Mai vẫn còn xuân

09:59 28/08/2008
PHẠM NGỌC TUÝTất cả chỉ vì con nhỏ đó: Nó tên thật là gì, tôi không rõ. Tú gọi nó là nhỏ Mai, nó gầy và xinh. Nói rằng nó xinh, e chưa đủ. Nó ngầu, nó phá, nó là con bé nghịch như quỷ.

- Nè, anh!
Bắt đầu chuyện gì đây? Tôi đang cắt tỉa bên hàng rào và tôi rất ghét bị quầy rầy lúc đang làm việc.
- Chi? tôi quát.
- Anh làm ơn... xách giùm xô nước!
Tôi nhìn nó. Tưởng muốn ăn thịt nó được. Ngược lại, nó chỉ cười.
- Hôm qua cô Hồng mượn, em có mượn mô.
- Muợn được, sao không mang qua trả được?
- Thôi mà, anh cầm giùm đi.
Nó nói là làm liền. Lập tức một cái, xô lơ lửng trên đầu. Tôi đưa một tay ra đỡ. Trời đất: cái xô đựng đầy nước khiến tôi phải gồng.. muốn gãy tay.
- Ê, trả tao xô nước làm chi? Mày đúng là..
Nhưng nó đã chạy biến vô nhà. Hai nhà cách một bức tường thấp. Những việc bên ấy làm, bên này đều rõ và ngược lại. Tất nhiên tôi muốn nói chuyện làm vườn kia. Nhiều lần tôi "góp ý" với ba tôi, mua bờ lô xây cao chút nữa, nhưng ba tôi bảo, để cho nhà người ta có nắng trồng cây, và để... hàng xóm còn thấy mặt chào nhau. Xây cao làm gì. Hàng xóm đây là cô Hồng, sống độc thân.
Nhà cô Hồng trồng cây kiểng, khoảng vườn nhỏ ấy do ba tôi và Tú sang làm giùm. Bù lại cô cho chúng tôi sách vở, dụng cụ học tập. Con nhỏ ở với cô Hồng thường sang mượn dụng cụ lao động nhẹ cho cô Hồng và cho nó làm vườn. Được dịp nó lại chọc tôi. Tôi mười tám, con nhỏ nghe đâu chỉ mới... mười ba.
- Ê nhỏ. Tôi gọi. Con nhỏ làm bộ tưới cây không nghe.
- Ê, tao kêu, mi không có tai hả?
- Dạ! Thình lình nó quay lại, bĩu môi dài thượt. Anh gọi em hả?
Mắt nó nhìn tôi như có đuôi. Tôi nghiêm mặt:
- Mi đem cái cuốc chim qua trả chưa? Nhớ là đúng bốn giờ chiều nay.
- Rứa - không cần trả chừ sao?
Nhỏ này đáo để thật.
Nó không trả tôi bốn giờ chiều, mà bốn giờ sáng mai. Tôi không tin nó dậy sớm thế. Thường 4g30 tôi và Tú dậy học bài. Thế mà, tôi đang còn rửa mặt sau giếng đã nghe tiếng con nhỏ.
- Thưa anh cho em trả cuốc.
- Trời đất em dậy chi sớm rứa? Để trưa anh qua lấy cũng được mà - Tú nói.
- Dạ, anh Tân đòi trả 4 giờ chiều qua mà em quên.
- Anh nói chơi đó. Thôi về ngủ đi.
Trong bữa ăn sáng ba tôi rầy tôi:
- Dụng cụ lao động cô Hồng có trả thì trả, con qua lấy cũng được. Đòi làm chi, bắt nhỏ Mai dậy sớm tội nó.
Tôi nhìn Tú. Tôi thua rồi.
Nó không phải là con cô Hồng. Nó là cháu kêu cô bằng dì. Nghe đâu, cha mẹ và hai anh nó đi đào mìn bị mìn nổ chết. Nó ở nhà nấu cơm nên còn sống.
