Tôn Thất Hội Nguyên uyên bác hơn người về các loài danh mộc, là kết quả của nhiều năm băng rừng lội suối theo hầu người cha, vị tham tri chủ trì chương trình điều tra nói trên. Cha mất sớm, Hội Nguyên tập ấm lúc hai mươi ba tuổi, được vua Minh Mệnh giao việc tư vấn Bộ Công thiết kế cây xanh tại các công trình vườn thượng uyển, như Cơ Hạ Viên, Thiệu Phương Viên, Ngự Viên…
Một hôm, nhà vua gọi Hội Nguyên đến cùng thưởng trà. Lúc ấy trời vào thu, hai cây Ngô Đồng trồng hai bên Tả Vu và Hữu Vu của Điện Cần Chánh bắt đầu ra hoa, trông rất đẹp và nhã, xứng với lời truyền tụng “vương giả chi hoa”, là nguồn cảm hứng thi ca cổ điển. Mấy năm trước, vào dịp vua Minh Mệnh đăng quang, vua nhà Thanh gửi biếu hai cây Ngô Đồng khai thác từ Quảng Đông, lúc ấy chúng đã cao tầm mười mét. Theo sứ thần, đây là tặng vật đặc biệt vì Ngô Đồng là giống cây không tồn tại ở phương Nam.
Sau tuần trà, vua Minh Mệnh trầm ngâm nói với Hội Nguyên, “Trẫm đã xem qua danh mục cây do Bộ Công tấu trình, không thấy có Ngô Đồng. Vậy là sứ nhà Thanh nói đúng?”
“Bẩm hoàng thượng, thần không dám chắc. Người nhà Thanh chưa từng thấy cây Ngô Đồng mọc trên đất Đại Nam, mặt khác sách biên khảo loại chí của nước ta từ các triều trước đến nay không có dòng nào ghi nhận về sự tồn tại của Ngô Đồng. Do đó, họ có cơ sở khi đưa ra nhận định như vậy. Còn Đại Nam ta, phân tranh hàng trăm năm, mãi gần đây mới thống nhất một mối, bắt đầu kiểm kê toàn quốc, nhưng chỉ mới được bề rộng, còn thiếu phần sâu sát. Vì vậy, dẫu chưa gặp cây Ngô Đồng trong tự nhiên, thì cũng không vội đưa ra kết luận. Vả chăng, sự phân bố cây cối và chim muông trên địa cầu khác nhau là một lẽ tự nhiên, vạn vật sinh trưởng thuận theo vùng khí hậu và thổ nhưỡng.”
Nhà vua gật đầu, “Lời khanh đúng lắm. Chỉ là trẫm muốn các khanh không bỏ sót danh mộc Đại Nam trong các đợt điều tra sau này. Trẫm càng không có ý chứng tỏ phương Bắc có Ngô Đồng thì phương Nam ta cũng phải có Ngô Đồng. Điều đó trái tự nhiên.”
Hội Nguyên đứng lên, nghiêng mình cung kính, “Thần thất lễ, đáng tội.”
Nhà vua khoát tay, “Lúc này, trẫm là ông chú còn khanh là đứa cháu gần gũi, và đang cùng nhau thưởng trà, không phải giữ lễ.”
Hội Nguyên cảm tạ, ngồi xuống, và thấy lòng nhẹ nhõm, “Nay Ngô Đồng vừa khai hoa, mùa hoa kéo dài gần hai tháng, dễ phân biệt với các loài cây khác chung quanh, chính là dịp tốt để vào rừng tìm câu trả lời, rằng liệu Đại Nam ta có giống cây Ngô Đồng hay không. Thần mong sớm nhận được thánh chỉ.”
“Hôm qua trẫm nghe người ở Tôn Nhơn Phủ báo tin khanh vừa đón quý tử đầu lòng, chưa kịp chúc mừng, đâu nỡ sai khanh đi rừng hàng tháng.”
