Lý luận phê bình và đổi mới

09:12 24/02/2020

NGỌC TRAI

Văn học ta trong những năm gần đây đang có dấu hiệu chuyển hướng và đổi mới một cách đa dạng, phong phú.

Ảnh: internet

Trước những đổi mới ấy của sáng tác văn học, lý luận phê bình phải đổi mới và chuyển hướng như thế nào để đóng góp cho giai đoạn văn học hiện nay ?

Đất nước ta vừa trải qua một thời kỳ khá dài mà chúng ta thường gọi bằng một từ ngắn gọn là thời kỳ quan liêu bao cấp. Ngoài chế độ quan liêu bao cấp về kinh tế còn cả một chế độ quan liêu bao cấp về văn hóa, tư tưởng. Trong đời sống văn học, chế độ quan liêu bao cấp đã dẫn đến một thứ phê bình quan liêu.

Tôi xin nói rõ hơn vấn đề này : Trong giới văn nghệ xưa nay vốn tồn tại một thành kiến, ít thiện cảm thậm chí sự coi thường của các nhà sáng tác đối với giới phê bình chuyên nghiệp.

Tiêu biểu cho thái độ ấy của người sáng tác ở ta có thể dẫn trường hợp của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân là nhà văn xuất sắc và cũng đã từng viết những bài phê bình thấu đáo sắc sảo, vậy mà khi nói đến giới phê bình chuyên nghiệp ông thường phản ứng tiêu cực, châm biếm, mỉa mai hay hài hước.

Người ta thường giải thích đơn giản: Chẳng qua là vấn đề "văn mình vợ người", văn mình thì bao giờ cũng hay. Mà đã phê bình thì thường có khen, có chê, được khen thì thích mà bị chê thì phản ứng. Trong phê bình trước đây thì chê nhiều hơn khen, nói đến cái sai, cái đúng nhiều hơn là nói đến cái hay, cái dở. Hình ảnh cái roi phê bình đã gợi ra cái ý đó. Roi là để quất chứ không có chuyện khen. Phải chăng nhà phê bình Hoài Thanh đã thấu hiểu được tâm lý đó của nhà văn nên trong "Thi nhân Việt Nam" ông chủ trương chỉ bình mà không phê. Chỉ nói về cái hay của mỗi nhà thơ mà không nói cái dở. Đây cũng là một thái độ, một quan niệm về phê bình hay là một phép ứng xử khôn ngoan.

Nhưng tôi nghĩ vấn đề không đơn giản như vậy. Có nhà văn biết tự trọng khi được tâng bốc một cách không chính xác cũng nổi đóa lên.

Tôi cho rằng hiện tượng nhà văn coi thường và khó chịu với nhà phê bình là do nhiều nguyên nhân : nhà văn thường cho rằng nhà phê bình thiếu hiểu biết về nghệ thuật, thiếu vốn sống thậm chí còn thiếu cả kiến thức nữa. Những điều này có thể có nhưng đây chưa phải là nguyên nhân chủ yếu. Theo tôi nguyên nhân chủ yếu là ở chỗ các nhà phê bình đã không làm đúng chức năng của mình. Trong một thời gian khá dài nhiều nhà lý luận phê bình tự đặt cho mình một sứ mạng quá với khả năng của mình :

1- Họ dạy dỗ nhà văn về nghề nghiệp.

2- Họ uốn nắn nhà văn về tư tưởng.

Các nhà phê bình tự cho mình là người nắm được chân lý tuyệt đối qua sách vở và phân phát một cách rộng rãi các chân lý đó cho người sáng tác. Tình trạng đó đã đưa đến những nghịch lý : Người không sáng tác (hay không sáng tác được) lại lên lớp cho người sáng tác phải viết như thế này, phải hư cấu như thế kia, phải bố cục tác phẩm thế nọ. Hoặc không nên, không được thế này thế khác.

- Người không đi thực tế hay ít thực tế hơn lại dạy cho các nhà văn lăn lộn trong cuộc sống rằng chỗ này là hiện thực chỗ kia là không chân thực và luôn luôn khuyên bảo nhà văn phải đi sát cuộc sống.

Và có thể đưa ra nhiều nghịch lý khác nữa...

Tôi gọi những nhà phê bình kiểu đó là những nhà phê bình quan liêu.

