Miền gái đẹp

10:26 01/03/2010
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                     Bút kýMỗi dân tộc đều có một quan niệm về sắc đẹp riêng, ví dụ tranh Tố Nữ là quan niệm về sắc đẹp của người Việt một thời nào. Tôi đi Tuyên Quang trong một tour du lịch mà tôi gọi là tour Lương Tâm, nghĩa là đến những nơi mà bất cứ ai là người Việt đều không thể không đến.

Cổng phía tây thành nhà Mạc - Ảnh: baotuyenquang.com.vn

Tôi nhớ nhân vật Kiều Phong của Kim Dung, không phải vì võ công quán thế, hoặc vì cái “ lý lịch” gốc Tác Ta của y, mà bởi một câu nói thành thật mà tôi đã xếp vào hàng “ danh ngôn”

“ Tiểu tử vốn coi trọng sắc đẹp hơn tính mạng...”

Cùng về Tuyên Quang với tôi trong chuyến xe này có cả Trần Đỗ, một Việt kiều sống ở nước ngoài đã lâu, và có cùng một nỗi ngạc nhiên với tôi, rằng Tuyên Quang quả là miền gái đẹp.

Một chiều tôi cùng anh Đỗ lang thang qua thị xã Tuyên Quang. Đấy cũng thuộc về tour Lương Tâm của tôi, như tôi đã nói. Khu thành nhà Mạc đã hoang phế như không còn gì, chỉ cổng thành còn lại, làm chỗ đổ rác cho thị xã. Tôi nghĩ thầm, dù sao đây cũng là di tích lịch sử của một triều đại, sao lại bỏ hoang phế như thế này. Quê tôi có một nhánh của Nhà Mạc, con trai làm tướng đánh Trịnh, con gái làm vợ chúa Nguyễn, cả làng quê ở bờ Bắc sông Bến Hải đều tự hào về điều đó. Cái gì thuộc về lịch sử đều phải được thừa nhận và trân trọng, tôi thầm nghĩ. Sông Lô êm đềm chảy qua thị xã Tuyên Quang, một dòng trong xanh uốn lượn qua những bãi cát gồ ghề. Tôi nghe nói, sông Lô này khởi nguyên tại Trung Quốc, lúc đó nó chỉ là một dòng suối nhỏ có tên là “Dòng sông Thanh Thủy”. Các triều phong kiến ở Trung Quốc, đều coi sông Lô là biểu tượng của Việt Nam, do đó vào cuối đời nhà Trần, họ sai người sang vẽ hình sông Lô và núi Tản Viên mang về thờ trong đền Sông Núi ở phương Bắc, có ý xem Việt Nam là một quận huyện của họ. Chuyện cũ đã xa xôi, nhưng giờ này lại hiện lên tràn đầy ký ức tôi, trong từng bước chân thảnh thơi của anh em tôi trên triền cát sông Lô. Cát ở đây phẳng mà không bằng, gồ ghề từng lượn theo lưng sóng, tạo dáng “điêu khắc” cho cảnh quan. Ở cuối sông, ngang tầm với trung tâm thành phố, đò đậu xúm xít, nhả khói chiều lơ lửng và ý ới tiếng người. Làm như mùa thu của đất trời đã dừng lại ở dưới đó, nên mọi vật trở nên huyền ảo trong sương mù, còn nơi chúng tôi đi đây, đang là một chiều hè. Tôi lại nhớ một nhân vật của Kim Dung “có biệt tài” ngửi thấy mùi phụ nữ trong hơi gió. Tôi sinh sống ở một triền sông đẹp, ở đâu có sông nước đẹp thì ở đấy tất có nhiều mỹ nhân. Không cần phải tin vào thuyết phong thủy cho lắm. Tôi cũng nghĩ rằng ở nơi đó có “thế phong thủy” ở đó thiên nhiên tất phải đẹp, ở đó mặt người trông cũng rảnh rang, đó là sự liên lạc giữa Đất và Người, dân gian quê tôi nói “Người ta là hoa đất”. Vậy thì “Địa linh nhân kiệt”...

