Một di tích lịch sử bị lãng quên

10:31 01/10/2009
VĂN THAOTháng 10-1944, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài hát Tiến quân ca trên một căn gác nhỏ tại số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền. Căn gác này cũng là nơi Văn Cao đã sống và hoạt động cách mạng từ năm 1944 đến ngày toàn quốc kháng chiến 22-12-1946. Đội danh dự Việt Minh do Văn Cao phụ trách cũng từ đây toả đi làm nhiệm vụ. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí Vũ Quý, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Thành Lê... cũng đã thường xuyên dùng địa điểm này để hoạt động trong những năm đầu cách mạng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Văn Cao như: Bài thơ Chiếc xe gác qua phường Dạ Lạc; các ca khúc Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam đã ra đời tại đây.

Bài hát "Tiến quân ca" của Nhạc sĩ Văn Cao - Ảnh: tagvn.com

Bài Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của tờ báo Độc Lập tháng 11-1944. Do người thợ in không biết viết nhạc, Văn Cao phải tự mình viết bài hát lên đá và trực tiếp in báo tại một cơ sở in bí mật đặt tại làng Bát Tràng.

Chúng tôi trở lại làng Bát Tràng vào một ngày đầu tháng 9-2004. Đã sang tiết thu vậy mà trời vẫn nắng gắt, nhưng con đường làng đã được bê tông hoá không còn lầy lội bụi than như mấy năm trước. Làng Bát Tràng đã trở thành một địa điểm tham quan du lịch làng nghề của thủ đô Hà Nội. Khách tham quan du lịch trong nước, ngoài nước ra vào tấp nập.

Cơ sở in bí mật của nhà in Phan Chu Trinh, nơi nhạc sĩ Văn Cao in bài Tiến quân ca trên trang văn nghệ của tờ báo Độc Lập số đầu tiên tháng 11-1944 ở trong một ngôi nhà cổ của làng Bát Tràng. Người chủ ngôi nhà lúc đó là cụ Vương Văn Táo. Cụ Táo làm nghề thuốc gia truyền, thường nay đây mai đó kiếm sống (cụ Táo mất năm 1976).

Chúng tôi gặp lại ông Vương Văn Nguyên (nguyên là kỹ sư vô tuyến điện đã nghỉ hưu) là người con trai thứ tư của cụ Táo, được gia tộc uỷ quyền trông nom ngôi nhà lịch sử đó. Đây là nơi thờ cụ Táo và cũng là nhà thờ của gia tộc. Gặp lại chúng tôi ông Nguyên rất vui. Ông dẫn chúng tôi đến thăm ngôi nhà nơi có căn gác nhỏ đã từng là cơ sở in bí mật...

Một ngôi nhà cổ ba gian, gian giữa là bệ thờ dòng tộc. Gầm bệ thờ này xưa kia là nơi cất giấu tài liệu và báo chí cách mạng. Liền với gian nhà chính là một ngôi nhà ngang cao vọt lên với một căn gác xép. Trước đây căn gác xép này dùng làm nơi để thóc và đồ đạc đề phòng mùa lũ, nước sông Hồng lên cao. Muốn lên gác xép, chúng tôi phải trèo lên trên một cái bể nước được xây nửa chìm nửa nổi, có bề mặt rộng khoảng 6m2 (trong bể nước là một đường hầm bí mật để thoát ra ngoài bờ sông). leo lên một chiếc thang tre ọp ẹp và đội nắp chui lên. Một căn buồng nhỏ khoảng 15m2 có chiều ngang 2,5m, chiều dài 6m, có cửa sổ nhỏ để lấy ánh sáng. Phía đầu hồi sát ván sàn là một chiếc cửa thoát hiểm ra ngoài.

