Với người Tà Ôi ở miền rẻo cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), từ xa xưa, những chuỗi mã não là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng.
Cụ Kả Vế - một trong những người giữ 3 vòng mã não còn sót lại của người Tà Ôi
Thế nhưng, mới nghe qua câu chuyện, anh Hồ A Tút, Phó Ban Văn hóa xã Hồng Trung, lắc đầu nguầy nguậy: "Không có mô, giờ hiếm lắm mới tìm được một phụ nữ còn đeo mã não. Hồi xưa, chỉ có nhà giàu, nhiều trâu, bò mới có mã não thôi". Chúng tôi phải cố gắng thuyết phục, anh mới miễn cưỡng đưa chúng tôi đi tìm.
Cụ Kả Vế (78 tuổi, dân tộc Tà Ôi, thôn Ta Ay) là một trong những người hiếm hoi còn giữ ba chuỗi mã não. Đây là của hồi môn khi cụ về nhà chồng, chí ít nó cũng đã tồn tại hàng trăm năm.
Cụ bảo: "Xưa không phải ai cũng có mã não mà đeo, chỉ có những nhà giàu có, nhiều trâu, bò, ruộng nương, có vị thế trong cộng đồng mới mua được mã não. Đặc biệt là phải ở tuổi lên bà, dân bản mới đeo mã não".
Để có những hạt mã não gìn giữ cho đến ngày hôm nay, gia đình cụ Kả Vế đã phải đổi bằng ba con trâu làm của hồi môn cho con gái ngày cưới. Với những gia đình giàu có, của hồi môn là những chuỗi mã não theo con gái trong ngày cưới, khá giả thì phải có vòng đeo tay, còn khó khăn lắm cũng kiếm được đôi ba hạt làm của hồi môn.
Những hạt mã não vì thế gắn liền với phong tục thách cưới của người Tà Ôi. Thách cưới càng to thì những hạt mã não càng có giá trị, đổi bằng cả mấy con trâu, con bò. Không chỉ là của hồi môn, ngày xưa trai gái Tà Ôi yêu nhau, quà tặng hay tín vật thường là những chuỗi mã não.
Với phụ nữ Tà Ôi, những chuỗi mã não là kỷ vật vô giá không rời tay, gắn bó với họ suốt cả cuộc đời. Cụ Kả Hiệt (75 tuổi, thôn Vân Trình, xã A Đớt), cũng là một trong những người hiếm hoi còn lại trong thôn giữ được hai chuỗi mã não, cho hay: "Tui có cả thảy sáu người con, thời chiến tranh cực khổ, khi sinh ra chúng đều không sống được. Từ đó cho đến nay, tui chỉ biết làm bạn với những chuỗi mã não này như một kỷ vật của gia đình đã theo tui qua bao năm tháng. Khi chết, tui muốn mang theo chúng để không cô độc giữa cuộc đời".
![]() |
| Những vòng mã não hiếm hoi còn sót lại giữa bản làng của người Tà Ôi |
Vì thế, từ lâu, mã não đã mất đi giá trị quyền uy và tâm linh của nó. Hơn thế nữa, tục thách cưới của người Tà Ôi hiện nay không còn rườm rà, nặng nề như trước, nên mã não cũng không còn được dùng đến.
Tuy nhiên, cùng với những chum, ché, chiêng... tồn tại đây đó trong các bản làng người Tà Ôi, tục đeo chuỗi mã não đã tạo nên một nét văn hóa độc đáo, thể hiện quyền uy của những gia đình có vị thế trong xã hội. Những chiếc vòng này cũng mang bóng dáng của chế độ mẫu hệ còn sót lại trong cộng đồng người Tà Ôi.
Trong những ngày rong ruổi khắp các bản làng của vùng cao A Lưới, tìm những cụ bà còn giữ tục đeo mã não trên người đã khó, gặp được những phụ nữ trẻ đeo mã não càng khó hơn. Tâm lý của cộng đồng người Tà Ôi hiện nay đã thay đổi.
Với họ, khái niệm "nhà giàu" (theo người Tà Ôi, đó là hình ảnh thu nhỏ như một vị vua của bản làng thời phong kiến) đã không còn nữa, nên việc đeo mã não để thể hiện quyền uy, vị thế xã hội trong cộng đồng cũng không còn ý nghĩa.
Ông Hồ Văn Ngoan, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện A Lưới, cho hay: "Mã não không chỉ là vật trang sức, qua nhiều năm tìm hiểu, chúng tôi đã phát hiện những hạt mã não còn có mặt trong các mô típ trang trí của tượng nhà mồ (dưới cổ bức tượng) và trên một số vật dụng sinh hoạt khác của người Tà Ôi như vải, a chói (vật dụng đựng đồ dùng của đồng bào vùng cao khi lên nương rẫy). Điều này chứng tỏ ngoài ý nghĩa vật chất, làm trang sức, mã não còn gắn với đời sống tâm linh, tinh thần của người Tà Ôi".