“Đội ơn hoàng thượng. May phủ nhà còn có người giúp đỡ, thần xin được lên đường ngay.” Hội Nguyên tâu, rồi tiếp, “Từ sáng ngày mai, thần muốn được cấp quyền huy động các ấm sinh Quốc Tử Giám có tinh thần hăng hái và thể lực tốt, cùng ngựa và lương thảo, để phiên chế chín nhóm, mỗi nhóm hai ấm sinh. Nhóm sẽ được bổ sung ba biền binh tại mỗi tỉnh thành, là các quân nhân sơn phòng thông thuộc vùng cao ở địa phương. Thần cùng bốn nhóm cánh Nam, chia nhau tìm kiếm Ngô Đồng dọc vùng thượng du, từ Thuận Hóa đến Đồng Nai. Còn từ Thuận Hóa đến Nghệ An giao cho cánh Bắc, là năm nhóm còn lại. Phiên chế xong, sẽ hội quân ở đây, cùng nhau xem xét cây có sẵn, phân tích tường tận các đặc điểm nhận dạng Ngô Đồng. Sau đó nhận mẫu lá và hoa, lại thêm tranh minh họa do các họa sĩ Bộ Công vẽ tại chỗ.”
Nhà vua hài lòng, “Trước đây trẫm vẫn thích phong thái làm việc nhanh gọn, cụ thể và hiệu quả của phụ thân khanh. Nay mừng thấy khanh kế thừa tính cách đáng quý ấy. Trẫm sẽ sớm chỉ dụ các nơi liên quan theo nguyện vọng của khanh.”
Vua tôi tiếp tục thưởng trà, chìm trong tĩnh lặng ngẫm ngợi.
Lát sau, nhà vua quay sang Hội Nguyên, “Khanh có thể đoán biết trẫm đang nghĩ, hay đúng hơn là đang mơ tưởng điều gì không?”
Không mất thời gian suy ngẫm, Hội Nguyên hồi đáp, “Tâu hoàng thượng, nếu thần không nhầm, thì đó là Phượng Hoàng, loài chim trong trí tưởng từ thời Phục Hy, bỗng đâu bay đến, lượn trên hoàng thành, rồi đậu lên cây Ngô Đồng đang khai hoa trước mắt hoàng thượng, làm nên cặp đôi tượng trưng ý niệm quốc thái dân an.”
“Ha ha, mừng có người hiểu trẫm. Về lĩnh vực cây xanh của khanh mà nói, trẫm sẽ vui hơn nếu trước Điện Cần Chánh này, nơi triều đình bàn định chính sự mỗi ngày, có trồng Ngô Đồng, ý trẫm là cây Ngô Đồng Đại Nam kia.”
*
Tôn Thất Hội Nguyên trở về kinh thành, xin phép Bộ Công nghỉ ngơi một thời gian. Từ đó, chàng chỉ quanh quẩn bên phu nhân và giải khuây với con thơ đầu lòng. Trong vương phủ không ai dám động đến chuyện chuyến khảo sát chín mươi ngày vừa kết thúc, cánh Bắc và cánh Nam đều không phát hiện được cây Ngô Đồng nào, suốt miền thượng du Nghệ An - Đồng Nai.
Một hôm, lão Bách ở khu trại dành cho đội thuộc binh xin được gặp chủ nhân. Hội Nguyên đồng ý. Anh luôn dành thái độ tôn trọng đối với người thầy dạy võ này.
Năm ấy, tại rừng An Lão - Bình Định, lũ quét bất thần xuất hiện lúc nửa đêm về sáng, cuốn trôi lán tre và người của đội điều tra tài nguyên lâm sản. Hội Nguyên sức trai mười bảy, kịp cõng cha chạy thoát lên hướng đất cao. Nhưng từ sau tảng đá lớn, một con hổ đói đã phóng ra đón đường. Cha con tham tri ôm nhau, nhắm nghiền mắt cùng chờ chết. Bỗng nghe con hổ rống lên đau đớn. Mở mắt, Hội Nguyên thấy mãnh thú quằn quại, vật vã làm nát một khoảnh lớn cây bụi, rồi trút hơi thở cuối cùng với mũi tên tẩm độc cắm vào cổ. Cha con tham tri vái tạ ân nhân cứu mạng, nhưng tráng sĩ kia vội vái trả, bảo đấy là việc ai cũng ra tay khi gặp phải, rồi tự giới thiệu tên Bách. Đang lúc mặc thường phục, tham tri nhận mình là thầy thuốc, trên đường vào rừng tìm cây lá dược liệu. Nghe vậy, Bách đưa cha con Hội Nguyên đến ngôi nhà gạch bỏ hoang ngoài bìa rừng, chờ lũ rút. Thấy khách