Tiểu thuyết gia Nhật Bản từng yêu một cô gái mồ côi làm phục vụ bàn. Họ đính ước nhưng không bao giờ trở thành vợ chồng bởi cô gái đột ngột hủy hôn không một lời giải thích.
Yasunari Kawabata và Hatsuyo Ito. Ảnh: Kawabata Foundation.
Yasunari Kawabata (14/6/1899 - 16/4/1972) là tiểu thuyết gia Nhật Bản đầu tiên giành Nobel Văn học vào năm 1968 với những tác phẩm Xứ tuyết, Người đẹp say ngủ, Cố đô... Ngoài những áng văn "đẹp và buồn" mang đậm tâm hồn Nhật, Kawabata còn được biết đến với cuộc đời nhiều u uẩn, bi kịch và kết thúc bằng vụ tự tử bằng khí đốt trong căn phòng ở Kamakura năm 1972. Những nỗi u buồn trong cuộc đời Kawabata được cho là xuất phát từ tuổi thơ mồ côi cả cha lẫn mẹ, từ cái chết của người bạn thân, và từ cuộc tình đầu bất hạnh với cô gái trẻ tuổi Hatsuyo Ito. Bí ẩn câu chuyện tình bi kịch được vén màn trong một bài viết trên trang The Wall Street Journal mới đây.
Yasunari Kawabata nhìn thấy Hatsuyo Ito lần đầu tiên năm 1919, tại quán cà phê Elan ở Tokyo. Kawabata khi đó 20 tuổi, đang cân nhắc về việc theo đuổi ngành văn học Nhật Bản ở trường đại học; Ito 13 tuổi, làm phục vụ tại quán cà phê. Ito xinh đẹp, tràn đầy năng lượng và cô độc - cô mồ côi mẹ khi mới lên 9 tuổi. Kawabata, cũng như Ito, là một đứa trẻ mồ côi.
Cả hai phải lòng nhau. Họ liên lạc với nhau nhiều hơn khi người nuôi nấng Ito thuở nhỏ rời khỏi Tokyo và cô được nhận nuôi tại một ngôi đền ở tỉnh Gifu. Tháng 9/1921, khi đã là sinh viên Đại học Đế chế Tokyo (ngày nay là Đại học Tokyo), Kawabata tới thăm Ito. Hatsuyo Ito nhận lời lấy Kawabata ngày 8/10/1921.
Họ viết cho nhau những lá thư tràn đầy hy vọng, cùng lên kế hoạch cho tương lai. Thế nhưng, chỉ một tháng sau ngày đính ước, Hatsuyo Ito viết cho Kawabata lá thư nói rằng cô không bao giờ có thể gặp lại ông lần nữa. Những năm sau đó, hình bóng của Ito - cuộc tình đầu bi thương - được tái hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của Kawabatta. Lý do Hatsuyo Ito đột nhiên biến mất luôn là một bí mật bị che phủ.
Mới đây, con rể của Kawabata - Kaori Kawabata - cho biết trên tạp chí hàng tháng Bungei Shunju, rằng anh tin mình đã giải mã được bí ẩn nhờ chắp nối thông tin trong những lá thư mới phát hiện cũng như những đoạn nhật ký chưa từng công bố của tiểu thuyết gia. Trong khi Yasunari Kawabata sau đó nổi tiếng cả thế giới với tư cách là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel Văn học, trong những lá thư gửi Hatsuyo Ito, ông đơn giản chỉ là "Yasu-san" (anh Yasu). Những lá thư vừa tìm thấy tiết lộ quãng thời gian cuộc tình tan vỡ - từ tháng 9 tới tháng 11/1921 - được phát hiện trong ngôi nhà cũ của Kawabata ở Kamakura. 10 trong số đó là của Ito gửi cho Kawabata và một lá thư, chưa gửi, là những dòng chữ viết tay của nhà văn.
Những lá thư của Ito, được đựng trong những phong bao nhỏ, chan chứa tình yêu mãnh liệt, ngây thơ của cô gái trẻ. "Em chưa bao giờ viết những lời yêu đương trong một lá thư. Đây là lần đầu tiên. Cuối cùng em cũng hiểu được thế nào là tình yêu". Lá thư đề ngày 23/10/1921, một phần vừa được đăng trên tạp chí Bungei Shunju.
Trong khi đó, trong những dòng mở đầu của lá thư chưa gửi, Kawabata hỏi Ito liệu rằng cô đã nhận được thư ông gửi từ hôm 27/10 hay chưa. "Em vẫn chưa hồi âm, ngày lại ngày tôi vẫn ngồi đợi. Tôi rất lo lắng. Tôi lo cho em, tôi không thể làm bất cứ điều gì cho tới khi tôi gặp lại em" - ông viết - "Tôi không ngủ cả đêm chỉ sợ rằng em bị ốm. Tôi lo lắng cho em đến phát khóc". Hay "Tôi nhớ em, tôi nhớ em", là những lời yêu đương thống thiết của chàng trai 22 tuổi gửi tình đầu.
