
                nhưng quanh mộ tôi
                xin đừng trồng bạch đàn liễu biếc hay thủy dương
                hãy trồng cho tôi một nghìn mũi chông nhọn hoắt
                mỗi mũi chông đều nhớ tẩm thứ thuốc độc mạnh nhất

                viếng mộ tôi xin đừng đốt hương
                hãy đốt cho tôi ngọn lửa đốt đồn
                khắp cả quê hương đều ngó thấy
                soi sáng hết những nơi nào máu nhân dân đương chảy.

                Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mình
                xin các đồng chí đừng do dự gì tất cả
               Hãy đào mộ tôi lên
                quẳng hài cốt tôi đi !
                và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ !

                xin các đồng chí đừng đưa tôi đi đâu hết cả
                hãy chôn tôi nới chính tôi đã ngã !
                                               (Di chúc chiến sĩ 1952)
Chừng đó thôi đã quá đủ để ta hiểu về con người Phùng Quán, chưa kể đến Vượt Côn Đảo, Chống tham ô lãng phí, Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, Hôn, Lời mẹ dặn, Trường ca cây cà, Anh là ai và anh từ đâu đến, Tuổi thơ dữ dội...
                ... Tất cả những gì bạn nếm trải suốt cuộc đời
                tận cùng niềm vui
                tận cùng nỗi khổ
                với bạn cũng chỉ là chơi.
                khi không còn cách gì chơi mới nữa
                bạn chơi ung thư...
                bạn sẽ xuống địa ngục ?
                hay bạn lên thiên đường
                tôi chắc bạn đến cả hai nơi
                bạn chơi luôn cả thiên đường địa ngục !
                                                (thơ đọc trước linh cữu Trần Thịnh
                                                hiệu là  Thịnh Râu đạo diễn điện ảnh)
Bài thơ tặng cho bạn và cũng tặng cho mình, không lâu sau nhà thơ Phùng Quán cũng chơi cái trò chơi "tuyệt vời" đó. Khúc bi tráng nhà thơ còn dang dở anh đã ra đi giữa lúc tài năng đau chín.
                ... đã đi với nhân dân
                thì thơ không thể khác
                dân máu lệ khôn cùng
                thơ chết áo đắp mặt ! ...
                ... đừng buồn nữa em ơi
                chuyện ngàn năm... ngàn năm...
                                                (Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe)
Phùng Quán ơi ! Bây giờ trước cái chòi ngóng sóng ở mé Hồ Tây nhà anh, quán nhậu mọc lên nghi ngút, che khuất những bầy sâm cầm đương hạ cánh xuống hoàng hôn. Cái nhìn của anh cũng đói, nhưng ở thế giới bên kia anh đâu có ngán :
                trong trăm nghìn nỗi đói
                tôi nếm trải cả rồi
                tôi chỉ kinh khiếp nhất
                là nỗi đói tình người
                                (Đói, thơ Phùng Quán)
Nhà thơ Phùng Quán có viết tặng Hoàng Cầm bài thơ có tựa đề là : Viết tặng Hoàng Cầm thi sĩ trong giây phút anh ngã lòng suy sụp, trong bài thơ ấy có một đoạn :
                ... tôi có một niềm tin
                chắc như đinh đóng cột
                ngày mai anh nhắm mắt
                đi sau linh cữu anh
                có cả con sông Đuống ! ...
Để kết thúc bài tưởng niệm ngắn nầy tôi xin mượn ý bạn trong đoạn thơ trên nhưng xin phép chữa một câu :
                Tôi có một niềm tin
                chắc như đanh đóng cột
                ngày mai anh nhắm mắt
                đi sau linh cữu anh
                ngoài bạn hữu gia đình
                có cả thiên đường
                và địa ngục.
                                     16-12-1998
THU BỒN  
(nguồn: TCSH, 3.1999)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.