tỏ ra ngạc nhiên trước dấu tích hai sân luyện võ trước và sau nhà, Bách ngậm ngùi cho biết nơi đây xưa từng là một võ đường gia truyền nổi tiếng, cho đến khi triều đình nhà Nguyễn ban lệnh nghiêm cấm mọi hoạt động của phái võ Bình Định - Tây Sơn. Sau hai mươi năm đóng cửa, người ly tán, cảnh quan điêu tàn. Cha con Hội Nguyên muốn tìm hiểu tinh túy võ thuật Bình Định. Bách vui lòng nhận lời, vừa múa quyền, côn vừa giảng giải cái hay, cái khác của võ thuật thuần Việt, so với võ thuật Trung Hoa, Xiêm La... Bấy giờ tham tri mới thổ lộ thân phận của mình. Bách sợ hãi quỳ xuống xin tha tội vì đã có lời mạo phạm triều đình. Không chỉ an ủi tình cảnh của Bách, tham tri ngỏ ý mời ông về kinh làm thầy võ cho thuộc binh tại vương phủ. Thuộc binh là đội bảo vệ do các vương phủ được phép tự tuyển mộ, huấn luyện, trang bị vũ khí và trả lương. Bách bị thu phục không vì có chỗ nương thân mà bởi lời dạy của quan tham tri, “Hãy về với ta, chớ ngại. Ngươi là con cháu Nguyễn Tây Sơn, ta là con cháu Nguyễn Gia Miêu. Hai họ có thù nghịch với nhau trong lịch sử tranh vương quyền, nhưng võ thuật Bình Định không liên quan, bởi đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm trước khi Tây Sơn xuất hiện. Ta đưa ngươi về vương phủ, để ngươi âm thầm truyền dạy võ thuật Bình Định cho gia nhân. Đó chỉ là một cách bất đắc dĩ để tạm thời giữ gìn di sản võ thuật dân tộc. Đợi đến lúc thuận tiện, ta sẽ lựa lời tấu trình lên hoàng thượng, nêu rõ giá trị võ học cổ truyền riêng có của nước nhà, và xin hủy bỏ lệnh cấm các võ đường Bình Định hoạt động.”
Trông thấy Hội Nguyên có vẻ mệt mỏi nhưng vẫn gặp mình, lão Bách cảm động lắm. Chưa kịp cạn chén trà, lão nói ngay vào việc, “Lão muốn chia sẻ với chủ nhân kết quả không như ý của chuyến đi tìm cây Ngô Đồng Đại Nam, và có điều muốn thưa trực tiếp.”
“Thầy tự nhiên, ta đang muốn nghe.”
“Trong điều thuận lợi đôi khi lại ẩn chứa điều bất lợi không lường. Thuận lợi là chúng ta nắm được thời vụ Ngô Đồng ra hoa để mở cuộc tìm kiếm. Miền thượng du nước ta hầu hết là rừng thường xanh, có rất ít loại cây ra hoa vào mùa thu. Vì vậy, chúng ta tin rằng cây Ngô Đồng nếu có, sẽ nổi bật sắc màu giữa rừng xanh chung quanh, dễ phát hiện. Từ đó lão nghĩ rằng, liệu chúng ta có phạm sai lầm vì đã xem trọng dấu hiệu của sắc hoa hơn là việc nhận dạng qua đặc điểm của cây, lá?”
Hội Nguyên có phần bất ngờ trước lập luận của lão Bách, rồi gật gù thừa nhận, “Thầy nói đúng. Ngoài ra chúng ta còn nóng vội hoàn tất kế hoạch trong thời hạn hoa Ngô Đồng nở. Hoa tàn rụng hết, đồng nghĩa với không còn sự hỗ trợ của tín hiệu phân loài.”
“Lão sinh ra và lớn lên trong rừng, lại đi qua gần hết miền thượng du, từng thấy nhiều loại cây khác nhau. Nếu chủ nhân cho phép, lão muốn được xem qua tranh minh họa và mẫu hoa, lá Ngô Đồng…”.
Một ý tưởng vừa vụt sáng trong đầu, Hội Nguyên đứng bật dậy, cắt lời lão Bách, “Hay lắm, thầy hãy theo ta vào hoàng cung, nhìn tận mắt sờ tận tay cây Ngô Đồng, biết đâu nhớ được điều gì hữu ích?”
Hai canh giờ sau, Hội Nguyên và lão Bách đã đến với hai cây Ngô Đồng ở Điện Cần Chánh. Và may mắn thay, cây phía Tả Vu còn sót đúng một cành hoa, màu trắng điểm vàng.
