Mối tình đầu bi kịch của nhà văn đoạt giải Nobel Kawabata

08:11 15/07/2014

Tiểu thuyết gia Nhật Bản từng yêu một cô gái mồ côi làm phục vụ bàn. Họ đính ước nhưng không bao giờ trở thành vợ chồng bởi cô gái đột ngột hủy hôn không một lời giải thích.

Yasunari Kawabata và Hatsuyo Ito. Ảnh: Kawabata Foundation.

Yasunari Kawabata (14/6/1899 - 16/4/1972) là tiểu thuyết gia Nhật Bản đầu tiên giành Nobel Văn học vào năm 1968 với những tác phẩm Xứ tuyết, Người đẹp say ngủ, Cố đô... Ngoài những áng văn "đẹp và buồn" mang đậm tâm hồn Nhật, Kawabata còn được biết đến với cuộc đời nhiều u uẩn, bi kịch và kết thúc bằng vụ tự tử bằng khí đốt trong căn phòng ở Kamakura năm 1972. Những nỗi u buồn trong cuộc đời Kawabata được cho là xuất phát từ tuổi thơ mồ côi cả cha lẫn mẹ, từ cái chết của người bạn thân, và từ cuộc tình đầu bất hạnh với cô gái trẻ tuổi Hatsuyo Ito. Bí ẩn câu chuyện tình bi kịch được vén màn trong một bài viết trên trang The Wall Street Journal mới đây.

Yasunari Kawabata nhìn thấy Hatsuyo Ito lần đầu tiên năm 1919, tại quán cà phê Elan ở Tokyo. Kawabata khi đó 20 tuổi, đang cân nhắc về việc theo đuổi ngành văn học Nhật Bản ở trường đại học; Ito 13 tuổi, làm phục vụ tại quán cà phê. Ito xinh đẹp, tràn đầy năng lượng và cô độc - cô mồ côi mẹ khi mới lên 9 tuổi. Kawabata, cũng như Ito, là một đứa trẻ mồ côi.

Cả hai phải lòng nhau. Họ liên lạc với nhau nhiều hơn khi người nuôi nấng Ito thuở nhỏ rời khỏi Tokyo và cô được nhận nuôi tại một ngôi đền ở tỉnh Gifu. Tháng 9/1921, khi đã là sinh viên Đại học Đế chế Tokyo (ngày nay là Đại học Tokyo), Kawabata tới thăm Ito. Hatsuyo Ito nhận lời lấy Kawabata ngày 8/10/1921.

Họ viết cho nhau những lá thư tràn đầy hy vọng, cùng lên kế hoạch cho tương lai. Thế nhưng, chỉ một tháng sau ngày đính ước, Hatsuyo Ito viết cho Kawabata lá thư nói rằng cô không bao giờ có thể gặp lại ông lần nữa. Những năm sau đó, hình bóng của Ito - cuộc tình đầu bi thương - được tái hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của Kawabatta. Lý do Hatsuyo Ito đột nhiên biến mất luôn là một bí mật bị che phủ.

Mới đây, con rể của Kawabata - Kaori Kawabata - cho biết trên tạp chí hàng tháng Bungei Shunju, rằng anh tin mình đã giải mã được bí ẩn nhờ chắp nối thông tin trong những lá thư mới phát hiện cũng như những đoạn nhật ký chưa từng công bố của tiểu thuyết gia. Trong khi Yasunari Kawabata sau đó nổi tiếng cả thế giới với tư cách là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel Văn học, trong những lá thư gửi Hatsuyo Ito, ông đơn giản chỉ là "Yasu-san" (anh Yasu). Những lá thư vừa tìm thấy tiết lộ quãng thời gian cuộc tình tan vỡ - từ tháng 9 tới tháng 11/1921 - được phát hiện trong ngôi nhà cũ của Kawabata ở Kamakura. 10 trong số đó là của Ito gửi cho Kawabata và một lá thư, chưa gửi, là những dòng chữ viết tay của nhà văn.

Những lá thư của Ito, được đựng trong những phong bao nhỏ, chan chứa tình yêu mãnh liệt, ngây thơ của cô gái trẻ. "Em chưa bao giờ viết những lời yêu đương trong một lá thư. Đây là lần đầu tiên. Cuối cùng em cũng hiểu được thế nào là tình yêu". Lá thư đề ngày 23/10/1921, một phần vừa được đăng trên tạp chí Bungei Shunju.

Trong khi đó, trong những dòng mở đầu của lá thư chưa gửi, Kawabata hỏi Ito liệu rằng cô đã nhận được thư ông gửi từ hôm 27/10 hay chưa. "Em vẫn chưa hồi âm, ngày lại ngày tôi vẫn ngồi đợi. Tôi rất lo lắng. Tôi lo cho em, tôi không thể làm bất cứ điều gì cho tới khi tôi gặp lại em" - ông viết - "Tôi không ngủ cả đêm chỉ sợ rằng em bị ốm. Tôi lo lắng cho em đến phát khóc". Hay "Tôi nhớ em, tôi nhớ em", là những lời yêu đương thống thiết của chàng trai 22 tuổi gửi tình đầu.