Thằng em tôi "cục vắt hòn" nên dễ mắc mưu con nhỏ, chớ tôi thì đừng. Có bữa ra cổng tôi gặp nó đứng thập thò:
- Đi mô? tôi hỏi với vẻ oai phong.
- Dạ, em qua anh Tú học toán.
- Hở? mà có tiền học không?
Tất nhiên là nó nhe răng cười... trừ Nó cười tươi như hoa nở. Đó là chi tiết không quan trọng. Cái tôi không thể cho qua là nó dòm nom những cây cảnh mà ba tôi, hoặc tôi mới trồng. Cây chi giữ bí mật cách mấy, nó cũng biết.
- Sang học, nhưng không được lộn xộn, nghe không?
- Dạ.
Nó trả lời với vẻ ngoan ngoãn, nhưng tôi nghi ngờ điều đó. Hai lần, hai cây móc khoèo ổi, đã mất tích bí mật. Tú điều tra mãi, hoá ra con nhỏ... mượn, không phải để hái mận bên nó, mà để khèo ổi bên tôi. Tú tìm ra hai cái khèo với hai cái móc sắt đi hai đường, thật là tức. Đứng bên kia rào, thấy tôi cào đất - Lớp đất bùn trên mặt để cho vô chậu, là nó hỏi liền:
- Lấy đất làm chi rứa anh?
- Làm việc đi!
- Anh trồng cây mới phải không?
- Tao đã bảo mày im!
- Không hỏi nữa mô.
Nó ngoe nguẩy vô nhà. Nhưng tôi biết chắc, nếu vén bức màn ngăn cửa sổ, thế nào cũng bắt gặp đôi mắt nó đang theo dõi. Rồi nếu hai cặp mắt cùng chiếu tướng, thế nào có cũng cười.
Từ ngày ông nội tôi mất, ba tôi bỏ hẳn nghề chạy xe ôm mà theo hẳn việc làm vườn, trồng cây kiểng. Hai chậu mai trồng bốn mươi lăm năm của ông tôi đem dự thi ở Hội hoa xuân đạt giải nhất. Hai cây khế có trái trồng trên mười lăm năm của ông Cai ở Kim Long cũng đạt giải nhất. Từ ngày ấy, nhà tôi thường có khách vào xem và mua cây. Hai chậu mai ấy ba tôi không bán. Hằng ngày ông bắt sâu, nhổ cỏ, ươm chồi, ghép cành. Hai anh em tôi đi học về, phụ tưới cây cho đất vô chậu, ủ phân. Cây kiểng cần độ ẩm, không cần nước nhiều như cây lưu niên. Hai chậu mai quý đứng ở vị trí kín đáo, cao nhất trong vườn. Thế mà nhỏ Mai cũng biết. Hơn một trăm chậu cây, nó không để ý, chỉ để ý cây mai. Có một hôm chủ nhật con nhỏ đứng thập thò trước cổng. Nó không vào đâu phải sợ tôi. Chỉ vì hai con chó dữ thôi.
- Đứng làm chi đó, nhỏ? Tôi hỏi.
- Dạ có hai ông Tây muốn vô thăm vườn.
- Sao?
Nó quay lại chỉ hai ông Tây vừa đến sau lưng. Hai người đàn ông thăm khu vườn của ba tôi, xem cây kiểng, đứng rất lâu trước hai chậu mai. Có vẻ họ rất thích hai chậu mai ấy. Họ nói với nhau gì đó, vốn tiếng Anh bằng B của tôi chỉ nghe lõm bõm. Năm rồi có hai người cán bộ ăn mặc sang trọng đến hỏi mua hai chậu mai. Hình như không phải mua cho họ, mà mua đi Tết cấp trên. Ba tôi nói:
- Tôi không bán. Nếu bán, giá ba mươi triệu vẫn còn rẻ.
Thế mà họ đã trả từ hai mươi đến hai mươi bảy triệu. Tôi nghĩ ba tôi đã lung lay. Ai ngờ ông vẫn không bán.
- Cũng tại mày! Nếu mày không bép xép...