Chúng tôi lặng đi vì xúc động. Không thể tưởng tượng nổi, căn gác này lại là nơi bài Tiến quân ca được in lần đầu tiên và cũng trên căn gác xép này, nhạc sĩ Văn Cao cùng các đồng chí của mình đã chịu đói, chịu rét, làm việc cả ngày lẫn đêm, không quản hiểm nguy để những tài liệu của Đảng, những tờ báo của cách mạng in ra từ đây và toả đi khắp mọi nơi đến tay đồng bào, đồng chí của mình (cùng làm việc với Văn Cao hồi đó có đồng chí Văn Lang-thợ in người làng Bát Tràng và đồng chí Trịnh Quý Đông-nguyên đại biểu quốc hội khoá I).

60 năm đã trôi qua, căn gác lịch sử này đang có nguy cơ trở thành phế tích. Mái ngói cổ mốc meo, dột nát, dầm xà đã nhiều chỗ mọt ruỗng, mạng nhện chằng chịt khắp nơi. Bụi thời gian phủ một lớp dày trên sàn gỗ ọp ẹp, hằn sâu những vết chân của chúng tôi. Ông Vương Văn Nguyên buồn rầu cho chúng tôi biết:

“...Sau CM tháng 8, cha tôi bỏ làng đi kiếm sống và cho ông Vũ Văn Thuần người làng ở nhờ để trông nom nhà cửa cho đến nay là đời thứ 3. Gia đình chúng tôi đã nhiều lần đòi lại nhà, thậm chí UBND xã Bát Tràng cũng đã từng có quyết định trả lại ngôi nhà cho chúng tôi vậy mà không hiểu vì lý do gì, đến bây giờ ông Nguyễn Văn Thìn (là cháu ngoại của ông Thuần) vẫn chiếm dụng làm cơ sở sản xuất đồ gốm... “

(ông Nguyên cho chúng tôi xem văn bản và quyết định của UBND xã Bát Tràng, trong đó có chữ ký của bà vợ ông Thuần công nhận “ở nhờ nhà cụ Táo”).

Trước khi ra về, chúng tôi cùng ông Nguyên thắp mấy nén nhang lên bàn thờ gia tộc. Ông Nguyên cười chua chát: “Đấy các anh xem! Ngôi nhà này vừa là di tích lịch sử cách mạng, vừa là nhà thờ của dòng tộc nhà mình, vậy mà người khác ở nhờ rồi chiếm giữ không trả, chính quyền thì bất lực còn gia đình nhà mình ngày giỗ, ngày Tết phải đến thắp hương nhờ... Chúng tôi chỉ mong ngôi nhà này được công nhận là di tích lịch sử cách mạng. Chúng tôi đòi lại được sẽ sẵn sàng hiến cho Nhà nước”.

Chia tay ông Vương Văn Nguyên, chúng tôi đến thăm cụ Nguyễn Thị Sáu, người đã từng nấu cơm cho nhạc sĩ Văn Cao và tổ in bí mật. Cụ Sáu là em họ của ông Văn Lang, năm nay đã 80 tuổi. 60 năm trước đây cô bé Sáu mới có 16, 17 tuổi, hiền lành và nhút nhát. Được ông anh Văn Lang giao cho nhiệm vụ nấu cơm, giặt giũ quần áo và cảnh giới cho xưởng in bí mật, cô đã vui vẻ, hồn nhiên làm việc một cách tự giác. Nhưng công việc đó đối với cô đâu có gì vất vả, được giúp đỡ “các anh” là cô vui rồi. Cô Sáu đâu có ngờ, một trong những người cô đã phục vụ cơm nước lại là tác giả Quốc ca và bài Quốc ca đó lại được chính tay tác giả và người anh họ của mình trực tiếp in lên những trang báo Độc Lập lịch sử.

