LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.
Ảnh: internet
ALISSA YORK
Món quà đúng nghĩa
Một cụ già ngồi phía đầu xe buýt, đang ngủ gà ngủ gật. Cụ ngồi cách tôi đến mấy hàng ghế nhưng tôi vẫn có thể ngửi được mùi rượu trong người ông, như thứ rượu bị thấm vào miếng giẻ trong bồn rửa chén, đang bốc một mùi chua rã rượi.
Tôi có thể ngửi được ông như thể ông đang rất gần tôi hòng kể cho tôi nghe một điều bí mật. Như thể tôi đang ngồi trong lòng ông.
Roy Philipchuk đã đối xử với chúng tôi rất tử tế.
Ông ấy là người đầu tiên trong thị trấn thuộc tỉnh bang Alberta ấy đã đón chào chúng tôi khi chúng tôi băng đại dương đến đây, ba mẹ tôi với âm giọng kỳ dị, như giọng những người Anh nằm ngửa rồi ngáp dài. Những câu chuyện của ba mẹ về mặt trời, cá mập và chuột túi. Và hai đứa con thơ.
Roy vô cùng tử tế với chúng tôi, giúp chúng tôi tìm nhà, cho chúng tôi bàn ghế, nhượng lại cho ba mẹ tôi chiếc xe tải nhỏ hiệu Ford với giá quá hời, rồi bảo rằng giờ đây chúng tôi đã có xe thì nhớ ghé qua ngôi nhà gỗ nhỏ ven hồ của ông. Và chúng tôi đã ghé, em tôi và tôi ngồi đằng sau xe, chìa mũi ra ngoài hướng gió, hạnh phúc như những chú chó.
Roy đã đối xử với chúng tôi thật tử tế trong những buổi chiều ấy, cho chúng tôi ăn bánh mì trắng với mứt dâu và nước si rô Kool-Aid sắc hoa. Chúng tôi ăn uống no nê, em trai tôi và tôi, còn ba mẹ tôi thì uống bia với Roy, tuy ông uống ba lon thì ba mẹ tôi mới hết một lon, và chúng tôi nằm ngửa, chung quanh là những nhánh cây chót vót, mặt nước sẫm màu, và bầy ruồi mập như những trái dâu dại trong bụi rậm mà chúng tôi phải học tên của từng loại. Ở đây không có nhện độc, chỉ có một loại thường để lại những vết lằn trên da.
Ba tôi là người tiên phong thử trò chơi trượt nước, mặt bị dập xuống nước mấy mươi lần; ba muốn trở thành người Canada chính gốc, đậm chất Canada hơn cả Roy, và hai cậu con trai của Roy, hai anh biết lái tàu giỏi như thần, ngay trong lúc tay cầm lon bia dưới bầu trời ngập nắng. Tôi nhớ là mình đã phải lòng một trong hai người, mái tóc anh ta bồng bềnh trong gió đằng sau bánh lái, cùng với nụ cười tàn nhẫn của anh. Nhưng hình như điều này không thật, bởi lúc ấy tôi chỉ mới lên sáu.
Ba tôi rốt cuộc cũng trượt nước thành thạo. Ba và hai cậu con trai của Roy xé toạc tấm lưng mặt hồ như những kỵ mã vung roi trên lưng ngựa, trong lúc Roy ngồi trong bóng mát thưởng thức chai bia, tôi thì ngồi chơi với cậu em trai trong bóng râm trơn ướt dưới chiếc cầu tàu đậu. Mẹ ngồi ngắm chúng tôi từ phía bóng râm, những ngón tay mân mê đám rễ cây bu-lô ngập nước, mọc quá sát bờ hồ.
Sau đó, mấy người đàn ông nhóm ngọn lửa, Roy hay nhờ chúng tôi đi tìm nhánh cây, mà phải để ý chọn những cành còn tươi bởi không chúng sẽ xém lửa và bùng cháy. Chúng tôi hay tranh nhau xem ai nướng kẹo bông gòn dẻo vàng nhất mà không bị cháy đen, nhưng lần nào cây kẹo của tôi cũng bị cháy xém. Tôi không biết giữ cây kẹo xa tầm lửa.