![]() |
| Mã não thể hiện quyền uy, vị thế của một cá nhân trong cộng đồng nay đã không còn |
"Điều mất mát là theo luật tục của người Tà Ôi, khi chết, một trong những vật dụng buộc phải chôn theo chủ nhân của nó là hạt mã não nên càng ngày loại trang sức này càng ít đi trong cộng đồng người Tà Ôi. Bên cạnh đó, có nhiều chuỗi mã não đã tồn tại hàng trăm năm, có giá trị cũng bị đánh cắp, mất dần trong các bản làng vùng sâu, vùng xa. Đã nhiều lần chúng tôi vận động, kể cả can thiệp nhằm giữ lại những chuỗi mã não hiếm hoi của người Tà Ôi nhưng không mấy hiệu quả, bởi đây là luật tục đã có từ ngàn đời rồi, đâu thể thay đổi trong một sớm một chiều được. Nguy cơ mất đi một nét văn hóa độc đáo và đẹp đẽ của người Tà Ôi là có thật", ông Ngoan trăn trở.
![]() |
Theo doanhnhansaigon.vn
Tải mã QRCode
Địa danh Thanh Hà thuộc xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Nằm phía bờ tả ngạn sông Hương, cách kinh thành Huế 4 km, cách cửa biển Thuận An khoảng 10km. Với vị trí trên bến, dưới thuyền, cư dân có truyền thống buôn bán, ở Thanh Hà sớm xuất hiện chợ làng, nơi hội tụ hàng hóa của cư dân các vùng lân cận.
Bộ sử bằng thơ này được các ông hoàng nhà Nguyễn khởi viết từ khoảng 1907-1916, kéo dài đến khoảng 1926. Ban đầu được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, sau được cất giữ ở chùa Từ Quang (Thừa Thiên - Huế). Vốn là tài liệu độc bản, viết tay bằng chữ Nôm, gồm 1.884 câu lục bát.
Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.
SHO - Chiều ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức lễ Tổng kết trại sáng tác văn học nghệ thuật“ về đề tài "Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại văn phòng Liên hiệp hội, 26 Lê Lợi, thành phố Huế. Hơn 50 tác phẩm thuộc các chuyên ngành gồm: văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa... đã được sáng tác trong đợt này. Trại sáng tác khai mạc vào ngày 10/4 tại khách sạn Phong Lan, vườn quốc gia Bạch Mã, kéo dài trong 10 ngày bao gồm 4 ngày thực địa và 6 ngày hoàn thành tác phẩm tại nhà.
Xe chạy tầm 45 phút thi tới đỉnh điểm đậu xe gần Vọng Hải Đài, xuống xe bắt đầu đi bộ ra. Vọng Hải Đài là điểm cao nhất Bạch Mã, từ đây có thể nhìn được vịnh Lăng Cô, Hồ Truồi…
Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.
SHO - Chiều ngày 10/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tổ chức Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật “Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại vườn Quốc gia Bạch Mã, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
SHO - Sáng ngày 4/4, hàng trăm cựu chiến binh(CBB) của hai tiểu đoàn 804 - 810 (K4 - K10) đã có buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm giải phóng Thừa Thiên Huế tại Ban chỉ huy Quân sự Thành phố, 25A Trần Cao Vân, Tp Huế.
Quốc tự Thánh Duyên toạ lạc ở Tuý Vân sơn, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với Linh Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong ba ngôi quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay.
Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Nhắc đến cố đô Huế, người ta không thể không kể tới các nhà vườn, bởi kiến trúc của nhà vườn Huế cũng có một lịch sử lâu đời trên 200 năm kể từ khi nhà Nguyễn xây dựng kinh đô.
SHO - Tối 26/3, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức bắn pháo hoa tầm cao để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế (26/3/1975-26/3/2015).
SHO - Hòa chung trong không khí tiến tới kỷ niệm thống nhất đất nước, sáng ngày 26/3 tỉnh Thừa Thiên Huế trang trọng tổ chức Lễ mitting kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015) tại Sân vận động Tự Do, Thành phố Huế.
SHO - Chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015), Liên hiệp các hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức khai mạc triển lãm ảnh thời sự nghệ thuật với chủ đề: “Thừa Thiên Huế- 40 năm xây dựng và phát triển” vào chiều ngày 25/3, tại Bảo tàng Văn hóa Huế - số 25 Lê Lợi - Thành phố Huế.
Tiếp bước hành trình khám phá những ngôi chùa Huế, ta sẽ đến với một ngôi chùa – một tổ đình – nơi thể hiện tấm lòng bao dung của nhà Phật với những con người không toàn vẹn – Từ Hiếu. Chùa nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Khi bàn về Nhã nhạc người ta thường chú trọng nhiều đến thành phần, biên chế các loại dàn nhạc và bộ phận nhạc không lời do các nhạc cụ diễn tấu, mà ít đề cập đến một bộ phận quan trọng của Nhã nhạc là thể loại nhạc có lời.
Trong kiến trúc cung đình Nguyễn tại Huế, hình thức nhà tạ có mặt ở khắp nơi: Hoàng cung, Hành cung, Biệt cung và ở cả các lăng tẩm đế vương.
Để nhã nhạc cung đình Huế “sống lại” như ngày hôm nay, có công rất lớn của cụ Lữ Hữu Thi- nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ đã âm thầm, kiên trì vượt qua khó khăn trước những thăng trầm của lịch sử để giữ gìn và trao truyền ngọn lửa nhã nhạc, đưa nhã nhạc từ chỗ bị lãng quên trở thành di sản của nhân loại.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tinh tế nhận xét: “Người Huế ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng”.
Ngài thủy tổ họ Hồ Đắc làng An Truyển, xã Phú An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế vốn là gốc từ ngoài bắc vào lập nghiệp thường được dân làng gọi là Hồ Quản Lãnh.