Tuyên Quang đây là cửa ngõ Việt Bắc thời chống Pháp, có huyện Sơn Dương còn gọi là Châu Tự Do. Tự nhiên anh Đỗ buột miệng:

- Chè Thái, gái Tuyên.

Chè Thái, vâng, là loại danh trà mà chỉ những bậc đại lão mới đủ tư cách để thẩm định, tôi là dân nghiện rượu, chỉ nghe qua thế thôi, còn Gái Tuyên, hẳn nhiên là ca ngợi vẻ đẹp đứt đi rồi. Anh Trần Đỗ sống ở Pháp lâu năm, Paris thì chán gì vẻ đẹp, anh còn biết đến câu tục ngữ nghịch ngợm này, tôi sao lại không hiểu lẽ đời của nó.

Ai chứ như cụ Huỳnh Thúc Kháng ở tù Côn Đảo những 13 năm, ra Huế làm báo Tiếng Dân, nổi danh là ông già “mặt sắt đen sì”, mà cũng có lúc choáng voáng vì sắc đẹp của một người gái quê. Trong một bài từ phán in trên báo Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng có hồi ức về sắc đẹp này đã làm ngẩn ngơ thời trai trẻ của ông, rằng: “Đêm ấy bọn hát đương diễn tuồng (...) bỗng bên xóm đàn bà thấy có cái tia sáng ánh ra như một luồng điện đi qua, khiến cho đám đông đương náo nhiệt ấy bỗng có vẻ yên lặng khác thường...

Và một năm sau, khi về quê giỗ thầy, ông mới được nhìn thấy người đẹp lần thứ hai. Ông giả vờ nguội lạnh, nhưng giọng ông kể ở đây thì tràn đầy cảm xúc “giữa đám tang, bạn và học trò, cả tiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài cùng khách rất đông, mà khi cô bưng tô bánh bước vào đặt trên bàn, đám đông nghe như có luồng điện làm cho rung động. Đó là khi cô đã có chồng một năm rồi, mà cái đẹp thiên nhiên còn có vẻ xiêu đình đổ quán”... Buổi chiều yên tĩnh, chúng tôi ngồi nói chuyện trên bãi sông Lô. Tuyên Quang đây là cửa ngõ của ATK. Vượt qua cửa ngõ là gặp ngay những đồi chè, ở đó sự yên tĩnh bốc lên, như là một thực thể có thể nhìn thấy được.

Tôi tranh luận với anh Đỗ và rốt cuộc đồng ý với nhau rằng, văn học của các cụ xưa là một nền văn học chủ yếu che đậy những nhược điểm của bản thân người viết, đặc biệt là sự “ mê gái” mà họ cho là nhược điểm. Tôi cho rằng sắc đẹp tố nữ tiềm chứa siêu sinh học của một dân tộc, và vì thế không việc gì phải che đậy. Như trường hợp cụ Huỳnh đây là một trường hợp đặc biệt, và là một thú nhận của thế hệ trước.

Ở đâu đó trên một ngọn đồi, một giọng ca cất lên, hát bài “lý mười thương” “một thương tóc bỏ đuôi gà” tôi chợt nhớ có lần tôi đã đọc một bản “Lý mười thương” lời rất cổ của dân ca Huế trong tạp chí BAVH “BULLETIN DES AMIS DU VIEUX HUE”, nghĩa là một bài Lý mười thương đã được dịch ra tiếng Pháp. Hơn nữa, vì lâu ngày tôi đã quên, chỉ nhớ lại những “cái thương” ấn tượng nhất. Theo tôi, Lý mười thương là một cách tổng kết của anh trai làng hào hoa nào đó, ngồi buồn đành đếm từng nét đẹp trên cơ thể người yêu. Ví như trong bài Lý mười thương Pháp này có nói: Năm thương, em có đôi môi giống như quả ớt... đúng là dân Huế nhà tôi rồi, ở đâu thấy có trái ớt đỏ và mọng, là muốn nhào đến cắn ngay một miếng ngon lành! rồi nữa:

Tám thương, em có đôi quả vú to như trái bưởi Khánh Hòa, “theo tôi là Biên Hòa, và nữa, chỗ này mới thật “dễ thương”: Mười thương cái đẹp nào cũng có cái hư thân riêng của nó...