Sau đó ít lâu bầy muỗi kéo tới, rồi bóng tối nối tiếp theo sau. Roy lấy giày đá lon bia, loại giày bốt rắn chắc dùng để làm ruộng mà ông vẫn mang dù trời có nóng đến đâu. Ông cứ đá tới cho đến khi nó lăn vào vũng tối, rồi bảo tôi đến ngồi vào lòng ông. Và ngay cả khi có ba mẹ tôi ngồi bên cạnh, tôi vẫn cảm thấy sờ sợ bàn tay ông, những ngón tay chai sạm trên da tôi rám vàng, những ngón tay như sinh vật lưỡng cư trên cạn cũng như dưới nước hồ, và hơi thở ông mang vị ngòn ngọt, buồn bã, lẫn mùi hoa bia và mùi cô đơn, phủ ngập đầy khuôn mặt tôi.
Xe buýt tròng trành, cụ già ngẩng đầu lên nhìn về phía tôi, nhưng ánh mắt tôi vụt trốn mất như những con cáo, rút vào những lỗ hở trên quần jeans tôi.
Tôi ước gì chuyến xe đã đến đích.
Lý do duy nhất mà tôi chịu lấy chuyến số 11 đến khu ngoại ô này, như thể đang đến tận cùng trái đất, là chỉ để đi gặp ba tôi. Và vợ ông. Trong căn nhà mới mà ba đang sửa sang lại cho vừa ý.
Dạo chúng tôi còn sống chung, gia đình bốn người trong thị trấn bé nhỏ ấy ở Alberta, ba tôi thường xuyên sửa sang cho đến khi ngôi nhà trở thành như mơ ước. Một giấc mơ mà bất cứ người đàn bà nào cũng chịu chết đi để được sống trong đó. Bất cứ người đàn bà nào ngoại trừ mẹ tôi.
Vài tháng trước, tôi và mẹ có lật lại những bức ảnh cũ vào khoảng thời gian đó, khoảng đời trước khi tôi lên mười, lúc gia đình mới dời đến sống tại vùng ven biển rồi tan rã. Mẹ và tôi tìm được rất nhiều khung hình của ngôi nhà đó, như xấp tư liệu về những gì tốt nhất một người đàn ông có thể đảm đang. Bên ngoài là những lớp ván lợp bằng gỗ tuyết tùng như những cọng lông chim, và tất cả những gì ấm cúng và hạnh phúc nhất nằm ở bên trong, như kính màu, gỗ và cây hoa. Ngoài vườn có hai con mèo, hai con chó, nhà trên cây có xích đu. Tất cả đều do ba tự tay làm lấy. Nhìn kìa, đẹp chưa kìa, mẹ tôi thốt lên, tay đưa cao tấm hình. Thật là một ngôi nhà hoàn mỹ.
Những khung ảnh của khoảng đời đó đã bị nhốt vào trong một cái rương, để lại hết cho mẹ vì ba tôi không thể chịu được nỗi đau đớn. Không ai dám nhìn lại những bức ảnh này hơn mấy chục năm qua, như thể bốn chúng tôi là đồng bọn trong một tội ác tày trời mà không ai dám nhắc lại và ai cũng muốn lãng quên. Tôi ngạc nhiên là mình đã nhớ thật nhiều điều: cấu trúc của ngôi nhà tuyết tùng đó, sân vườn nơi tôi ngồi vặt cỏ dại với em trai, hai con mèo đã chết vì bệnh sài sốt, hai con chó, một con ở với Roy bên bờ hồ bởi vì nó sủa nhiều quá, một con theo ba tôi sau cuộc ly hôn, một ký ức đỏ da thắm thịt về khoảng đời chung của gia đình tôi. Tôi nhớ chính xác mọi thứ, mẹ tôi như nàng tiên cá với hai bím tóc dài chấm tới nước hồ, dọc theo hai cánh tay vàng óng, ba tôi với bộ râu hoang dại hơn, cúi mình trước đốm lửa, khói trong mắt, một tay ôm vòng đứa con trai bé nhỏ. Tôi ngồi trên lòng già Roy, ánh mắt ông lim lim vì say, bàn tay ông nóng và cứng cỏi đặt trên đầu gối tôi.
Cụ già thì thầm với lồng ngực những bí mật u uất, như khơi gợi trong tôi về lần trước tôi đến nơi đây. Ba tôi uống cạn hết chai bia này đến chai bia khác, như thể mấy cái chai được buộc chung bằng một sợi chỉ dài vô hình. Lúc chúng tôi ăn gần hết ly kem là lúc ba sẵn sàng khóc lóc về mẹ tôi. Ba nhìn xuống đáy ly cạn rồi bảo rằng ông chưa yêu ai nhiều như thế, mẹ là người đã sinh con cho ông, mẹ là người biết con người thật của ông. Không, ông chưa bao giờ yêu ai bằng mẹ cả, trong lúc vợ ông cố tình gây tiếng động trong bếp, mấy cái đĩa va vào nhau loảng xoảng trong máy rửa chén, đập nồi niêu trong bồn rửa chén để không nghe thấy gì.