- Mô phải lỗi tại em? Mấy ông họ hỏi, em chỉ vườn chớ có biết họ vô mua mai, mà ba anh có bán mô nờ.
- Đồ quỷ tha ma bắt! Tú phụ hoạ.
Con nhỏ chạy biến vô nhà. Hè đến, tiếng ve kêu ran trong vườn khi trời chưa sáng. Thế mà con nhỏ không hiểu có chuyện gì, nó không chạy sang nhà xin tôi trái chanh, tép sả, hay mượn khèo móc ổi, mùa mận cuối tháng ba âm lịch vẫn còn trái, vậy mà nó không hề chạy sang. Lạ thiệt. Tôi thầm băn khoăn. Con nhỏ đó không biết giận. Tôi là người hay la nó và tức nó thì đúng hơn. Cô Hồng qua tìm tôi:
- Cho cô mượn cà mèn đi. Cặp lồng cô mất rồi.
Vẻ mặt cô hớt hải. Tôi ngạc nhiên. Cô giải thích ngay:
- Con bé có bịnh, nằm viện nữa tháng nay. Hôm qua nó về nhà, tối lên cơn, phải chở vô lại.
Trưa nắng như đổ lửa, tôi và Tú đạp xe lên bệnh viện Kim Long thăm nó. Con nhỏ không gầy lắm, làn da nó trắng bạch và nó còn mỉm cười với Tú khi chúng tôi vào. Đứng bên giường nó, lần đầu tiên tôi cảm thấy ân hận.
- Nhỏ đau chi rứa? Tú hỏi.
- Không đau mà vô đây? Con nhỏ cắc cớ hỏi lại. Cặp mắt nó đen như ướt nước.
- Đó, lại nói. Tôi ngồi xuống giường. Tú ngồi trên ghế, người ta cho nằm giường có thể đẩy cao lên để tựa đầu cho dễ thở. Con nhỏ nhìn tôi:
- Anh mới vô à?
Nó lại còn chọc tôi nữa đây! Tôi đặt cà mèn đựng cháo thịt bò của cô Hồng nấu và nải chuối tiêu tôi mua ở chợ lên bàn đầu giường.
- Ăn cháo nghe nhỏ? Tú vẫn tự nhiên. Nhỏ Mai gật đầu. Trông nó có vẻ yếu đuối, và tôi nghỉ, từ giờ trở đi, khó mày tao với nó quá:
- Hai chậu mai còn không anh?
Khi không, nó hỏi dở ẹc. Tôi đáp:
- Cũng tại mày, hai ông cán, mấy ông Tây, cứ hỏi mãi. Ai mà bán?
- Thì... ưng bán là quyền ba anh, tui có làm chi mô nờ.
''Hừ, tui có làm chi mô''. Suýt nữa tôi lại quát nó, nhưng rồi lại nín nhịn. Nếu kể ra, tội nó còn nhiều. Ngoài tội trèo tường hái trộm ổi, tội lớn nhất là những chồi lan, những cành mới ghép, nó đều về mách cô Hồng. Nó lại sai thằng Tú đi mua hoa, mua nến (hoa thì Tú mua... ở nhà) về tổ chức sinh nhật. Thật ra chỉ có nó và con chó ghẻ con chó Ki ốm nhách nó nhặt dọc đường. Cô Hồng nhiều lần muốn ném con chó vừa ghẻ vừa ốm vào thùng rác cho Sở vệ sinh thành phố, con nhỏ không chịu. Tú ở lại ăn sinh nhật với con nhỏ, có hoa (tôi trồng) kẹo bánh, và quà (Tú mượn tiền tôi). Bây giờ nó nằm trước mặt tôi, mong manh quá. Nó thường lấy cây mận của tôi làm chỗ dựng nhà, với vài tấm phên mục rách (mà ba tôi ném ở chuồng gà), rồi lấy đất đắp thành từng nắm nhỏ, bẻ nhang cắm lên trên. Không ai hiểu nó đang chơi trò gì. Bây giờ Tú đang đặt chén cháo vào tay nó lại, đỡ nó ngồi lên. Rồi tôi lấy chén cháo trên tay Tú.