Trong lần về thăm cụ Sáu trước đây 5 năm, tuy đã hơi lẫn nhưng khi chúng tôi hỏi cụ về “những kỷ niệm xưa” lập tức ánh mắt cụ sáng lên: “Chuyện ông Văn Cao in bài Chào cờ hả? Tôi nhớ! Tôi nhớ! Ngày đó ông ấy yếu lắm, nước da xanh lắm..., rõ khổ, suốt cả ngày lẫn đêm cứ cặm cụi làm việc trên gác, không ra ngoài được đâu. Anh Lang dặn tôi: “Cô phải giữ bí mật đấy, không được nói với ai, ai hỏi gì cũng bảo không biết, thấy ai lạ mặt khả nghi phải báo cho tôi biết ngay...” Ngày ấy khổ lắm, đói lắm, cơm chẳng có gì ăn đâu. Tôi phải hái rau tập tàng nấu với muối, còn thì thường xuyên chỉ có cà chua trưng với nước thôi. Khi nào nấu cơm xong, tôi gọi, vậy mà nhiều khi mải làm mãi các ông ấy mới ăn. Quần áo của các ông ấy thay ra, phải đợi thật khuya tôi mới đem đi giặt... Bí mật mà...”. Cụ Sáu ngừng lời, đôi mắt nhìn qua cửa sổ ra ngoài trời xa xăm, một lát sau cụ như chợt tỉnh nói tiếp: “Có một lần, tôi lấy hai tờ giấy bẩn vì giây mực lem nhem, lót tay bê nồi cơm. Ai ngờ anh Lang nhìn thấy, anh ấy mắng tôi một trận nên thân. “Cô có biết cô làm thế này là cô giết chúng tôi không? Người lạ nhặt được, họ biết đây là tài liệu Việt Minh, đem báo mật thám, chúng bắt tôi đi tù thì sao? Cô có muốn chúng tôi đi tù không?...” Ông ấy mắng lâu lắm. Tôi sợ quá cứ thút thít khóc. Ông Văn Cao ngó cổ xuống can: “Thôi anh Lang. Em nó không biết, đừng mắng nó nữa. Tội nghiệp.”..Vậy mà mãi sau này tôi mới được gặp lại ông ấy. Ngày ấy anh Văn Lang còn sống, ông Văn Cao đưa cả vợ về thăm làng, ông ấy vẫn nhớ tôi, ông bà ấy còn cho tôi quà. Vậy mà bây giờ các ông ấy đi cả rồi...Ông Văn Cao tốt lắm...” Đôi mắt cụ Sáu xa vời, nét mặt bất động. Chúng tôi chào cụ ra về, cụ thì thào “Không được nói với ai đâu đấy! Lộ bí mật là chết. Anh Lang bảo thế...”

Sau Cách mạng tháng 8, cụ Sáu tiếp tục tham gia công tác tại làng xã cho đến ngày toàn quốc kháng chiến, cụ tản cư theo ông Văn Lang vào Thanh Hoá. Hoà bình lập lại cụ Sáu trở về làng, làm việc tại xí nghiệp gốm Bát Tràng, cụ về mất sức sớm, đến nay không có chế độ gì. Cụ sống cô đơn, không còn gia đình, anh em.

Tại trụ sở UBND xã Bát Tràng, chúng tôi đã được ông Nguyễn Văn Ao-Chủ tịch xã đón tiếp. Ông Ao lấy ra quyển lịch sử Đảng bộ xã mới được in. Ngay từ những trang đầu tiên đã có nói rất chi tiết đến ngôi nhà của cụ Vương Văn Táo là nơi đặt cơ sở in bí mật nơi đó nhạc sĩ Văn Cao, đồng chí Văn Lang, đồng chí Trịnh Quý Đông... đã in báo Độc Lập, in bài Tiến quân ca... (có cả ảnh mầu kèm theo). Ông Chủ tịch xã cho biết: “Xã rất tự hào về di tích lịch sử cách mạng đó. Nhưng vì ngôi nhà đó chưa được công nhận di tích nên vẫn do dân tự quản, xã chưa có thể làm được gì...”. Ông Chủ tịch hứa với chúng tôi : “Có các đồng chí đặt vấn đề chúng tôi mới thấy mình có lỗi với lịch sử. Tới đây tôi sẽ họp Đảng uỷ xã để bàn về vấn đề này. Chúng tôi sẽ phải lập dự án đề nghị thành phố công nhận di tích lịch sử này, như thế xã mới có cơ sở pháp lý để di dời một số hộ dân đi chỗ khác để có thể bảo quản được di tích...”.