Hai cánh cửa xe buýt thở dài. Cụ già tập tễnh bước xuống những bậc thang, tôi dõi theo khuôn mặt bành, đầy vẻ hoang mang của ông xuyên qua lớp kính, như nét mặt của chú chó bị bỏ rơi bên lề đường. Tôi mường tượng ông đang đi thăm nhà con gái. Cô ấy sẽ giận dữ khi biết ông đang say xỉn, nhưng cô cũng sẽ cho ông ăn cái gì đó rồi dìu ông vào giường ngủ.
Tối nay là sinh nhật ba tôi, hy vọng tinh thần ông có phần phấn chấn hơn.
Hay có khi ông sẽ lợi dụng thời cơ này để uống nhiều hơn.
Dù gì thì đây là lần thứ nhất trong vòng sáu năm nay tôi mới mang cho ông một món quà đúng nghĩa. Một cái khung để được sáu tấm hình. Tôi đã trân trọng chọn và ghép vào khung sáu tấm ảnh, ba ảnh của tôi, hai ảnh của em trai, một ảnh của ba và tôi đứng trước bờ hồ nhà Roy. Tất cả được chụp sau cuộc ly hôn. Không có ảnh của mẹ, tuy rằng bà vẫn có mặt trong tất cả mọi bức ảnh, như một cái bóng. Cho dù ba say bí tỉ đến cỡ nào, tôi sẽ nói với ba, nhìn kìa, chúng ta từng ở đó. Và giờ chúng ta đang ở đây.
Lưu Diệu Vân chuyển ngữ
(TCSH326/04-2016)
| Dịch giả Lưu Diệu Vân, sinh tháng Mười Hai, năm 1979, là nhà thơ, dịch giả, và biên tập viên tạp chí văn chương Da Màu. Cô nhận bằng thạc sĩ từ đại học Massachusetts vào năm 2009. Tác phẩm đã xuất bản: 7 giờ 47 phút, thơ, (Nxb. Văn Nghệ, 2010), Màu cỏ xanh trong suốt, truyện chớp, đồng tác giả, (Nxb. Trẻ, 2010), tập thơ Anh ngữ Poems of Lưu Diệu Vân, Lưu Mêlan, Nhã Thuyên, đồng tác giả, (Nxb. Vagabond Press, 2013), và tập thơ Anh ngữ M of December, Nxb. Vagabond Press (2106). |
Tải mã QRCode
AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)
Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.
L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".
Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.
Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.
LTS: Butribabu tên thật là Sivarazu Vencata Xubarao (1916 - 1967) là một nhà văn lớn của Ấn Độ, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Còn lại gì?” và 10 tập truyện ngắn trong đó tập đầu tay “Năm truyện ngắn” xuất bản năm 1933. Ông sáng tác bằng tiếng Telugu truyện ngắn “Khasima Bi” in trong tập “Tuyển tập sáng tác của các nhà văn Nam Á” của nhà xuất bản “Văn học”, Mat-xcơva, 1980.
LGT: R. Grossmith sinh năm 1954 ở Dagenham thuộc London, nhận bằng tiến sĩ với luận án về Nghệ thuật tiểu thuyết của Vladimir Nabokov và hiện sống ở Glasgow, nơi ông làm việc biên soạn tự điển.
L.T.S: Nikom Rayawa là nhà văn trẻ sinh ở một làng phía Bắc thủ đô Băng Cốc. Nikom Rayawa thuộc phái văn học "Trăng lưỡi liềm" có xu hướng nhân bản và tự do.
Lỗ Tấn là nhà văn hiện đại Trung Quốc rất đỗi quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Ông quê ở Thiệu Hưng, Triết Giang, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881, mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. Năm nay là năm kỉ niệm 130 năm ngày sinh và 75 năm ngày mất của ông.
William Butler Yeats (1865 - 1939) là nhà thơ và kịch tác gia lớn của Ailen, sinh ở Dublin. Cùng với T.Eliot, Yeats đã cách tân nền thơ Anh và Ailen. Được giải thưởng Nôbel năm 1923. Sáng lập Hội Văn học Ailen và Nhà hát Quốc gia Ailen.
LGT: O. Henry là bút danh của William Sydney Porter. Ông sinh năm 1862 và mất năm 1910, cùng năm qua đời của Mark Twain.