Nhưng điều tôi băn khoan là các nhà phê bình quan liêu này lấy đâu ra sự tin tưởng ở khả năng phán xét, giáo dục các nhà văn như vậy ?

- Những nhà phê bình này là sản phẩm một thời của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa độc đoán và bao cấp về tư tưởng. Họ tin tưởng một cách hồn nhiên rằng chân lý là ở trong sách : sách kinh điển, sách giáo khoa, sách ghi chép lời nói của lãnh tụ, sách lý luận của nước ngoài... Họ nghiên cứu, thuộc lòng các câu chữ trong sách rồi so sánh, đối chiếu với các sáng tác. Điều gì các nhà sáng tác nói ngược lại hoặc không đúng như trong sách hoặc không có trong sách, trong lời dạy của lãnh tụ thì sẽ bị uốn nắn hoặc không thừa nhận. Đối với các nhà phê bình quan liêu này thì sách là giày của cuộc sống. Họ gọt chân cho vừa giày chứ không sửa giày cho vừa chân.

Họ thường dẫn chứng câu nói của Gớt nhưng lại làm trái với câu nói đó. Đối với họ lý luận thì màu hồng còn cây đời thì lại xám.

Cuộc sống vốn sinh động, phức tạp, phong phú, nhiều vẻ, đầy mâu thuẫn và luôn luôn phát triển, dù phải trải qua nhiều khúc quanh co, gập ghềnh có lúc thụt lùi, vấp ngã nhưng rồi lại tiến bước. Sáng tác văn học của ta đang biến đổi mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống mới.

Đã đến lúc phải xem lại nhiệm vụ của nhà phê bình.

Cái kiểu phê bình làm cho nhà văn và kể cả công chúng đều không công nhận, đó là kiểu "phê" và "bình" đã thịnh hành một thời :

- Hoặc là ra roi túi bụi, bới bèo ra họ, "cao chê ngõng thấp chê lùn".

- Hoặc là tâng bốc, tô hồng, lạm phát những tính từ ngợi ca.

Chúng ta không ai phủ nhận thành tựu của giai đoạn văn học kháng chiến vừa qua. Nhưng chắc cũng không ai tán thành lối phê bình tâng bốc, tự ngợi ca vượt quá sự thật.

Không phải lối ngợi ca ấy là vô hại. Bởi vì sự tâng bốc không nói lên được ngay cả những ưu điểm vốn có của tác phẩm, nói quá đi, nói không đúng cái hay cũng là mất hay đi, điều đó làm cho nhà văn có tự trọng và công chúng có trình độ thưởng thức nghệ thuật không tin vào sự đánh giá của nhà phê bình nữa. Tôi xin nhắc lại một câu thơ mà Gorki đã dẫn :

Mọi bài ca đều cần đến vẻ đẹp

Nhưng vẻ đẹp không cần đến bài ca.

Nhưng cái hại thứ hai của lối phê bình tâng bốc là làm cho người ta ảo tưởng về mình, tự đắc tự mãn và không cần tìm tòi, cải tiến, thay đổi nữa. Trong lúc đó thì chức năng sáng tạo của nhà văn là phải biết luôn luôn không bằng lòng với cái đã làm được, luôn luôn biết trăn trở để đổi mới.

Không ít nhà văn tên tuổi đã từng nói : Tác phẩm mà tôi yêu thích nhất là tác phẩm tôi đang viết hoặc sắp viết ra. Nhiệm vụ chân chính của nhà phê bình, nhất là nhà phê bình trong giai đoạn chuyển biến, đổi mới của văn học hiện nay theo tôi là phải làm được hai việc :

- Phát hiện được những tài năng mới, những phong cách mới, những phương pháp biểu hiện mới, những giá trị mới.

- Khi đã phát hiện ra rồi thì phải khẳng định, phải bảo vệ, phổ cập cái mới đó, làm cho công chúng hiểu và chấp nhận cái mới đó.

Có những tác phẩm có giá trị nhưng khi mới xuất hiện không được thừa nhận ngay mà còn bị phủ nhận. Maia Kovsky đã từng nói rằng : "Bản chất văn nghệ là không đại chúng. Nó chỉ trở thành đại chúng là do tuyên truyền”.