- Nhỏ còn yếu. Thôi để... anh.
Nó ngượng, rồi đói bụng, nó cũng há miệng để tôi đút từng muỗng cháo. Ăn được hai chén, nó có vẻ khá hơn. Trông nó nhỏ bé, và tôi tự nhiên thấy lòng mình hơi khang khác. Nó lại cười toe khi đỡ ly nước trên tay Tú.
- Nhà mình lúc ni có còn ổi không anh? ổi xá lị ấy.
- Thôi đi, Tú lườm - năm ngoái, ý lộn, tháng giêng có cặp ổi xá lị tao lồng tặng bạn, mi phổng mất. Chừ hỏi chi? Tú chống tay lên hông - mà răng mi không khèo ổi tháng tám của cô Hồng, lại khèo trộm ổi của tao, hả?
- Thôi mà - tôi đẩy Tú lui - nhỏ đang đau, em nhắc chuyện ấy làm chi?
- Anh coi chừng, mắc kế mỹ nhân!
Tú nói rồi bỏ đi một nước. Tôi nhìn nó, cười.
Mùa hè là mùa cây trái ra hoa, vườn rộn tiếng chim và ong lũ bướm lượt bay về. Mùa mận qua, đến mùa nhãn, con nhỏ không về. Bịnh của nó ban đầu tưởng thấp khớp vô tim, ai ngờ không phải. Nó bị hẹp van. Tôi trở thành cua rơ, ngày một bữa mang cháo cho nó. Tú chở cô Hồng buổi tối. Nó nằm trong viện mà cứ như ở nhà. Hơi mạnh, nó lại đi quanh. Nó than, bệnh viện chi mà khô khan, buồn tẻ, không có cỏ xanh và nhiều hoa như ở nhà tôi. Nó nói nó nhớ vườn, nhớ con chim vành khuyên của tôi, và nhiều nữa..
- Mi không nhớ vườn cô Hồng à? Tú hỏi.
- Nhớ, nhưng nhớ... hai chậu mai của ôn (ba tôi) nhiều hơn.
Nó đáp rồi cười như nắc nẻ. Cười một hồi thấm mệt, y tá vô rầy:
- Thôi, coi mệt lại xỉu đấy.
Tú mượn vở chép bài cho con nhỏ. Nó thích học lắm, thích làm toán, học anh văn với tôi. Chúng tôi trở thành hai cua rơ bất đắc dĩ, làm bạn với nhỏ hằng ngày. Những hôm tôi vào trễ nhỏ còn cười chế nhạo:
- Tưởng anh sợ nắng chớ.
- Mô, anh bận giải phương trình vô nghiệm.
- Là chi?
- Là phương trình có anh và em.
Nó có vẻ hiểu, sự bẽn lẽn qua rất mau, vì tánh nó tự nhiên và bạo dạn.
- Xì, một họ hai nhà.
- Hai nhà.
- Một nhà.
Nhỏ lấy tay đẩy tôi ra, và tôi đứng lên nhường chỗ cho y tá vào chích thuốc. Những buổi chiều ấy, bệnh viện trở nên yên tĩnh và không gian âm u. Tú thường tế nhị về trước nấu cơm, để tôi ngồi lại với nhỏ. Bệnh viện trước thuộc về đất của dòng tu. Giữa dòng tu với nhà nước vẫn còn lằng nhằng chuyện trả khu đất. Thành ra, cái nhà thờ lớn vẫn còn nằm ngay giữa sân. Xung quanh cây cối thưa thớt. Phía sau là chỗ xả rác và nước thải. Một trong những buổi chiều ấy mà tôi nảy ra ý muốn cầu nguyện cho em. Tôi bỏ nhỏ nằm đó, đi dọc hành lang đến khu nhà nguyện. Không biết làm dấu thánh, tôi chấp tay thì thầm: "Nguyện cho nhỏ được sống bình an, mai trở về nhà, anh sẽ không bắt nạt nhỏ, sẽ dành cho nhỏ một món quà. Bởi vì anh yêu em."
