Trong lịch sử âm nhạc, ở thời kỳ Tiền cổ điển và Cổ điển (1720-1820), các nhạc sĩ có xu hướng phát triển nhiều hình thức với cách diễn đạt tự nhiên, phản kháng lại phong cách đối âm thời kỳ Baroque quá cứng nhắc và lý trí, từ đó hình thành một trào lưu mới trong âm nhạc – Rococo.
Một phiên bản vở opera “Orfeo ed Euridice” của nhà soạn nhạc Christoph Willibald Gluck trên sân khấu nhà hát San Carlo di Napoli, Ý.
Các phong cách Tiền cổ điển
Cách phản kháng lại phong cách Baroque mang các hình thức khác nhau ở Pháp, Đức và Ý. Tại Pháp, xu hướng mới thường được gọi là rococo hay style galant (tiếng Pháp: “phong cách nhã nhặn”) có đại diện tiêu biểu là nhà soạn nhạc François Couperin (1668-1733). Phong cách này nhấn mạnh vào cấu trúc cùng chủ điệu gồm giai điệu với phần đệm hòa thanh. Giai điệu được tô điểm bằng những nét trang trí như những âm láy ngắn. Thay vì một dòng nhạc liên tục như trong một bản fugue thời Baroque, tác phẩm của các nhà soạn nhạc Pháp là sự kết hợp của các đoản khúc tách biệt như ở âm nhạc vũ khúc. Đặc trưng của các tác phẩm này là sự ngắn gọn và mang tính chương trình, nghĩa là khắc họa những hình ảnh phi âm nhạc như lũ chim hay tiếng cối xay gió. Đàn harpsichord là nhạc cụ phổ biển nhất và có nhiều tổ khúc được viết cho nhạc cụ này.
Ở miền Bắc Đức, phong cách tiền cổ điển được gọi là empfindsamer Stil (“phong cách nhạy cảm”), bao gồm một phạm vi rộng hơn những xúc cảm tương phản so với phong cách nhã nhặn. Các nhà soạn nhạc Đức thường viết các tác phẩm dài hơn người Pháp, sử dụng nhiều loại kỹ thuật âm nhạc thuần túy để thống nhất các phân đoạn tác phẩm và không dựa vào những hình ảnh phi âm nhạc như người Pháp. Do vậy các nhà soạn nhạc Đức đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các hình thức trừu tượng, chẳng hạn như hình thức sonata, và trong sự phát triển của các thể loại khí nhạc lớn, như concerto, sonata, và giao hưởng.
Ở Ý, phong cách tiền cổ điển không có tên gọi cụ thể, có lẽ là vì nó không đột ngột phá vỡ âm nhạc của thời kỳ vừa mới qua. Tuy nhiên các nhà soạn nhạc Ý đã có vai trò lớn trong sự phát triển của các thể loại mới, đặc biệt là giao hưởng. Các overture của opera, được gọi là sinfonia, thường chẳng có liên hệ gì về mặt âm nhạc hay kịch tính với vở opera mà nó mở màn. Đôi khi các nghệ sĩ Ý chơi các bản overture này trong các buổi hòa nhạc và rồi đến lúc nhà soạn nhạc bắt đầu viết các tác phẩm khí nhạc độc lập theo khuôn khổ của overture. Khuôn khổ này gồm ba chương, chương đầu và chương cuối ở tốc độ nhanh còn chương giữa ở tốc độ chậm. Trong mỗi chương, tiến trình của các ý tưởng âm nhạc thường tuân theo một mô hình mà rốt cuộc đã tiến hóa thành hình thức sonata.
Thời kỳ Cổ điển
Các thể loại khí nhạc
Khi các nhà soạn nhạc Ý đã thiết lập ý tưởng về việc viết sinfonia khí nhạc độc lập thì các nhà soạn nhạc Đức liền tiếp nhận ý tưởng này và ở các trung tâm hoạt động chính của người Đức là Berlin, Mannheim và Vienna, các hình thức, thể loại và phương tiện âm nhạc khác biệt liền nảy sinh.
Trong phạm vi nhạc thính phòng, các nhà soạn nhạc bắt đầu viết những tác phẩm như tứ tấu đàn dây, tam tấu đàn dây, sonata cho đàn phím cùng phần đệm violin. Về phương tiện dàn nhạc, các nhà soạn nhạc không chỉ viết các giao hưởng mà còn viết các concerto cho nhạc cụ độc tấu cùng dàn nhạc. Các hình thức khí nhạc này đều gồm ba hoặc bốn chương nhạc, trong đó một hay nhiều chương ở hình thức sonata.