Như vậy Maia muốn nói rằng : Sáng tác văn nghệ, nhất là sự sáng tạo ra cái mới thường chỉ có số ít có văn hóa mới có thể lĩnh hội được (cố nhiên có nhiều người có văn hóa nhưng tư tưởng bảo thủ thì cũng không thể tiếp nhận được cái mới). Cái số ít nhận thức được cái mới ấy có nhiệm vụ phải tuyên truyền cho số đông.

Thế có nghĩa là tác phẩm không hạ thấp xuống trình độ của đại chúng mà đại chúng phải vươn lên trình độ của tác phẩm.

Nói như trên tôi không phủ nhận việc khuyến khích đại chúng sáng tác văn nghệ. Mà tôi muốn nói đến cái số ít nhà văn tiêu biểu, những người sáng tạo ra những tác phẩm ở đỉnh cao chứ không phải ở số lượng.

Tôi nhớ một bài thơ của Henric Hainơ đại ý : thời đại khác phải có con chim khác, con chim lạ ấy sẽ hát lên bài ca mới. Muốn hiểu được bài ca mới ấy cũng phải có lỗ tai khác. Trong giai đoạn chuyển hướng đó của văn học cả người sáng tác cũng như công chúng rất cần đến nhà phê bình sáng suốt.

Những nhà văn đã trăn trở đi tìm cái mới thường họ không thể chiều theo thị hiếu ngày hôm qua của công chúng, việc sử dụng những hình thức biểu đạt mới cũng đã gây phản ứng tiêu cực đối với số đông, điều ấy có lẽ những người sáng tác không muốn. Nhà sáng tác nào cũng khát khao được hiểu, được thừa nhận, được cảm thông.

Còn công chúng, trước những sáng tác mới lạ ấy, họ còn ngỡ ngàng, ngạc nhiên, băn khoăn chưa biết xác định thái độ, chưa cảm thông, chưa biết đánh giá như thế nào.

Trong những trường hợp như thế, nhà phê bình có "con mắt xanh", là người hiểu được cái mới ấy và phải làm cho công chúng hiểu và đánh giá đúng giá trị mới của tác phẩm. Nhà văn và công chúng đều cần đến những nhà phê bình như vậy.

Hiện nay, hàng ngày các nhà xuất bản đưa ra thị trường hàng bao nhiêu là tiểu thuyết, bao nhiêu truyện ngắn, bút ký và thơ - tất nhiên cũng cần những mục "giới thiệu sách" ngắn gọn để thông báo cho công chúng biết mà tìm đến những món ăn tinh thần ấy. Nhưng trong số bao nhiêu sách in ra ấy có của thật và của giả. Không những thế có cả của độc. Nhiệm vụ của nhà phê bình là biết tìm và chỉ ra những giá trị thật để hướng dẫn dư luận, cố nhiên làm được nhiệm vụ là người phát hiện tài năng, nâng đỡ và bảo vệ tài năng là không đơn giản. Việc này không những đòi hỏi nhà phê bình có tay nghề : có tri thức, có năng khiếu thẩm mỹ, nhạy bén với cái mới mà đặc biệt còn cần sự trung thực và lòng dũng cảm nữa.

Cuối cùng tôi xin nói vài lời về nhiệm vụ lý luận phê bình đối với việc xây dựng nền mỹ học mới Việt Nam.

Trong thời kỳ bao cấp, nhà phê bình có một thuận lợi là nói theo sách, viết theo sách. Họ chỉ cần dẫn chứng những câu của nhà kinh điển, của sách giáo khoa mỹ học nước ngoài, hay những câu nói của lãnh tụ là có thể tước vũ khí của người đối thoại. Bây giờ mọi thứ sách vở và lời nói như vậy không còn quyền uy như cũ.

Ngày nay mỗi nhà phê bình phải là một chủ thể của tư duy sáng tạo, phải nghĩ bằng đầu của mình. Phải tổng kết ra một nền mỹ học Việt Nam rút ra từ những tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam.

Nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận lý luận tiên tiến của thế giới. Chúng ta cần có những lý luận trên cơ sở khoa học, cần có mỹ học mới. Trước kia khi nói đến mỹ học hay lý luận văn học nhiều nhà lý luận phê bình quan niệm một cách đơn giản là chỉ cần ứng dụng lý luận văn học của Liên Xô, mỹ học của Liên Xô để giải thích nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Bây giờ cũng còn nhiều nhà phê bình quan niệm rằng hoặc ứng dụng sách giáo khoa "cải tổ" của Liên Xô hay là chấp nhận mỹ học của phương Tây vào ta - "cũ người mới ta" vì ta là nước lạc hậu cứ học cho được cái tiên tiến của người ta cũng là một rồi.

Tôi nghĩ rằng :

Tất nhiên ta phải tiếp thu giá trị lý luận, mỹ học của Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa và những giá trị có chọn lọc của phương Tây để bổ sung và làm phong phú thêm nền mỹ học của ta. Nhưng đây chỉ là một nguồn không thể thiếu, còn phải kết hợp hai nguồn căn bản khác đó là những giá trị truyền thống và đặc biệt là phải biết rút ra những giá trị mỹ học mới từ trong những sáng tác mới.

Nhiều nhà lý luận phê bình ngộ nhận rằng lý luận văn học hay mỹ học là do các nhà lý luận đề ra. Nhưng theo tôi hiểu mỹ học là do các nhà sáng tác : nhà văn, nhà họa sĩ, nhạc sĩ... đẻ ra. Các nhà lý luận chỉ có thể xây dựng một nền lý luận nghệ thuật và mỹ học Việt Nam trên cơ sở tiếp thu một phần kinh nghiệm lý luận của nước ngoài và những giá trị truyền thống để rồi phát hiện, khái quát, tổng kết cái thẩm mỹ trong những sáng tác văn nghệ của Việt Nam.

Nền lý luận mỹ học ta vẫn nói đến trước đây thường thiên về phía nhập từ ngoài vào - từ Liên Xô, Trung Quốc, từ phương Tây mà phần khai thác giá trị truyền thống và tổng kết những giá trị mới trong bản thân đời sống văn nghệ Việt Nam ta chưa làm được bao nhiêu.

Cho nên đến nay chúng ta vẫn chưa có một nền mỹ học Việt Nam trong khi chúng ta đã có một nền văn học nghệ thuật Việt Nam thật sự có giá trị, phong phú và độc đáo.

Về chính trị, kinh tế, xã hội, chúng ta đã rút ra được bài học xương máu là không thể dập khuôn theo bất cứ mô hình "tiên tiến" nào mà phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể của mỗi nước mà tự tìm ra và xây dựng nên mô hình của mình, tôi nghĩ rằng về lý luận văn học nghệ thuật và mỹ học cũng như vậy. Không có một thứ mỹ học dập khuôn bất biến cho mọi đất nước, mọi thời đại - Mỹ học Việt Nam phải xuất phát từ bản thân nền văn học nghệ thuật Việt Nam và yêu cầu của công chúng Việt Nam.

Giới sáng tác có thể nói rằng : Chúng tôi đã sáng tạo nên cái đẹp Việt Nam trong những tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam. Các nhà lý luận hãy tổng kết nó để xây dựng nên một nền mỹ học Việt Nam.

Đó là món nợ mà các nhà lý luận phê bình phải trả cho những người sáng tác và cho nền văn nghệ nước nhà.

N.T.
(TCSH47/01&2-1992)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THIỆN KHANH Inrasara nhập cuộc văn chương từ rất sớm. Ngòi bút của Inrasara chạm được vào những vấn đề cốt tử của nghệ thuật. Inrasara đã sống thực sự với đời sống văn chương đương thời.

  • HUYỀN SÂM - NGỌC ANH 1. Umberto Eco - nhà ký hiệu học nổi tiếng.Umberto Eco chiếm một vị trí rất đặc biệt trong nền lý luận đương đại của Châu Âu. Ông là một triết - mỹ gia hàn lâm, một nhà ký hiệu học uyên bác, một tiểu thuyết gia nổi tiếng và là giáo sư danh dự của trường Đại học Bologne ở Italia. Tư tưởng học thuật của ông đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến đời sống trí tuệ của sinh viên và giới nghiên cứu trong suốt nửa thế kỷ qua. Ông có mặt trong danh sách của hai mươi nhà tư tưởng đương đại lớn nhất thế giới, và cũng là ứng cử viên thường trực của Viện Hàn lâm Thụy điển về việc bình chọn giải Nobel văn học.