Không để chủ nhân chờ đợi, lão Bách hắng giọng, “Lão tin rằng đã khá nhiều lần tình cờ gặp loài cây giống hai cây Ngô Đồng này. Chúng xuất hiện tại một số vùng cao như Bình Định, Quảng Nam, và cả núi Kim Phụng ở thượng nguồn sông Hương thuộc đất thần kinh. Nhưng theo trí nhớ, thì những lần lão gặp chúng ra hoa đều rơi vào mùa xuân chứ không phải mùa thu, và hoa của chúng màu tím điểm hồng chứ không phải màu trắng điểm vàng như lão và chủ nhân đang nhìn thấy trước mắt. Lão tin mình có thể trở lại những vị trí có loài cây đó, để chủ nhân tự xem xét có phải là Ngô Đồng hay không.”
Hội Nguyên xúc động, “Câu hỏi của hoàng thượng luôn ám ảnh ta: “Vậy Đại Nam có cây Ngô Đồng không?”. Lần này chỉ ta và thầy lặng lẽ đi tìm câu trả lời, chờ đến mùa xuân năm tới, khi quan sát hoa nở, nếu đúng là Ngô Đồng Đại Nam, mới tâu trình kết quả lên hoàng thượng. Thầy phải vất vả rồi. Lần nữa, ta hàm ơn thầy.”
Lão Bách cười hào sảng, “Chủ nhân vừa trao cho cơ hội được trở lại với những cánh rừng thương nhớ đã lâu. Lão là người có lời tạ ơn mới đúng.”
*
Hóa ra loài cây vương giả đầy cảm hứng thi ca ấy vẫn nghìn năm ẩn tàng giữa ngàn xanh Trường Sơn chờ đợi ngày nước Nam xuất hiện một vị vua có câu tự vấn xưa nay hiếm. Từ đó, nhà vua cho tô điểm cảnh quan kiến trúc cung điện, lăng tẩm bằng giống Ngô Đồng Đại Nam.
Trong hai năm, từ lập đông 1835 đến cuối xuân 1837, vua Minh Mệnh sai Bộ Công thiết kế và đích thân theo dõi việc đúc Cửu Đỉnh, gồm chín đỉnh đồng lớn bố trí trước Hiển Lâm Các, đối diện Thế Miếu trong hoàng thành, mỗi đỉnh được đặt tên theo thụy hiệu một vua triều Nguyễn. Trên mỗi đỉnh đúc nổi mười bảy hình tượng tiêu biểu thuộc các lĩnh vực thiên văn, địa lý, sản vật quý và vũ khí uy lực của Đại Nam.
Trong dịp này, Minh Mệnh cho đúc bản vẽ Ngô Đồng Đại Nam lên Nhân Đỉnh, đỉnh dành cho chính ngài, làm vật chứng còn trống khuyết, nhằm nhắc nhở vua quan triều đình ngày đêm lo nghĩ thực hiện trọng trách kiến tạo thời đại hoàng kim, như cây Ngô Đồng kia không ngừng ngóng trông Phượng Hoàng vén mây mù bay về đậu trên cành, cùng nhau hoàn thiện biểu tượng cặp đôi - quốc thái dân an.
V.Q
(TCSH432/02-2024)
------------------
Sự kiện UNESCO đưa 162 bản họa tiết đúc đồng trên Cửu đỉnh tại Hoàng cung Huế vào Danh mục Ký ức Thế giới vào ngày 8.5.2024 là cảm hứng sáng tác truyện ngắn này của nhà văn.
Tải mã QRCode
NGUYỄN HỮU THÔNGChao ơi? Xin chào Thầy, lâu ngày ghê.Tôi lúng túng một hồi mới nhận ra cô Sen. Trước mắt tôi bây giờ là một thiếu phụ với nụ cười tươi, rạng rỡ, nhưng vẫn không làm phai đi trên khuôn mặt gầy những vết hằn khốn khó.
ĐOÀN LÊ Tặng anh tôi Anh làm khoa học, tôi là diễn viên nhà hát. Riêng điều đó đã không hợp nhau. Nhưng tuổi trẻ không chịu nghĩ chín chắn, chúng tôi cứ yêu nhau bất chấp mọi giông bão ở cả hai phía gia đình.
NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.
LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.
NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.
ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.
HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.
TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.
THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn” Trịnh Công Sơn
THÁI KIM LAN(tiếp theo)
NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...
VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.
I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.
Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...
Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.
Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.
Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.
Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.
Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.
Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.