VŨ HIỆP
1.
Baudelaire viết: “Tính cá nhân, sự sở hữu bé nhỏ này, đã ăn mòn tính độc đáo tập thể... Tức là người nghệ sĩ đã giết chết hội họa”.
"Cá chép" - Tranh Đông Hồ
2.
Chủ nghĩa cá nhân là một thành quả to lớn trong lịch sử đấu tranh của loài người, để mỗi cá thể được hưởng những quyền sống cơ bản, được chứng tỏ và bảo vệ phẩm giá của mình, được tự lựa chọn cuộc sống của mình. Mỗi cá nhân có thể tự tích lũy và quản lý tài sản của mình, tự lựa chọn lý tưởng sống, nghề nghiệp, bạn đời. Người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo cảm xúc và thế giới quan của riêng mình, không bị gò ép theo khuôn mẫu hay phục tùng quyền lực. Bản vị cá nhân là cơ sở quan trọng để tạo nên những tác giả khác biệt với trào lưu chung, khai phá những vùng đất nghệ thuật mới, xây dựng những cột mốc chưa từng xuất hiện trước đó.
Đôi khi, một vài cá nhân phi thường có thể mang đủ tính đại diện, làm rạng danh cho cả một nền nghệ thuật, ví dụ Henry Moore (điêu khắc) và Francis Bacon (hội họa) đối với nghệ thuật hiện đại Anh, hay Oscar Niermeyer (có thể thêm Paulo Mendes da Rocha) đối với kiến trúc hiện đại Brazil. Khi nói về nghệ thuật biểu diễn âm nhạc cổ điển Việt Nam, có lẽ thế giới chỉ biết đến Đặng Thái Sơn?
Một nền nghệ thuật dù nhỏ hay lớn cũng nên kể tên được ít nhất một vài tác phẩm tiêu biểu để dễ ghi nhớ, chẳng hạn như khách du lịch đi Paris phải “check-in” ở tháp Eiffel, đến Hà Nội phải thả lỏng mình bên Hồ Gươm. Làng Vũ Đại mà không có những cá nhân như Chí Phèo, Bá Kiến thì khó nhớ lắm.
3.
Đối ứng với chủ nghĩa cá nhân là chủ nghĩa tập thể, đề cao giá trị chung của cộng đồng. Có người cảm thán rằng: “Nghệ thuật Việt Nam cũng đẹp đấy nhưng không có Angkor Wat như Campuchia!” Và câu trả lời có lẽ là: “Angkor Wat của Việt Nam chính là Việt Nam!” Lô-gíc này cũng giúp chúng ta đánh giá công bằng một số tác giả không có tác phẩm lớn nổi trội nhưng lại tạo dựng được “không khí chung” đặc sắc cho cả sự nghiệp. Ví dụ đối với Bùi Xuân Phái, tác phẩm dễ nhớ nhất, lớn nhất của ông chính là “Bùi Xuân Phái” (hoặc “phố Phái”).
Chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể đều có ưu điểm và nhược điểm. Chủ nghĩa cá nhân chú trọng tới những tâm sự nhỏ bé nhưng chân thật của những số phận bình thường; thúc đẩy nghệ thuật phát triển đa dạng, nhiều màu sắc như trăm hoa đua nở; xa hơn nữa ở các thiên tài là sự bứt phá khỏi những khuôn mẫu thẩm mỹ đã được xã hội quy ước, khám phá vũ trụ bao la của cái đẹp. Điểm yếu của nó là ít có tham vọng nói đến cái đại tự sự của thời cuộc và thời gian. Đặc biệt đối với những cộng đồng yếm thế, không có nền tảng mỹ học chắc chắn, tính cá nhân có thể dẫn tới sự suy yếu, tản mát, vừa khó có cá nhân đỉnh cao mà cũng không có tập thể vững vàng. Trong khi đó, nhược điểm của chủ nghĩa tập thể là tạo ra những quy thức, định kiến, ít nhiều cản trở sự sáng tạo đột phá. Ưu điểm của nó là hướng tới giá trị cộng đồng, những câu chuyện của xã hội, gợi lên huyền thoại chung của dân tộc, giống loài, được ẩn giấu nơi vô thức tập thể.
Cái thú vị nhất của chủ nghĩa tập thể trong nghệ thuật, như Baudelaire đã chỉ ra, đó là sự tồn tại ở bên trong nó “tính độc đáo tập thể”. Chúng ta nể phục Hokusai, nhưng sẽ ngưỡng mộ ông hơn bởi ngoài ông còn rất nhiều nghệ sĩ khác với những tác phẩm có chất lượng cùng đẳng cấp trong một sự độc đáo chung của tranh khắc gỗ Nhật Bản. Điều tương tự cũng xảy ra với Vermeer và tranh sinh hoạt Hà Lan thời kỳ Baroque, với Monet và nhóm các họa sĩ Ấn tượng ở Paris giữa thế kỷ 19, với Malevich và phong trào Tiên phong ở Nga đầu thế kỷ XX, với Nguyễn Gia Trí và hội họa sơn mài Việt Nam.