Tiêu biểu cho sự phát triển âm nhạc ở thời kỳ này là một nhóm nhà soạn thuộc trường phái Vienna, với ba nhân vật quan trọng nhất là Joseph Haydn (1732-1809), Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791) và Ludwig van Beethoven (1770-1827). Haydn là nhà cải cách vĩ đại, người đã thiết lập nên các hình thức như tứ tấu đàn dây và giao hưởng nhưng ngay lập tức uốn bẻ chúng theo các cách thức kì quặc. Mozart là nhà soạn nhạc cổ điển thăng bằng và “cổ điển” nhất, cân bằng được chất hài và chất bi trên một lưỡi dao trong các opera và concerto của mình. Beethoven là nhà soạn nhạc Anh hùng đầu tiên vì dù bị điếc ở nửa chừng sự nghiệp nhưng đã đưa giao hưởng lên một sân khấu nơi mà những lực lượng lớn lao của vũ trụ được tham chiến và giật tung chất bi thương và khêu gợi từ một nhạc cụ hoàn toàn mới – đàn piano. Vào cuối thời kỳ Cổ điển nhà soạn nhạc Franz Schubert (1797-1828), người Vienna cũng phát triển thể loại giao hưởng và tứ tấu đàn dây theo một phong cách riêng.
Opera cải cách và phát triển
Trong thời kỳ Cổ điển, opera chủ yếu phát triển tại Đức, Áo và cả ở Pháp với hai thể loại chính: opera seria (opera nghiêm túc) và opera buffa (opera hài hước). Còn tại Ý - cái nôi sinh thành, nghệ thuật opera rơi vào giai đoạn khủng hoảng dù các vở opera bằng tiếng Ý vẫn được sáng tác đều đặn
Opera seria có cốt truyện lấy từ đề tài lịch sử hoặc thần thoại với âm nhạc mang tính chất trang trọng và là thể loại opera rất phổ biến trong thời kỳ Baroque. Đến đầu thế kỉ 18, kết cấu của opera seria trở nên rất nhàm chán vì chỉ gồm các aria và reritative luân phiên nhau. Sân khấu opera lúc đó là nơi để các ca sĩ giọng nam hoạn (castrato) khoe giọng mà không thèm đếm xỉa đến nội dung cũng như yêu cầu của tác giả. Trong bối cảnh đó, opera buffa lên ngôi và trở thành phong cách opera chủ đạo của thời kỳ Cổ điển. Opera buffa dí dỏm, nhẹ nhàng với những nội dung lấy từ chính cuộc sống thường nhật của người dân, châm chọc những người thuộc tầng lớp trên nên dễ được quần chúng đón nhận. Về mặt âm nhạc, opera buffa sử dụng nhiều các đoạn song ca (duo) và coi trọng giọng nam trầm (bass), điều gần như không xuất hiện trong opera seria. Nhà soạn nhạc opera tiêu biểu thời kỳ này là Giovanni Pergolesi (1710 - 1736).
Tại Pháp, opera hài hước được gọi là opéra-comique. Nó tiếp thu và phát triển từ opera buffa Ý nhưng có thay đổi đáng kể nhất là không sử dụng recitative và thay vào đó là hình thức đối thoại. Nhà hát Opéra-Comique tại Paris chuyên biểu diễn thể loại này.
Tại Đức, từ giữa thế kỉ thứ 18 hình thành thể loại singspiel (hát – diễn). So với opera buffa hay opera-comique thì singspiel có nhiều đối thoại hơn và mang nhiều âm hưởng của các bài hát Đức (lied) và ảnh hưởng từ hài kịch dân gian Đức.