LGT: James Ross là nhà văn đương đại của Anh. Ông là một trong số những thành viên của trường phái Không Tưởng. James sống trong một căn nhà cũ, viết bên một chiếc bàn cũ bằng một chiếc máy tính xách tay giá rẻ, theo như lời ông nói. James Ross bắt đầu cầm bút từ năm 1996, cho đến nay đã viết hàng loạt truyện ngắn mang phong cách riêng, đậm chất huyền ảo và giả tưởng.
Mia Couto sinh ngày 5 tháng 7.1955 tại Beira, Mozambique. Ông là nhà văn Mozambique nổi tiếng. Các tác phẩm của ông viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, đã được dịch rộng rãi ra nhiều thứ tiếng và được in ở trên 22 quốc gia. Truyện ngắn dưới đây được David Brookshaw dịch từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Anh. Bản tiếng Việt theo David Brookshaw.
LGT: Ngày nay, khi văn học dần rời xa đại tự sự mà thay vào đó là sự lên ngôi của tiểu tự sự thì truyện cực ngắn là một trong những thể loại được người sáng tạo và người đồng sáng tạo quan tâm. Tuy nhiên cho đến nay thì dường như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho cái gọi là “truyện cực ngắn”. Truyện cực ngắn còn được biết đến dưới nhiều dạng thức định danh như “truyện chớp” (flash fiction), “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “vi truyện” (micro fiction)...
L.T.S: Kurt Kusenberg (1904-1983), sinh ở Göteborg, Thụy Điển, mất tại Đức. Giám đốc văn học suốt ba mươi năm tại một nhà xuất bản trong nước và chủ biên một loại sách viết riêng về các triết gia, bác học và nhà văn. Tác giả của nhiều truyện kể mang màu sắc kỳ dị.
L.T.S: Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chi-lê. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chi lê sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pi-nô-chê khát máu tại Chi-lê chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.
LTS: Valentin Rasputin sinh năm 1937 tại một ngôi làng ở Siberia, Ust-Uda. Tốt nghiệp xong đại học Irkutsk, ông làm việc cho các tờ báo ở Irkutsk và ở Krasnoyarsk trong nhiều năm. Truyện ngắn đầu tiên của ông xuất hiện năm 1961. Truyện “Tiền bạc cho Ma-ria” đem lại danh tiếng cho ông. Với những truyện xuất hiện sau đó như “Kỳ hạn cuối cùng”, “Hãy sống và nhớ đến tôi”, “Vĩnh biệt Ma-chi-ô-ra”, ông được khẳng định như một trong những nhà văn Xô-viết lớn nhất. Truyện ngắn dưới đây xuất hiện trong một tập truyện mới của ông, tập truyện có đề là “Cuộc sống và tình yêu”.
LGT: Hồ Thích là nhà văn, học giả lớn của Trung Quốc. Truyện cực ngắn này đã rạch đôi hai nền văn minh với hai lối sống, hai cách tư duy. Với nền văn minh nông nghiệp, xã hội tiểu nông, mọi thứ chỉ cần tương đối. Đem lối sống, cách tư duy ấy sang nền văn minh đại công nghiệp thì trật khớp hết, và… chết.
PHRÊ-ĐRÍCH SI-LAN-ĐE- Tất cả đứng dậy, - viên mõ tòa nói với giọng đều đều.Ông chánh án bước vào, kéo ghế lại gần rồi ngồi xuống.- Tất cả ngồi xuống, - viên mõ tòa làm xong phận sự, chẳng còn buồn để ý đến những gì diễn ra trước mắt.
A-ri-en Đot-phơ-man sinh năm 1942 tại Chi-lê. Giáo sư dạy thuyết giảng tại Đại học Văn thuộc Viện Đại học Chi-lê, ông phải rời bỏ Chi-lê vào năm 1973, viết truyện ngắn, tiểu luận và thơ.Truyện ngắn Viên thuốc bọc đường viết theo kỹ thuật chen lồng đối thoại và chen lồng hiện tại và tương lai.Nội dung truyện vạch trần sự vật lộn miếng ăn tại Hoa Kỳ khiến cho lắm kẻ tha phương lao vào một số nghề nghiệp nguy hiểm, khốn nạn.
An-ghiêc-đax Pô-xi-ux, sinh năm 1930, tại làng Ketubai - ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Litva ở Học viện Giáo dục Klaipeda - Ông viết văn vào năm 1953, tác giả của nhiều truyện ký, đồng thời ông còn là nhà văn viết nhiều cho tuổi thơ.