Trong lá thư, Kawabata nghi ngờ có thể ngôi đền ở Gifu, nơi cô ở đã phát hiện mối quan hệ của họ và thậm chí thủ tiêu những lá thư của ông. Ông thuyết phục cô hãy tin tưởng ông, và nói rằng mọi thứ sẽ ổn khi cô cùng ông tới Tokyo. "Tôi sẽ làm mọi điều theo ý em". Lá thư được viết bằng mực xanh và nhiều từ được xóa và viết chận lên trên.
Trong lá thư của Ito ngày 8/11, cô mang tới cho Kawabata một thông tin sét đánh: Cô buộc phải phá vỡ hôn ước vì một điều "cấp bách" mà cô không thể nói nhiều về nó. "Có thể anh sẽ bảo em nói cho anh điều đó là gì, nhưng em thà chết còn hơn nói ra với anh. Đây là lời tạm biệt".
Ba năm sau đó, Kawabata xuất bản truyện ngắn "Emergency". So sánh giữa tác phẩm và lá thư cho thấy, nhà văn dùng nhiều từ của chính Hatsuyo Ito, với vài sự thay đổi nhỏ. Nhưng lý do "cấp bách" đó là gì? Kaori Kawabata, con rể nhà văn, nói những lá thư mới tìm thấy giúp giải thích rõ hơn một đoạn nhật ký chưa từng công bố của Kawabata, viết ngày 20/11/1923. Tiểu thuyết gia viết rằng, ở Saihoji, ngôi đền nơi Ito sống, cô bị một thầy tu cưỡng bức. Với mặc cảm không còn trinh trắng, Ito cảm thấy mình không thể nào làm vợ Kawabata, Kaori Kawabata nhận định.
"Đây là lời giải thích khả dĩ nhất cho sự từ chối đột ngột của Hatsuyo Ito", Sonohiro Mizuhara đến từ quỹ Kawabata nói trong một cuộc phỏng vấn với Japan Real Time. "Với những lá thư này, đây là lần đầu tiên những dấu hiệu của 'điều cấp bách' được hé lộ".
Sau khi chia tay Kawabata, Ito trở lại nghề phục vụ bàn, kết hôn với một người chủ quán cà phê, tái hôn và sinh con. Bà qua đời tháng 2/1951. Ngày 2/7/1965, trong bài viết trên Asahi Weekly, Kawabata lúc này 66 tuổi, kể lại mối tình bi kịch thời trẻ của ông. "Tôi là chàng trai 20 tuổi, và tôi hứa hôn với một cô gái 14 tuổi. Mọi thứ đột nhiên tan vỡ, và tôi bị nhấn chìm vào vũng sâu. Sau trận động đất Kanto (năm 1923), tôi xới tung những cánh đồng đang cháy ở Tokyo, bởi tôi muốn biết chắc rằng cô ấy an toàn. Nhưng cô gái ấy không bao giờ còn tồn tại trên cuộc đời này nữa".
Tiểu thuyết gia kết hôn với Hideko năm 32 tuổi và qua đời năm 1972, ở tuổi 73.
Nguồn: Song Ngư - Vnexpress
Tải mã QRCode
Trong chuyến sang công tác Việt Nam, giáo sư tiến sĩ A-I-Niculin trưởng ban văn học Á-Phi của Viện Văn học thế giới mang tên Gorki (Liên Xô), đã đến Huế.
Trên hành trình vòng quanh nước Mỹ và ghi lại những bức ảnh cho cuốn sách mang tên “American Farmer” (tạm dịch: Nông dân Mỹ) của mình, Paul Mobley đã rất sốc khi biết rằng trong số những người làm việc trên các cánh đồng mà anh từng đi qua, có rất nhiều người đã trên 100 tuổi.
Mark Taimanov là trường hợp hiếm hoi trên thế giới khi cùng đạt tới đỉnh cao ở hai lĩnh vực là cờ vua và nhạc cổ điển.
TUỆ ĐAN
“Ngôn ngữ bị bão hòa và trở nên có sức sống thông qua thời gian”
(Jorge Luis Borges)
JEAN-PAUL SARTRE (Nhật Vương dịch)
Jean-Paul Sartre (1905 - 1980), nhà văn Pháp, là một trong số những gương mặt tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh, thường được vinh danh là một trong số các triết gia hàng đầu của nền triết học Pháp thế kỷ XX.
TUỆ ĐAN
Nguồn mạch của tác phẩm tuôn ra từ sự cô đơn của nó, từ đó nó bắt đầu và tìm kiếm một tác lực cho sự khởi đầu ấy.
(Maurice Blanchot)
YẾN THANH
Thực thể Việt là một cấu trúc văn hóa động, trong đó nhiều yếu tố bản sắc chỉ được hình thành thông qua giao lưu với quốc tế, hấp thụ từ tinh hoa văn hóa nhân loại để biến “cái bên ngoài” trở thành “cái bên trong”.