Trong lá thư, Kawabata nghi ngờ có thể ngôi đền ở Gifu, nơi cô ở đã phát hiện mối quan hệ của họ và thậm chí thủ tiêu những lá thư của ông. Ông thuyết phục cô hãy tin tưởng ông, và nói rằng mọi thứ sẽ ổn khi cô cùng ông tới Tokyo. "Tôi sẽ làm mọi điều theo ý em". Lá thư được viết bằng mực xanh và nhiều từ được xóa và viết chận lên trên.

Trong lá thư của Ito ngày 8/11, cô mang tới cho Kawabata một thông tin sét đánh: Cô buộc phải phá vỡ hôn ước vì một điều "cấp bách" mà cô không thể nói nhiều về nó. "Có thể anh sẽ bảo em nói cho anh điều đó là gì, nhưng em thà chết còn hơn nói ra với anh. Đây là lời tạm biệt".

Ba năm sau đó, Kawabata xuất bản truyện ngắn "Emergency". So sánh giữa tác phẩm và lá thư cho thấy, nhà văn dùng nhiều từ của chính Hatsuyo Ito, với vài sự thay đổi nhỏ. Nhưng lý do "cấp bách" đó là gì? Kaori Kawabata, con rể nhà văn, nói những lá thư mới tìm thấy giúp giải thích rõ hơn một đoạn nhật ký chưa từng công bố của Kawabata, viết ngày 20/11/1923. Tiểu thuyết gia viết rằng, ở Saihoji, ngôi đền nơi Ito sống, cô bị một thầy tu cưỡng bức. Với mặc cảm không còn trinh trắng, Ito cảm thấy mình không thể nào làm vợ Kawabata, Kaori Kawabata nhận định.

"Đây là lời giải thích khả dĩ nhất cho sự từ chối đột ngột của Hatsuyo Ito", Sonohiro Mizuhara đến từ quỹ Kawabata nói trong một cuộc phỏng vấn với Japan Real Time. "Với những lá thư này, đây là lần đầu tiên những dấu hiệu của 'điều cấp bách' được hé lộ".

Sau khi chia tay Kawabata, Ito trở lại nghề phục vụ bàn, kết hôn với một người chủ quán cà phê, tái hôn và sinh con. Bà qua đời tháng 2/1951. Ngày 2/7/1965, trong bài viết trên Asahi Weekly, Kawabata lúc này 66 tuổi, kể lại mối tình bi kịch thời trẻ của ông. "Tôi là chàng trai 20 tuổi, và tôi hứa hôn với một cô gái 14 tuổi. Mọi thứ đột nhiên tan vỡ, và tôi bị nhấn chìm vào vũng sâu. Sau trận động đất Kanto (năm 1923), tôi xới tung những cánh đồng đang cháy ở Tokyo, bởi tôi muốn biết chắc rằng cô ấy an toàn. Nhưng cô gái ấy không bao giờ còn tồn tại trên cuộc đời này nữa".

Tiểu thuyết gia kết hôn với Hideko năm 32 tuổi và qua đời năm 1972, ở tuổi 73.

Nguồn: Song Ngư - Vnexpress

 

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • "Kính gửi đồng chí Mikhail Sergeyevich Gorbachov, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô...

  • Cuốn tự truyện lần đầu được xuất bản của nữ nhà văn Laura Ingalls Wilder - tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” - sẽ cho độc giả được biết những điều không như mơ đằng sau cuộc sống được “tô vẽ” trong cuốn tiểu thuyết…

  • Trong tác phẩm trình bày những suy ngẫm về đạo Thiên Chúa, “Bức thư gửi một linh mục” (Letter to a Priest)  được viết một năm trước khi tác giả qua đời vào năm 1943, Simone Weil đã đưa ra một nhận định đáng lưu ý: “Đối với bất kỳ người nào, việc đổi tôn giáo cũng là điều nguy hiểm như việc đổi ngôn ngữ đối với một nhà văn. Nó có thể thành công song cũng có thể dẫn đến những hậu quả khốc hại.”

  • ROBERT J.C. YOUNG(1)  

    "Chủ nghĩa hậu thực dân/hậu thuộc địa” (postcolonialism) là thuật ngữ được sử dụng để định danh cho một loại hình nghiên cứu học thuật liên ngành kết hợp giữa chính trị, lí thuyết và lịch sử; được xây dựng nhằm mục đích tạo ra một diễn đàn xuyên quốc gia cho những nghiên cứu lấy nền tảng là bối cảnh lịch sử của chủ nghĩa thực dân cũng như bối cảnh chính trị của những vấn đề đương đại của quá trình toàn cầu hóa.

  • Một nghiên cứu mới cho thấy người Ai Cập cổ đại có thể đã bắt đầu ướp xác sớm hơn 1.500 năm của so với dự đoán ban đầu.