Chúng tôi tin rằng với cương vị mới của mình chủ tịch UBND xã Bát Tràng Nguyễn Văn Ao sẽ làm được những gì ông đã nói.

Trở về chiều, nắng đã nhạt, không khí cũng đã dịu đi không còn nóng bức oi ả nữa. Chúng tôi tạm biệt “căn gác lịch sử”, tạm biệt cụ Nguyễn Thị Sáu, tạm biệt làng Bát Tràng để về thăm Bảo tàng cách mạng. Nơi đây còn lưu giữ phiến đá in bài Tiến quân ca do nhạc sĩ Văn Cao tự tay viết. Năm 1976, nhạc sĩ Văn Cao đã về làng Bát Tràng gặp lại cụ Sáu, gặp lại ông Văn Lang. Phiến đá in cất dấu dưới đáy ao được lấy lên và đem về tặng cho Bảo tàng cách mạng lưu giữ. Một phiến đá vô tri vô giác, chưa đến nửa mét vuông vậy mà lịch sử mãi mãi lưu giữ nó. Tôi tự hỏi: Liệu có nơi nào trên thế giới này có một người vừa là tác giả Quốc ca vừa làm thợ in hay không? Tôi xúc động, lặng đi trước phiến đá. Phiến đá sáng lên trên đó là bài Tiến quân ca hùng tráng: “Đoàn quân Việt Nam đi, trung lòng cứu quốc...” Và bóng lá cờ đỏ sao vàng tung bay, to dần, to dần, phủ lên phiến đá.

60 năm đã trôi qua, bài Tiến quân ca đã tròn 60 tuổi, một đời người, một hoa giáp... và nhạc sĩ Văn Cao - tác giả của bài hát cũng đã từ biệt cõi đời trần tục này để về với cõi Thiên thai.

Tôi nhớ có lần cùng nhạc sĩ Văn Cao đi qua ngôi nhà 45 Nguyễn Thượng Hiền, ông dừng lại bên đường, ngước mắt ngắm nhìn ngôi nhà với gương mặt xúc động: “Ngôi nhà này có nhiều kỷ niệm với bố quá. Những năm tháng đói khổ nhất, bố đã sống và hoạt động cách mạng ở đây. Bài Tiến quân ca cũng được sáng tác từ đây và được bố in tại một ngôi nhà cổ ở làng Bát Tràng trên trang văn nghệ của tờ báo Độc Lập - tháng 11 năm 1944...”. Ông thở dài “giá như ngôi nhà này và ngôi nhà ở làng Bát Tràng được Nhà nước giữ làm di tích lịch sử thì tốt biết bao...” 

V.T
(189/11-04)



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh.                                                                TCSH

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).

  • ...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...

  • ... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta!                                 (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)

  • ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.

  • NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.

  • TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà  mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.

  • LÊ MỸ Ý ghi                (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...

  • MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn                                      Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...

  • THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.

  • PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.

  • NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.

  • VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.

  • L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.

  • L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới

  • ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.

  • THU NGUYỆT                (Trích tham luận tại Đại hội VII  Hội Nhà văn Việt Nam)

  • ĐẶNG SĨ THIỆNThời bao cấp, ăn còn đói mà thơ lại hay. Sang thời nay ăn thừa thãi thì người ta lại không quan tâm đến thơ, thậm chí quay lưng lại với thơ (lời Bằng Việt).