Một trong những nhà cải cách opera quan trọng nhất thời kỳ này là Christoph Willibald Gluck (1714-1787), người viết phần lớn các vở opera có ảnh hưởng ở Vienna và Paris từ năm 1764 tới năm 1779. Trong opera của mình, Gluck chuyên tâm vào thế giới nội tâm của nhân vật và buộc âm nhạc phục vụ cho tính kịch. Gluck cũng là người đầu tiên đưa một số giai điệu của opera vào trong phần overture, điều này giúp cho overture trở thành phần dự báo và giúp cho thính giả nắm được chủ đề cơ bản của vở opera. Opera ở thời kỳ Cổ điển lên đến đỉnh cao trong các tác phẩm sân khấu của Mozart mà trong đó, mọi khía cạnh thanh nhạc và khí nhạc đều góp phần vào sự phát triển cốt truyện và mô tả tính cách nhân vật. Mozart là tác giả của hơn 20 vở opera, trong đó có nhiều vở là kiệt tác.
Các nhà soạn nhạc tiêu biểu
|
Thời kỳ |
Trường phái / Phong cách / thể loại |
Nhà soạn nhạc tiêu biểu |
|
Tiền cổ điển & Cổ điển (1720-1820) |
Phong cách Nhã nhặn &opera buffa |
Giovanni Pergolesi (1710-1736) |
|
Phong cách Nhã nhặn (galante style) |
Luigi Boccherini (1743-1805) |
|
|
Phong cách Nhạy cảm (empfindsamer Stil ) |
W.F. Bach (1710-1784) C.P.E. Bach (1714 – 1788) Johann Christian Bach (1735-1782) |
|
|
Nhà cải cách opera |
Christoph Willibald Gluck (1714-1787) |
|
|
Trường phái Vienna thứ nhất
|
Joseph Haydn (1732-1809) W.A. Mozart (1756 - 1791) Ludwig van Beethoven (1770-1827). |
|
|
vừa Cổ điển vừa Lãng mạn |
Franz Schubert (1797-1828) |
Nguồn: Ngọc Anh - Tia Sáng
Tải mã QRCode
Có lần tôi hỏi một nhóm các nhà soạn nhạc trẻ mà tôi đang giảng dạy xem liệu có thứ âm nhạc hiện đại nào khiến họ không ưa chăng. Hơn một nửa số người đã nhắc đến Pierre Boulez.
Joseph Haydn là một nhà soạn nhạc đáng kinh ngạc và hài hước là một phần trong nghệ thuật tuyệt vời của ông.
Nhạc: NGUYỄN VIỆT HOÀNG
Thơ: NGUYỄN THÀNH PHONG
George Harrison của ban nhạc The Beatles gọi ông là “bố già” của dòng World Music. Yehudi Menuhin, Philip Glass, André Previn, Zubin Mehta và David Murphy từng hợp tác ra album hoặc chỉ huy tác phẩm của ông. Nhiều nghệ sĩ độc tấu, trong đó có nghệ sĩ flute Jean-Pierre Rampal hay nghệ sĩ cello Mstislav Rostropovich, đều từng mời ông biểu diễn cùng. Ông là nghệ sĩ đàn sitar, nhà soạn nhạc cổ truyền Ấn Độ Ravi Shankar.
LÊ ĐÌNH BÍCH
Sau lần dự buổi giảng dạy về văn hóa và âm nhạc của chúng tôi cho sinh viên Đại học SIT - Hoa Kỳ theo kế hoạch thường niên hợp tác giữa Đại học Cần Thơ và Đại học SIT, nghiên cứu sinh tiến sĩ âm nhạc Alexander M. Cannon, thuộc bộ môn âm nhạc học Đại học Michigan quyết định về Cần Thơ nghiên cứu âm nhạc Tài Tử Nam Bộ - một phần trong luận án tiến sĩ của anh.
Nền Âm nhạc Việt Nam vừa phải đau đớn tiễn biệt những vị nhạc sĩ tài hoa liên tiếp chỉ trong một thời gian ngắn, từ Trần Văn Khê, Phan Huỳnh Điều, Phan Nhân cho tới An Thuyên. Trong số này, nhạc sĩ An Thuyên được coi là gương mặt tiêu biểu của dòng âm nhạc dân gian đương đại.
Đa số giao hưởng của Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) được viết ở giọng trưởng, chỉ có hai bản giao hưởng số 25 và số 40 đều được viết ở giọng thứ (Sol thứ).
Mặc dù tên tuổi của Cristofori ít được phổ biến rộng rãi, nhưng cây đàn piano do ông tạo ra đã trở thành nhạc cụ có tầm ảnh hướng rất lớn đến nền âm nhạc và xã hội loài người.
Âm nhạc cổ điển vốn có tiếng là quý phái song cũng đầy rẫy những cuộc luận chiến và những vụ bê bối. Clemency Burton-Hill chọn ra một vài sự vụ đình đám nhất trong số đó.