Anh Đỗ không biết học ở đâu, chắc là với người ngồi cạnh trong buổi giao lưu hôm qua, với bộ đội Tuyên Quang, đã nhắc lại với tôi một loạt tên tuổi mỹ nhân có quê hương ở Tuyên Quang.

... Nào Thu Hiền ở đài vô tuyến Việt Nam, nào Thu Hà diễn viên, nào Hoàng Cúc của Nhà hát kịch Hà Nội, lại còn hai á hậu thuộc hai kỳ thi hoa hậu của báo Tiền Phong mà một trong hai đã trở thành nhân viên tiếp thị cho một hãng ô tô nước ngoài ở Hà Nội. Anh Đỗ kết thúc câu chuyện, bảo tôi:

- Tuyên Quang đây đang bị chảy máu...

- Chất xám.

Tôi ngắt lời anh Đỗ, và nói tiếp:

- Tỉnh nhỏ nào ở gần thủ đô mà lại không bị hút như vậy.

Tôi không hiểu vì sao ở nước ta, những vùng đồi núi trung du lại cứ sản sinh ra nhiều người gái đẹp. Tuyên Quang đây, thì cũng như Châu Phong ở Hà Tĩnh, Chiêm Hóa ở Quảng Bình. Ở miền trung du này, tôi đã gặp nhiều người đẹp, đi giữa rừng, đi ngoài phố, nơi những di tích, trong đêm giao lưu, và chỉ mới hôm qua đây thôi, tôi đã gặp lại Thu Huyền, người đẹp nổi tiếng trong giới bạn bè ở Hà Nội. Nàng đi lang thang như một áng sắc nước hương trời, trên bãi cát này để tìm lại cái gì không biết, có lẽ là đi tìm lại một tuổi thơ hoang đường còn gửi gắm trên bãi sông này...

Tôi thầm nhắc lại “chè Thái, gái Tuyên” của anh Đỗ lúc nãy, và nói:

- Tuyên Quang đây cũng giống như nước Vênêduyêla của Nam Mỹ. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là sản sinh ra những người đẹp làm rạng rỡ thế giới...

Hà Nội, tháng 10/ 1999
H.P.N.T
(131/01-2000)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN NHÃ TIÊN                         Bút ký"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ. Hưng tộ diên trường ức vạn xuân". Nghĩa là: đất nước Hồng Lam sau ta năm trăm năm sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân.Không hiểu những tương truyền về "sấm ký" Trạng Trình "ứng nghiệm" đến dường nào, đâu là nguyên bản và thực hư ra sao? Có điều, chúng tôi đang viếng thăm làng quê Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo - quê hương của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đúng vào cái khoảng thời gian "sau năm trăm năm" ấy, và nhất là vào giữa cái kỳ gian mà đất nước đang từng ngày" Hưng tộ diên trường ức vạn xuân".

  • TRẦN HOÀNGTrong tiếng Việt, từ "Văn vật" là một từ thuộc nhóm từ gốc Hán và cùng tồn tại song song với các từ: Văn hoá, Văn hiến, Văn minh. Người xưa thường dùng từ này để nói, viết về truyền thống văn hoá của một vùng đất, hoặc của một địa phương. Chẳng hạn, lâu nay, cư dân đồng bằng Bắc bộ đã có câu: "Thăng Long là đất ngàn năm văn vật". Song có lẽ từ "Văn vật" xuất hiện nhiều nhất trong các cụm từ "làng văn vật", "danh hương văn vật". Điều này cho thấy từ xa xưa, tổ tiên ta đã rất quan tâm đến "văn hoá làng" và "làng văn hoá".