4.
Tính độc đáo tập thể không loại trừ tính đặc sắc cá nhân, nếu không nói nó là sức mạnh hậu thuẫn, yểm trợ cho tính cá nhân càng trở nên đặc sắc và đáng tin. Hội họa của Gauguin dù có kỳ lạ, gây choáng ngợp đến đâu thì người ta vẫn nhận ra mối liên hệ máu thịt với một truyền thống Pháp kể từ Poussin. Chúng ta cũng có thể nhìn thấy sự khác biệt của Monet khi so sánh với các họa sĩ ấn tượng khác như Renoir, Pissarro, Sisley, hoặc cá tính sáng tạo của Koolhaas giữa các “kiến trúc sư ngôi sao” deconstructivism như Gehry, Hadid, Eisenman.
Tính độc đáo tập thể gợi lên suy nghĩ về các trào lưu, xu hướng, phong cách, những khái niệm trước hết rất cần thiết đối với nhà phê bình và công chúng, sau đó có thể đối với cả nghệ sĩ nữa. Nếu nghệ sĩ có cả “tên riêng” lẫn “tên chung”, thì sự nghiệp và tác phẩm của anh ta phải chăng sẽ “đủ vị” hơn là những người chỉ có hoặc “tên riêng” hoặc “tên chung”? Nhiều nghệ sĩ Việt Nam đương đại thường không thích các xu hướng, phong cách nghệ thuật. Họ nghĩ rằng mỗi tác phẩm của họ là một sự “kết tinh đặc biệt”, có một không hai, không thuộc về khuynh hướng nào cả!?
![]() |
| Cá chép trông trăng - Tranh Hàng Trống |
5.
Quay lại với truyền thống, trọng tập thể là một trong những tính cách của người Việt Nam, được thể hiện rõ nét trong văn hóa - nghệ thuật, ví dụ phương thức sản xuất, kinh doanh, sáng tạo theo làng nghề, vẫn được duy trì đến ngày hôm nay ở các địa phương. Còn ở Hà Nội, việc cả khu phố cùng kinh doanh một mặt hàng là khá phổ biến, đặc biệt ở khu phố cổ, “buôn có hội, bán có phường”. Ca dao, tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nói về các địa danh làng nghề, ví dụ:
Chợ Chì bán xảo bán sàng,
Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay,
Đình Bảng bán ấm bán khay,
Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông.
Hay:
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng,
Vải tơ Nam Định, lụa làng Hà Đông.
Người xưa lại có câu “cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” để nói về thế mạnh cũng như nét đặc sắc kiến trúc ở các vùng xung quanh Thăng Long - Hà Nội. Vùng Sơn Nam là nơi chiêm trũng, nhiều sông ngòi nên xây dựng nhiều cầu; vùng Kinh Bắc từng là cái nôi và trung tâm Phật giáo nên có nhiều ngôi chùa quy mô và đặc sắc; vùng Sơn Tây có nhiều làng nghề, kinh tế cộng đồng phát triển nên huy động được nguồn lực làng xã để dựng nhiều đình đẹp.
Ngày nay, liên quan đến mỹ nghệ, nghệ thuật, có làng sơn Hạ Thái, làng bạc vàng quỳ Kiêu Kỵ, làng gốm Bát Tràng, Phù Lãng, Thanh Hà, Bàu Trúc, tranh khắc gỗ Đông Hồ, Kim Hoàng, Sình, đồ thờ Sơn Đồng, đồ gỗ Đồng Kỵ, hoa cảnh Tân Quy Đông, dệt thổ cẩm Văn Giáo, tranh kiếng Bà Vệ... Theo thống kê mới đây, Việt Nam có gần 2000 làng nghề, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi làng đều thờ tổ nghề của mình, thường cũng là thành hoàng. Làng nghề có hương ước, quy tắc hoạt động để các gia đình liên kết, hỗ trợ lẫn nhau.
Làng nghề, một biểu hiện sinh động của tính độc đáo tập thể ở Việt Nam, đã chứng tỏ sức sống bền bỉ hàng trăm năm, bởi nó là một thiết chế tổng hợp xã hội - tín ngưỡng - thương mại - nghệ thuật. Tuy vậy, mỗi làng nghề đều cần những cá nhân nhạy bén, sáng tạo để thúc đẩy sự thay đổi sản phẩm phù hợp với thị hiếu thời cuộc. Không ít làng nghề đã biến mất bởi thiếu đi sự sáng tạo cá nhân. Tập thể tuy ổn định, bền vững nhưng dễ dẫn đến trì trệ, lối mòn. Còn cá nhân thì dễ sáng tạo, chủ động, nhưng nếu không có tập thể góp sức, đầu tư, thì dẫn tới manh mún, thiếu chắc chắn.