Lời tự thú vừa làm tôi xấu hổ vừa khiến lòng thanh thản. Khi tôi trở về phòng, Mai đã ngủ ngon lành. Khuôn mặt nhỏ trông ngây thơ, vô tội. Bởi vì nhỏ chỉ là nhỏ, nên anh yêu nhỏ, nhỏ ơi, nhỏ vẫn thường thích hoa dạ hợp, anh sẽ mang vào cho em một chậu. Ngày mai sinh nhật anh.
Từ ngày "con nhỏ" vào bệnh viện, con đường ngày nào tôi cũng đạp xe đi trở nên ngắn. Hôm nay tôi chở lủng lẳng nơi giỏ xe, chậu men sứ có cây hoa dạ hợp mới nở một bông - tôi đã ươm trồng cho nhỏ. Nụ lan chỉ mới hàm tiếu. Mùi thơm nhẹ, át cả mùi thịt bò hầm khoai tây do Tú nấu. Tú nấu ăn ngon và vì hôm nay sinh nhật tôi - nó muốn tôi ăn sinh nhật với nhỏ Mai trong bệnh viện. Nó mua hoa và bánh  mì nóng dòn, bỏ vào bịch nylon, nó chuẩn bị cho chúng tôi bữa ăn chung đầu tiên - chu đáo đến thế là cùng. Từ ngày mẹ mất vì tai nạn đến giờ, Tú là người nội trợ giỏi của nhà tôi. Tôi đến bệnh viện sớm, hình dung dáng nửa ngồi nửa nằm của con nhỏ. Nhỏ sẽ long lanh cặp mắt mà những tháng sau nầy dường như bớt sáng, song trong cặp mắt ấy vẫn có một nụ cười.
Nhưng lúc tôi bước vào phòng với tay xách giỏ, tay bưng chậu hoa, cô y tá Thi đón tôi với vẻ mặt khác thường. Tôi đang vui nên vẻ mặt của cô không làm tôi chú ý.
- Em mang gì đến cho Mai? Nó được chuyển đi hồi hôm rồi.
- Cô nói...
- Khuya hôm qua lên cơn nặng, bịnh phải chuyển cấp cứu, mà ở đây không đủ dụng cụ thuốc men.
"Xoảng", chậu hoa dạ hợp rơi xuống nền nhà vỡ toang. Cô y tá nói những gì sau đó, tôi có còn nghe được nữa đâu! ...
Vài hôm sau cô Hồng đón tôi ở ngoài ngõ nhà. Cô có vẻ lo lắng:
- Cô muốn nhờ ba con, không biết có được không?
- Chuyện chi vậy cô? Con vào thăm Mai được chưa?
- E phải mang nó đi Hà Nội, cơ quan cho mượn một triệu, làm sao đủ. Tiền tàu, tiền tiêu pha thuốc men, năm triệu mới tạm đủ.
Nhà tôi làm sao có đủ năm triệu tiền mặt, một triệu chưa chắc đã có. Chỉ có bán chậu mai. Ba tôi không bán, làm sao có tiền cho mượn. Cô Hồng chừng như hiểu ý tôi:
- Con bé có bảo hiểm, nhưng làm sao đủ, hả cháu? nó phải mổ mới có hy vọng.
Tôi biết ba tôi vẫn âm thầm bỏ ống, tiền ấy sau này cho tôi vào đại học. Anh em chúng tôi sống nhờ cái vườn nhỏ, rau không mua, cá có ngoài ao. Chúng tôi học ở nhà là chính. Không đứa nào đi học thêm vì biết sức ba tôi không thể trang trải thêm nữa. Tuy thế, bữa cơm tối tôi cũng trình bày với ba tôi bịnh tật của nhỏ Mai và yêu cầu của cô Hồng. Ông không nói gì. Ăn uống xong ông vẫn ngồi trầm ngâm bên bàn nước.