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử loài người, có những bức tranh, những pho tượng lấp lánh toả ánh hào quang lặng im của chúng trong sự lâu bền của năm tháng. Có những ký ức có thể thi gan cùng vĩnh cửu. Nhưng có lẽ, ngôn từ có sức mạnh riêng mà không một thách thức nào, dù là của không gian hay thời gian có thể làm nhạt nhoà những âm vang của nó. Tất nhiên, một khi nó đã đi vào trái tim và khối óc của con người. 1034 chữ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một trong những áng ngôn từ có sức sống bền vững với thời gian như thế.

  • TRẦN QUỐC TOẢN Tôi sinh ra và lớn lên giữa làng Hến bé nhỏ bên bờ sông La xã Đức Tân (tức Trường Sơn ngày nay) huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh. Qua sự nhọc nhằn của cha, vất vả của mẹ đã đút mớm cho tôi từng thìa nước hến, bát cháo hến để rồi tôi lớn dần lên.

  • HỒ TƯNằm trên dải cát ven phá Tam Giang, từ xưa làng tôi cũng đã có một ngôi đình. Đến năm 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Chính quyền cách mạng đã vận động nhân dân triệt phá ngôi đình để tránh cho Tây khỏi làm nơi trú đóng.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Đất nước ta, miền Bắc và miền nối liền nhau bằng một dải đất dài và hẹp gọi là miền Trung. Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới phía Tây như một cột sống vươn những chi nhánh dài ra tận biển Đông, làm thành những đèo, trong đó hiểm trở là đèo Hải Vân.

  • PHẠM TIẾN DUẬT1.Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, khi nghiên cứu về dân tộc học, có luận điểm cho rằng, trong quá trình định cư dần dà từ Bắc vào Nam, các cộng đồng, một cách tự nhiên, hình thành từng vùng thổ âm khác nhau.

  • PHAN THUẬN AN.Nhiều người từng đến Lăng Cô hoặc nghe nói đến địa danh Lăng Cô, nhưng ít ai biết rằng vua Khải Định là người phát hiện ra khu du lịch nghỉ mát này.Có thể nói vua Khải Định là ông vua thích du lịch nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn (1802- 1945). Trong đời mình, nhà vua đã đi du lịch nhiều nơi tring nước và cả nước ngoài nữa.

  • Thiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.

  • Anh tôi đang giàu lên với nghề nuôi rắn độc, bị con hổ mang hỏi thăm vào tay. Mấy tiếng đồng hồ cáng tắt qua các cánh rừng đến bệnh viện huyện được cứu sống, nhưng vết thương bị hoại tử, hơn tháng sau mới xuất viện, tiêu tốn hơn chục triệu. Năm sau anh tôi lại bị chính con hổ mang ấy hỏi thăm ở tay kia. Lần này thì tôi đánh xe đi mời thầy thuốc rắn bản Lúng.

  • Đó là làng Lệ Mật thuộc xã Việt Hưng, (thị trấn Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Làng này có nghề nuôi bắt rắn, tới nay đã qua 900 năm.

  • Các hoàng đế nước Việt xưa phần lớn giỏi chữ Hán, biết thơ văn, trải Lý, Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho Giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn đạt cảm xúc về tư tưởng của mình.

  • "Sang Xuân ta sẽ ăn Tết khai hạ vào ngày mùng 7 tháng Giêng".     Vì sao vua Quang Trung dám tuyên bố cả quyết như trên trước mặt ba quân? Tất cả bí mật của cuộc hành binh khôi phục Thăng Long đều được "gói trọn" trong một chiếc bánh chưng.

  • LGT: Nhà văn Thái Vũ với những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động - Giặc Chày Vôi, Huế 1885... nay đã gần 80. Tuổi già sức yếu song ông đã hoàn thành tập Hồi ức, gồm 4 phần dày dặn. Trong đấy phần II: HUẾ - QUẢNG NGÃI VÀ LK5 là những trang hồi ức đầy “xốn xang” trước và sau CM tháng Tám.Sông Hương xin trích đăng một phần nhỏ gửi tới bạn đọc nhân kỷ niệm ngày CM tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 – 9. 

  • Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của  xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.