LE VIEUX SIMON
Hồi ký
Trong thời gian bị lưu đày ở đảo Réunion (1916 - 1945) hoàng tử Vĩnh San (tức cựu hoàng Duy Tân) đã có nhiều hoạt động văn hóa và chính trị.
PHẠM TẤN XUÂN CAO
Chiều ngày 13/10/2016, Hội đồng Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã chính thức công bố giải Nobel Văn chương thuộc về nhạc sĩ, ca sĩ, nhà thơ người Mỹ Bob Dylan với thông cáo giải thưởng được trao vì những phát kiến của ông trong việc tìm kiếm những cách diễn đạt thi pháp mới lạ cho truyền thống âm nhạc Mỹ.
Hòn đảo Cuba bé nhỏ và nghèo nàn hiện là một trong những nơi sản xuất ra các vũ công trẻ xuất sắc nhất thế giới. Nhà hát Ballet Hoàng Gia và Ballet Quốc gia Anh, San Francisco Ballet và New York City ballet đều có những diễn viên múa chính người Cuba. Làm thế nào một quốc gia nghèo nàn bị cô lập với 11 triệu dân có thể làm được điều đó?
Chúng ta đều biết rằng các nhân vật nổi tiếng thế giới như Albert Einstein, Benjamin Franklin, Natalie Portman, Ellen DeGeneres, Gandhi, Paul McCartney, Charles Darwin và Betty White cùng chia sẻ một điểm chung với nhau - đó chính là họ đều là những người có chế độ ăn dựa trên thực vật. Và có bao giờ bạn có hỏi lý do vì sao không?
Sau nhiều thế kỷ, các bức tường từng bảo vệ các Hoàng đế Trung Quốc trong Tử Cấm Thành đã bắt đầu suy yếu, gạch bị long ra và bề mặt đã có nhiều vết nứt.
TAMARA MOTYLEVA
Nhờ Tạp chí Văn học Obozreniye đăng tải "Những tư tưởng không hợp thời" của Maxim Gorky, chúng ta đã có thể hiểu nội dung sự khác biệt giữa ông với Lênin và những người Bônsêvích trước và sau cách mạng tháng 10.
Cách đây 75 năm, ngày 7/11/1941, nhân kỷ niệm 24 năm Cách mạng Tháng Mười, nước Nga đã tổ chức một buổi diễu binh, bất chấp những khó khăn, phức tạp của thời chiến khi quân phátxít Ðức đang ở cửa ngõ Moskva.
TUỆ ĐAN
Thân xác hiện hữu để rồi đem lại sức nặng và hình dạng cho sự tồn tại của chúng ta.
O. P.
Judith Lorber, sinh năm 1931, là giáo sư hưu giảng các môn Xã hội học và Phụ nữ học tại Trung tâm Tốt nghiệp thuộc Đại học Thành phố New York và Học viện Brooklyn. Bà là nhà lí thuyết nền tảng của kiến thiết xã hội về giới tính và đóng một vai trò then chốt trong việc tạo dựng và chuyển hóa ngành giới tính học.
PHẠM HỮU THU
Trong gần một tháng được ở “xứ sở chuột túi”, tôi có dịp đi đó đi đây và tiếp xúc với nhiều người, chủ yếu là kiều bào ta ở vùng Cabramatta - nơi được mệnh danh là thủ phủ của người Việt ở Australia.
NGUYỄN THỊ TUYẾT
Từ những chuyến tàu cưỡng bức xuyên Đại Tây Dương, người da đen đặt chân lên đất Mỹ với một nhân vị mới: người nô lệ. Toni Morrison ý thức sâu sắc về những cướp đoạt ấy, toàn bộ tác phẩm của bà không chỉ là lịch sử của người da đen (hơn ba thế kỷ) với tất cả những vấn đề khởi đi từ hệ lụy của màu da, mà quan trọng hơn, là nỗ lực mở ra một phả hệ mới, phả hệ của lòng nhân; và trên nền tảng bảo bối là bản sắc văn hóa, lịch sử tổ tiên, mỗi cá nhân phải giải thoát nhân vị nô lệ trong chính bản thân mình.
Ngày 17 tháng Chín vừa qua, tại Trung Tâm Nghệ thuật và Nghiên cứu Bétonsalon, thuộc trường đại học Paris VII-Didérot, thuộc quận XIII, Paris đã tổ chức triển lãm và hội thảo bàn tròn về các nghệ sỹ đương đại viễn xứ với chủ đề “Anywhere But Here”, trong đó có vua Hàm Nghi của Việt Nam.
Nữ văn sĩ nổi tiếng Chilê, Isabel Allende (Isabên Agiênđê) trả lời phóng viên tạp chí Cuba International (1987) trong chuyến đi thăm Cuba của bà.