- Chắc là mình không thể cho mượn được, phải không ba? Lẽ ra cô Hồng mượn ở chỗ giàu có hơn. Tú nói vì không chịu nổi sự im lặng.
- Chắc có lý do chi cô mới mượn nơi mình - tôi đáp thay.
- Mình cũng cần xây bức tường phía đông để ngừa bọn học sinh, trẻ con vào quậy phá, làm lại cái bếp vì phên tre đã mục. Ba tôi nói như không để ý đến lời đối thoại của chúng tôi.
- Như thế thì... Tôi định nói, rồi làm thinh. Năm triệu đồng là một số tiền lớn, để xây một căn phòng lợp mái chăng? như ao ước từ lâu của chúng tôi vì cái bếp hiện nay thì mùa đông dột, mùa nắng nóng.
Rồi tôi ngồi vào bàn học bài, những con chữ cứ rối tinh lên. Tôi biết mình không học được, cả Tú hình như cũng khó ngủ. Sáng sớm, câu nói đầu tiên của Tú ngoài giếng nước là:"Nhỏ Mai sẽ ra sao?".
Tôi và Tú không phải đợi lâu. Trưa hôm ấy đi học về ba tôi để lại hàng chữ trên bảng đen:"Ba sang nhà thương lớn, đừng chờ cơm". Từ ngày nhỏ Mai bịnh đến giờ, ông mới đi thăm lần đầu. Hình như ông cũng biết tôi yêu nhỏ. Ngày nào tan học về tôi cũng vào thăm nhỏ. Tôi thương nhỏ thật rồi, tôi chỉ còn biết nắm tay con nhỏ cầu nguyện. Sau đó độ một tuần, nhỏ và cô Hồng lên đường đi Hà Nội.
Bây giờ khu vườn trở nên yên lặng quá, mọi cái xung quanh chừng như lạt lẽo vô duyên, bầu trời ảm đạm màu chì. Tôi vùi đầu vào chuyện học thi, dù sao tôi cũng phải nắm cho được cái bằng tốt nghiệp để còn thi đại học. Sau giờ học tôi phụ ba làm vườn, tỉa cành, và nỗi nhớ đầy ắp. May mắn cho tôi là nhỏ Mai mổ được bình an. Hết một mùa hè, nhỏ mới trở về. Tôi hỏi nhỏ ở chi lâu vậy, nhỏ cười đáp, ở lâu để tôi nhớ nhỏ!
- Bữa ni còn qua lấy khèo, khèo ổi trộm nữa thôi?
Nhỏ cười ngượng ngùng: "Khi mô mạnh em lại sang anh".
Không gian dường như thu nhỏ lại. Sau những tháng bịnh, con nhỏ lớn hẳn lên, hay tại tôi chủ quan nhìn ra thế. Ngồi bên nó, tôi không biết nói gì, những lần nó trêu tôi trước đây bây giờ chừng như không còn để lại dấu vết gì.
- Hoa dạ hợp của em mô? Nó chợt hỏi. Tôi mỉm cười nhìn vào mắt nó:
- Đang nở hoa, khi nào em mạnh, sang anh cho.
- Này, đừng có trèo tường ăn trộm ổi đấy?
Tú bước vào nói lớn.
- Hễ mạnh là em sang ngay à. Anh lo lồng cặp ổi mô ngon nhất, em không quên ơn!
- Hãy đợi đấy!
Nắng trở nên hồng và lá trở nên xanh hơn. Mọi vật dường như đang trở lại mùa xuân. Mùa xuân năm nay đào, mai nở sớm. Nhưng không phải cây mai mà nhỏ dẫn ông Tây vào xem. Thay vào đó là chậu bích đào. Hai chậu mai già chỉ còn một chậu. Ba tôi nói:
- Hôm nào rảnh, cha con mình lên núi Thất Sơn, biết đâu tìm được cây mai trắng. Tôi hiểu ý ông nói. Cây cỏ còn biết lặng thinh huống chi người.
Huế, 30/4/99
P.N.T
(nguồn: TCSH số 161 - 07 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.