  • Kênh đào Panama đã chính thức khai trương cách đây đúng một thế kỷ, vào ngày 15/8/1914. Bất chấp việc phải đối mặt với nhiều thách thức trong thời đại mới, sự kỳ vĩ của nó vẫn khiến người ta không khỏi kinh ngạc.

  • Mới đây, Travellers and Magicians (2003), bộ phim dài đầu tiên của điện ảnh Bhutan, được chiếu ở Bangkok (Thái Lan), đã khiến người xem suy ngẫm về đất nước nhỏ bé nhưng nổi danh toàn cầu về “chỉ số hạnh phúc” này.

  • Sự trỗi dậy của tổ chức Nhà nước Hồi giáo đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho những khu di tích văn hóa ở Iraq và Syria.

  • Bộ sách "Hành trình về Phương Đông" của tác giả giả Baird T. Spalding, khám phá bí ẩn tâm linh của vùng đất Ấn Độ, lần đầu được phát hành trọn bộ ở Việt Nam.

  • Alfred Eisenstaedt - nhiếp ảnh gia của tờ Life - nhớ lại lần chụp hình với đại văn hào ở Cuba. Ông bị nhà văn "đòi giết" trong cơn say xỉn.

  • Họ là những con người tài năng nhất trong giới văn chương nhưng cũng đồng thời là những con người có số phận bi đát không kém.

  • WILLIAM GRIMES 

    Một ngôn ngữ khác” - tác phẩm mới của Francesca Marciano, kể về một thiếu nữ Ý tên Emma si tình tiếng Anh. Sự cuốn hút của thứ tiếng ấy đến từ người bản địa là một cậu bé Anh Quốc hấp dẫn tại khu nghỉ mát ở bãi biển Hy Lạp mà Emma đang sống cùng gia đình. Thế nhưng thật khó tách bạch sự ràng buộc với ham muốn. Phải chăng cậu chính là chiếc vé mở lối cho chị đến với tiếng Anh, hay ngược lại?

  • NADIA DIUDINA (*)

    Còn ngồi trên máy bay mà trái tim tôi đã đập rộn ràng. Khi nghĩ đến cuộc gặp gỡ với Mêsôra yêu dấu, với quê hương của Êxênhin - nhà thơ cùng quê.

  • Chàng thổ dân bận chiếc khố bằng lá cây, mình trần cháy nắng, khẽ khàng bước sâu vào bụi rậm để tiến lại gần con mồi. Trên tàng cây cao, những con chim vẫn đang véo von. Anh dừng lại, nhẹ nhàng rút mũi tên từ trong túi nhỏ đeo bên người cẩn thận đặt vào cái ống dài, đưa lên miệng nhắm vào con chim gần nhất rồi… thổi mạnh. “Phụp”, một tiếng gọn nhẹ vang lên và con chim rơi xuống.

  • HUYỀN SÂM - TUYẾT MAI

    Từ một huyền thoại trong Kinh thánh, Judas đã bước ra cuộc sống như một mệnh đề đạo đức có tính phổ quát. Nhiều lĩnh vực như hội họa, điêu khắc, điện ảnh đã lấy Judas làm chất liệu tượng trưng cho bản tính phản trắc của con người. Tuy nhiên, ở lĩnh vực tiểu thuyết, Judas được luận giải rất đa chiều, thậm chí có tính phản đề, nhất là sau sự kiện phát hiện về Kinh Phúc âm theo Judas(1).

  • Mới đây, các thành phố triều đại Pyu của Myanmar đã lọt vào danh sách 1.000 địa điểm trên toàn cầu được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO.

  • UNESCO vừa chính thức công nhận danh hiệu Di sản Thế giới cho một di tích cổ xưa nổi tiếng - đường mòn Inca chạy qua 6 quốc gia Nam Mỹ.

  • Một hang động thời tiền sử ở miền nam nước Pháp, hang Grotte Chauvet, với rất nhiều bích họa được coi là những tác phẩm nghệ thuật thuộc vào hàng sớm nhất thế giới, vừa được công nhận là di sản thế giới.

  • Đó là tít bài viết trước giải vô địch bóng đá thế giới 2014 (2014 FIFA World Cup - Brazil) lần thứ 20 tại Brazil, được đăng trên nhật báo Bild, Đức của đương kim Tổng thống Đức Joachim Gauck, người Đông Đức, từng đồng sáng kiến hoạch định chương trình tái thống nhất nước Đức, luôn dấn thân cho sự nghiệp đấu tranh vì quyền của mỗi người dân cả trong lẫn ngoài nước.

  • Vừa qua, các đài truyền hình ở Ấn Độ đã trình chiếu chương trình truyền hình về cuộc đời Đức Phật trên kênh Doordarshan và Zee TV. Hai kênh này được phát sóng rộng rãi khắp nước Ấn Độ và cả khu vực Nam Á. Mới đây nhất, phần 39 của chương trình đã được phát sóng vào ngày 25-5-2014.