Huế và chùa, hai mảnh ghép trong vô tận mảnh ghép cuộc đời họ Trịnh, chỉ duy, chúng hình như gần trái tim của người nhất, hay nói cách khác, Trịnh đã hít thở từ khi còn nằm nôi...
NGUYỄN VIỆT
Tuyển tập Rừng hát do Nxb. Văn học ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc tháng 1/2015, là một công trình xuất bản văn học nghệ thuật công phu, chất lượng và rất đáng trân trọng về những tác phẩm và công trình nghiên cứu của nhạc sĩ, nhà văn, nhà biên kịch, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian Minh Phương.
Sau hơn một năm điều trị bệnh, dù được các y bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng vì tuổi cao, sức yếu, nhạc sĩ Hồ Bông đã trút hơn thở cuối cùng vào lúc 16 giờ 15 ngày 23-4, tại Bệnh viện Thống Nhất, TPHCM.
Martin Jarvis, giáo sư âm nhạc người Wales hiện đang giảng dạy tại ĐH Charles Darwin, Úc, vừa đưa ra một số bằng chứng cho rằng người vợ thứ hai của Bach, Anna Magdalena, mới chính là tác giả thực sự của một số tác phẩm lớn của ông, bao gồm cả bộ tác phẩm Cello Suites kinh điển.
“19 tháng 8”, “Giải phóng Điện Biên”, “Tiến về Hà Nội”, “Đất nước trọn niềm vui”, “Như có Bác trong ngày đại thắng”…là những khúc tráng ca đầy hào hùng và xúc động ngợi ca chiến thắng của quân và dân ta, gắn liền với những mốc son của lịch sử dân tộc.
Các dòng nhạc ít nhiều đều góp phần nuôi dưỡng lẫn nhau. Ta có thể nói các bài hát của Adele có cấu trúc giống các ca khúc nghệ thuật của Schubert và việc vay mượn giai điệu có thể đã không tồn tại nếu không có Dvorák.
Trong cảnh phong trần của lịch sử dân tộc, mỗi con người đều mang chút thân phận éo le, không cứ gì các bậc tài danh. Nhưng tài danh thì nhiều người biết đến, và trở thành tiêu biểu, như nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924-2001) đã ra đi ngày 15 tháng 11, 2001 tại Hà Nội, mà những ngày se lạnh đang nhắc lại những khúc ca mùa thu tuyệt diệu mà ông là tác giả.
Nhà soạn nhạc người Anh Richard Blackford vừa cho ra đời một tác phẩm giao hưởng chưa từng có: “The Great Animal Orchestra” (Dàn nhạc Động vật Vĩ đại), lồng ghép những âm thanh của các loài vật hoang dã vào chất liệu của một dàn nhạc giao hưởng hoàn chỉnh. Không chỉ là một tác phẩm âm thanh ngoạn mục, bản giao hưởng còn đặt ra những câu hỏi đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa động vật, con người và âm nhạc.
VĂN THAO
Trích hồi ký Văn Cao - Đời & nghiệp
Mùa thu năm 1947, từ Lào Cai, Văn Cao trở về Vĩnh Yên. Ông cùng gia đình mở một quán cà phê tại chợ Me Lập Thạch tiếp tục làm báo Độc Lập và phụ trách một cơ sở in báo đóng tại Thản Sơn.
Tiếp theo sự ra đời của nhiều trường phái mới cùng song song tồn tại như Ấn tượng, Biểu hiện, Tân Cổ điển, Nhạc 12 âm v.v. với những cách tân để thay thế cho những quy phạm cũ của nền âm nhạc truyền thống, nửa sau thế kỷ 20 lại chứng kiến một cuộc cách mạng triệt để không kém về triết lý sáng tác, từ đó cho ra đời các tác phẩm thể hiện những tư tưởng cá nhân đầy táo bạo.
Từ anh bộ đội trở thành nhạc sĩ
Tên khai sinh của nhạc sĩ Xuân Giao (ảnh) là Trương Xuân Giao, sinh ngày 2-1-1932, tuy quê hương ở Hưng Yên, nhưng ra đời ở Tiên Lãng, TP Hải Phòng, lớn lên học Trường chuyên khoa Phan Thanh ở tỉnh Thái Bình.