  • ĐỖ NGUYỄN VIỆT TƯ         (Nhân đọc thơ Hoàng Vũ Thuật)Trong con người cũng như trong vũ trụ luôn luôn hiện diện một mâu thuẫn bất biến, nhờ cái khối mâu thuẫn này mà nó tồn tại, phát triển và trở nên thống nhất. Con người luôn đi tìm chính mình trong một cuộc phiêu lưu vô định, không bao giờ bằng lòng với những cái đã có, bản ngã lúc nào cũng thôi thúc sáng tạo để tìm ra cái mới. Nhà thơ luôn đồng hành với cuộc phiêu lưu của những con chữ để đi đến những miền đất lạ, những vùng cảm xúc.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANSau mấy tháng mưa tầm tã và lạnh thấu xương, qua đầu tháng chạp âm lịch, toàn khu Hạ Lào bắt đầu tạnh. Mặt trời lại hiện ra đem ánh sáng sưởi ấm những khu rừng bạt ngàn từ Trường Sơn lượn xuống. Ở các suối nước không còn chảy như thác đổ, ở Xê Công dòng nước cũng đã trở lại hiền hòa. Các con đường lớn, đường nhỏ bắt đầu khô ráo.

  • TRẦN ĐƯƠNGTôi được làm quen và có quan hệ cởi mở với nhà thơ Tố Hữu từ mùa thu năm 1973, sau khi ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đức (DKP) họp tại thành phố cảng Hăm-bugr). Từ  miền Tây, ông sang Béc-lin, Cộng hòa Dân chủ Đức, theo lời mời của Bộ chính trị Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) với mục đích thăm, nghiên cứu và trao đổi về công tác tư tưởng giữa hai Đảng.

  • TRẦN THÁI HỌCĐến nay, vấn đề giá trị nghệ thuật không còn là vấn đề thời sự được nhiều người trong giới phê bình quan tâm bàn cãi. Sự lắng lại trong không khí phê bình về vấn đề này, vốn đã trải qua một thời kì tranh luận sôi nổi kéo dài hàng chục năm trên văn đàn gắn liền với những quan điểm triết học và mỹ học khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

  • HÀ VĂN THỊNH Trên trái đất này, có lẽ chỉ có các nhà thơ mới quan niệm cuộc đời là một trò chơi. Ngay cả Thánh Kinh, khi bàn về lẽ khởi - tận của kiếp người cũng phải than: thân cát bụi trở về cát bụi. Lời nguyền đó là tiếng kêu bi thương từ sâu thẳm của hàng triệu năm đau đớn để sống và, để chết. Từ ngày đầu tiên sinh ra loài người, Adams  đã phải dắt díu Éva trốn chạy khỏi Thiên Đường trong nước mắt và uất hận; đau đớn và tuyệt vọng; cô đơn và sỉ nhục... Đó là những điều ngăn cản việc biến cuộc đời thành một trò chơi.

  • NGUYỄN THAM THIỆN KẾ... Đức Phật, nàng Savitri và tôi sẽ là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng thời nó sẽ giữ ngôi vị lâu dài là tiểu thuyết duy nhất trong văn học Việt lấy cuộc đời giáo chủ Phật giáo làm nguồn cảm hứng. Và sẽ còn lâu lắm văn chương Việt mới có một nhà văn đủ tự tin cũng như tài năng để động vào bàn phím viết về đề tài này. Nó cũng sẽ là thời gian cộng trừ 20 năm, nếu như nhà văn nào đó bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu văn hóa Ấn...

  • HOÀNG NGỌC HIẾNNhan đề của tập thơ khiến ta nghĩ Trần Tuấn đặc biệt quan tâm đến những ngón tu từ, mỹ từ của thi ca, thực ra cảm hứng và suy tưởng của tác giả tập trung vào những vấn đề tư tưởng của sự sáng tạo tinh thần: đường đi của những người làm nghệ thuật, cách đi của họ và cả những “dấu chân” họ để lại trên đường.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTrong sáng tác văn học của nhà văn Lỗ Tấn, Cỏ dại  là tập thơ văn xuôi giàu tính hiện đại nhất xét về tư duy, tư tưởng và hình ảnh. Tuy nhiên trong một thời gian dài, phẩm chất nghệ thuật này đã không được nhìn nhận đúng mức.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Trích đăng Lời giới thiệu “Tuyển tập Minh triết phương Đông - Triết học phương Tây” của Hoàng Ngọc Hiến)

  • NGUYỄN GIA NÙNGCả cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Cao Bá Quát là một chuỗi dài những bi kịch của cuộc tìm kiếm không ngừng, không nghỉ về lẽ sống ở đời, về vai trò của văn thơ nói riêng, về kẻ sĩ nói chung. "Mình là ai?" "Mình có thể làm được gì? Làm thế nào để có thể tự khẳng định mình và có thể giúp ích được cho đời?" Có thể nói những câu hỏi ấy luôn trăn trở, dằn vặt trong con người Cao Bá Quát từ khi tự ý thức được tài năng của mình cho đến lúc từ giã cõi đời mà vẫn chưa tìm được lời giải đáp trong một chế độ đầy rẫy bất công, phi lý mà mọi con đường để thoát ra, với ông, đều mờ mịt và chính ông, dù đã cố công tìm, bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc.

  • THẠCH QUỲBài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tuyển chọn để giảng dạy ở trường phổ thông vài chục năm nay. Đó cũng là bài thơ xuất sắc được bạn đọc cả nước yêu mến. Tuy vậy, cho đến hôm nay, cái hình ảnh “Mặt chữ điền” đầy sức quyến rũ và ám ảnh ấy vẫn chưa được nhận chân, nhận diện một cách chính xác.

  • HỒ THẾ HÀNhư một quy luật hiển nhiên, có sáng tác văn học thì sớm muộn gì cũng có phê bình văn học và lý luận văn học, càng về sau, có thêm các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học - với tư cách là trường phái, trào lưu nối tiếp nhau nhằm tiếp cận và giải mã tác phẩm ngày một đa dạng, tối ưu, hiện đại để không ngừng làm đầy những giá trị và ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm văn học.

  • PHONG LÊTrong văn học Việt Nam, trước trào lưu hiện thực, hình ảnh người trí thức đã có mặt trong khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn. Đó là các nhân vật trong vai điền chủ, luật sư, quan lại - có vốn tri thức và có chút băn khoăn, muốn nhìn xuống nỗi khổ của những người dân quê, và mong thực hiện một ít cải cách cho đời sống họ đỡ tối tăm và đỡ khổ.

  • MÃ GIANG LÂNCách nhân bản thơ, xuất bản thơ bằng "công nghệ sạch" của loài người có từ ngày xửa ngày xưa dưới hình thức ngâm thơ và đọc thơ. Người Việt chúng ta ngâm thơ là truyền thống. Tiếng Việt nhiều thanh, giàu tính nhạc, giọng ngâm có sức vang, sức truyền cảm.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Chương trình Văn học lớp 11, chỉnh lí năm 2000, phần tác giả Cao Bá Quát, bài Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi, giảng một tiết, được thay bằng bài Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây). Cả sách học sinh và sách giáo viên đều không có chú thích gì về "hành", ngoài cách chuyển y khi dịch sang tiếng Việt như vừa ghi.

  • ĐIỀN THANHAndy Warhol nổi tiếng là người đùa rỡn với chuyện danh tiếng, nhưng niềm say mê của ông với sinh hoạt hiện đại có hàm chứa một không gian tối xám hơn nhiều. Đó là việc ông bị ám ảnh bởi cái chết, điểm này cho mỗi chúng ta biết nhiều nhất về tinh thần của thời đại ngày nay…

  • ĐINH VŨ THUỲ TRANGThời Đường là thời đại cực thịnh của dân tộc Trung Hoa về mọi mặt, trong đó có thơ ca. Câu nói này có vẻ sáo mòn nhưng không thể không nhắc đến khi nhìn vào những trang sử vàng son ấy. Chúng ta biết đến ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... Nhưng phải nói rằng, chỉ đọc thơ của họ thì chưa thấy hết được cái hay của thơ Đường. Bởi lẽ, các nhà thơ tuy cùng khuôn luật, cùng chủ đề... nhưng mỗi người đều riêng khác nhau.

  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.