Ví dụ làng tranh Đông Hồ, một làng nghề đã vượt qua thử thách thời cuộc để duy trì đến ngày hôm nay, một phần bởi có những cá nhân mạnh dạn đổi mới cả về nghệ thuật lẫn phương thức kinh doanh, quảng bá sản phẩm. Khi quan sát tính tập thể và cá nhân ở làng tranh Đông Hồ, Quang Việt và Đặng Thị Bích Ngân có phát hiện thú vị: “Lúc sơ khai có thể hoàn toàn khuyết danh, nhưng sau đó là nửa khuyết danh, vì có khả năng xác định được một số tên họ của những người làm tranh, để rồi bắt đầu có ghi rõ ràng danh tính của người sáng tác trên một số mẫu tranh mới vào nửa sau thế kỷ XX như Nguyễn Đăng Sần, Nguyễn Đăng Khiêm, Trần Nhật Tấn, Nguyễn Hữu Sam, Nguyễn Đăng Chế”.
6.
Tóm lại, sự hài hòa giữa tập thể với cá nhân vẫn là sách lược đúng đắn mà kinh nghiệm cha ông ta đã truyền lại, không chỉ đối với tổ chức làng nghề mà còn với cả nền kinh tế, nghệ thuật quốc gia. Mỗi nghệ sĩ và cả nền nghệ thuật đều được hưởng lợi nếu giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể.
V.H
(TCSH406/12-2022)
Tải mã QRCode
JONATHAN CULLER
LÊ TỪ HIỂN
PHẠM PHÚ PHONG
Đọc Nguyễn Văn Xuân toàn tập [1] mới có thể nhận diện một cách đầy đủ chân dung ông, không chỉ với tư cách là nhà văn, mà còn là học giả, một nhà Quảng học.
TRẦN THỊ NHƯ NGỌC
Viên Chiếu thiền sư không những là bậc chân tu, còn có tài văn chương xuất chúng. Tất cả những tác phẩm ngài trước tác và để lại cho đến nay chỉ còn Tham đồ hiển quyết, đó là kết tinh từ những hương thơm cỏ lạ, khoe sắc giữa vườn văn học thiền tông Việt Nam.
HOÀNG NHẬT
Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi?
NGUYỄN HOÀN
Nhận định về Trịnh Công Sơn, lâu nay có câu so sánh gần như mặc định: “Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam”.
HÀ VĂN LƯỠNG
Haruki Murakami sinh ra ở Nhật Bản, nhưng lại sống nhiều năm ở nước ngoài, chịu ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, trong sáng tác của ông, cùng với những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa hậu hiện đại, những yếu tố vô thức, tâm linh cũng được nhà văn thể hiện trên các bình diện khác nhau.
Li-Hsiang Lisa Rosenlee, sinh năm 1968, hiện là Giáo sư Triết học ở Đại học Hawaii - Hoa Kỳ, lĩnh vực nghiên cứu chính của bà là Triết học nữ quyền, Đạo đức và triết học Trung Quốc thời cổ đại.
PHAN TUẤN ANH
Uông Triều là nhà văn tạo được dấu ấn trên văn đàn Việt Nam trong khoảng gần mười năm qua. Ngòi bút của anh xông xáo, mạnh mẽ thể nghiệm mình trên nhiều thể loại, nhiều trường phái và hệ hình nghệ thuật khác nhau.
LÊ QUANG TRANG
YẾN THANH
Mất gần sáu năm, từ khi còn đang là một nhà phê bình trẻ đầy xông xáo trên văn đàn, cho đến khi trở thành một người có thẩm quyền và uy tín trong lĩnh vực của mình, bạn đọc yêu mến nhà phê bình Đoàn Ánh Dương mới lại được hội ngộ anh qua một chuyên luận nghiên cứu văn học.
NGUYỄN QUANG HUY
NGUYỄN MẠNH TIẾN
PHƯỚC CHÂU
Phan Du không chỉ là cây bút truyện ngắn thời danh ở các đô thị miền Nam trước năm 1975, mà còn là nhà biên khảo lịch sử thông qua cảm quan của một nhà văn, được bạn đọc một thời yêu thích.
ĐINH THỊ TRANG
Trâu là một trong những vật nuôi gần gũi với con người. Chúng được thuần hóa rất sớm (cách nay khoảng 6.000 năm). Trâu hiện diện trong đời sống lao động vật chất cho đến đời sống tinh thần của người dân. Tùy theo các nền văn hóa mà chúng có sự ưu ái và địa vị khác nhau.
PHAN VĂN VĨNH
Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu lý luận, nhà phê bình văn học nghệ thuật hiện đại thế kỷ XX. Ông tên thật là Phan Ngọc Hoan (ghi trong gia phả là Phan Ngọc Hoan Châu), sinh năm 1920. Quê làng An Xuân, xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; ngày xưa làng An Xuân thuộc tổng An Lạc, huyện Võ Xương, phủ Triệu Phong.
HỒ THẾ HÀ
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (1908 - 1954) được xem là nhà báo, nhà lý luận phê bình văn học tiên phong và xuất sắc.
ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Tương thông trực tiếp với thế giới phương Tây, văn học ở Nam Việt Nam có sự gắn bó chặt chẽ với những biến chuyển của văn hóa và văn học Âu Mỹ.
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT