VÕ QUỐC VIỆT (Đọc “Đất Việt trời Nam liệt truyện” của Trần Bảo Định)
Trong khoảng một thập kỷ, nhà văn Trần Bảo Định đã có gia tài văn chương đồ sộ. Từ thơ ca, truyện ký cho đến nghiên cứu lý luận phê bình, hơn hai mươi đầu sách của Trần Bảo Định đã trình làng. Trên trang văn, phạm vi đề tài của Trần Bảo Định rất phong phú đa dạng; song văn hóa lịch sử vẫn là địa hạt nổi bật hơn cả. Và để kết dệt chiều dài văn hóa lịch sử hơn ba trăm năm vùng đất Nam Bộ, nhà văn quê Long An vừa trình làng tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện (do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành). Đây là tuyển tập văn xuôi lịch sử đặc sắc của nhà văn Trần Bảo Định; ví như “trường thiên tiểu thuyết” qua nhiều giai đoạn lịch sử gian lao mà anh hùng của người và đất Nam Bộ mến yêu.
1. Tuyển tập trải dài từ những người lưu dân đầu tiên vào Đàng Trong (hồi một, từ năm 1620…), cho đến khi vương triều Nguyễn thiết lập chính thể thống nhất, khi thực dân Pháp xâm lược (hồi hai, từ 1859…) và tiến hành hàng loạt cuộc khai thác thuộc địa ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (hồi ba, từ 1900…). Qua tuyển tập này, “bạn đọc sẽ cảm thấy âm vang tiếng nói hào sảng, cảm khái tính cách phóng khoáng và phẩm chất nhân nghĩa thủy chung của người bình dân châu thổ Cửu Long”. Du hành theo dòng lịch sử, bạn sẽ cảm nhận rõ hơn sự biến động vĩ mô thời đại, cùng với sự biến thiên vi mô trong đời sống lao động sản xuất và văn hóa phong tục thường ngày của người bình dân. Trang văn cũng cho thấy thay đổi sâu sắc trong cơ cấu văn hóa và nhận thức thời đại của người bình dân do việc thiết lập chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX. Với truyền thống yêu nước thương nòi, họa ngoại xâm càng kích hoạt khả lực cách mạng sôi nổi, càng sản sinh thêm những bậc anh hùng như: Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt,… càng khêu sáng thêm khí tiết anh hùng phương Nam.
Về ýnghĩa tên gọi tuyển tập, “liệt truyện” vốn làvăn bản ghi chép tiểu truyện nhân vật anh hùng trong chính sử (hay sử của chính thể). Liệt truyện thuộc thể kỷ truyện - một thể thức thư tịch cổ phổ biến trong văn học trung đại Đông Á. Thể kỷ truyện gồm bản kỷ (chép truyện nhà vua), liệt truyện (chép truyện hoàng tộc, ngoại thích và nhân vật có đóng góp lớn). Trong khi đó, liệt truyện của Trần Bảo Định lại xuất phát từ nhãn quan bình dân để ghi chép tiểu truyện của những người anh hùng bình dân Nam Bộ. Họ có thể là những người hữu danh (như Đỗ Thanh Nhơn, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Mai Tự Thừa,…); hoặc những người vô danh (Lê Phước Tang, hai bà vợ của Phan Thanh Giản, Cô Hai Rái, Cô Sáu Sanh, mẹ của ĐỗTrình Thoại,…). Nhưng trên hết, nhà văn muốn tôn vinh tinh thần người anh hùng xuất thân bình dân và trọn đời gắn bó bình dân. Đó là những vị anh hùng không được chính sử ghi chép, hoặc ghi chép từ “nhãn quan khác” (ví dụ Lê Xuân Giác - kỳ sĩ đất Sầm Giang). Thế nhưng, ta thấy nhà văn không xuất phát từ hệ quy chiếu chính sử mà xuất phát từ lợi ích nhân dân đất nước để giúp cho bạn đọc nhận ra đóng góp to lớn của những anh hùng bình dân phương Nam. Cho nên nói, Đất Việt trời Nam liệt truyện là dân gian sử, là tiểu truyện của những người anh hùng chân lấm tay bùn. Họ đã sống trong lòng dân và chắc chắn sẽ còn tiếp tục sống mãi trong lòng nhân dân. Không dừng lại ở trang viết lịch sử về con người xứ sở, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện còn biểu thị nhân cách văn hóa và dòng sinh mệnh văn hóa Nam Bộ. Du hành lịch sử cùng trang liệt truyện, bạn sẽ nhận thấy rõ ràng hơn nữa phong khí tốt tươi, tràn đầy sinh lực của miền châu thổ Cửu Long.
2. Qua phép đọc song song, tác phẩm của Trần Bảo Định và chính sử có thể nói đã không ngừng trao đổi, truy vấn và chuyển hóa lẫn nhau. Chính sử và dân gian sử có khoảng cách nhất định và trang viết của Trần Bảo Định đã hiệp thông hai địa hạt này, làm sáng tỏ nhiều “góc khuất dưới chưn đèn” của sử thời. Nhờ đó, bạn đọc nhận ra thực chất ý hướng anh hùng bình dân Nam Bộ. Đó là cuộc tranh đấu vì dân vì nước hơn là tranh đấu vì vương thổ cho vương quyền. “- Thưa quan lớn! Đất nào đất của vua, của nhà Nguyễn? Đất từ mồ hôi nước mắt và thậm chí, cả máu xương của bao lớp người lưu dân đi khẩn đất. Chính họ chớ không phải vua quan là người chủ đất. Vua Tự Đức không có cái quyền đem đất của dân làm quà dâng cho giặc, rồi chơi trò sấp ngửa với dân Nam Kỳ!” (Tập Trung, tr.121). Câu nói của Âu Dương Lân phỉ nhổ vào mặt tên vong nô Trần Bá Lộc đã nêu rõ khí tiết dân Nam Kỳ. Bằng cách đó, nhà văn đặt người đọc vào tình thế, không phải đọc sử, mà ngẫm sử. Việc này giúp bạn đọc không chỉ biết sử và còn hiểu sử. Hành động tư tưởng về phía lịch sử của người đọc khi tiếp nhận tuyển tập này, thậm chí, có thể làm thay đổi hoàn toàn nhãn quan lập thành sử tính trong tư duy bạn đọc. Bức tranh lịch sử hiển hiện ra như thế nào tùy thuộc vào tâm thế của người lập sử. “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Vậy sử tính nào sống đời với nước non!
Trong cơn quốc nạn, chính những anh hùng bình dân vô danh đóng góp xương máu cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Như ý thơ Nguyễn Đình Thi: “Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Với chất giọng bình dân, lập sử trên căn tính dân gian, Đất Việt trời Nam liệt truyện đã lên tiếng cho những tiếng nói “thấp cổ bé họng” bị gạt ra ngoại vi trong cuộc thư hùng vương quyền. Nhưng cũng chính những tiếng nói ấy, những con người ấy đã gột rửa quốc nhục, cứu nguy quốc nạn. “- Máu của ai? Máu dân mới rửa sạch nước dơ. Máu vua quan cúi đầu lụy giặc chỉ tổn làm nước dơ thêm! […] Triều đình Huế chơi trò hai mặt với phong trào dân chúng chống thực dân Pháp ở Nam Kỳ. Biết vậy, song kẻ sĩ và dân chúng chẳng để tâm và nản lòng” (Tập Trung, tr.119). Chính vậy, không ít nho sĩ trở về với dân, cùng dân đánh giặc ngoại xâm; như Đỗ Trình Thoại ở Gò Công, Trần Xuân Hòa (tức Phủ Cậu) ở Thuộc Nhiêu, Đỗ Thúc Tịnh ở Mỹ Quý, như Võ Duy Dương ở Tháp Mười,… Bởi như Âu Dương Lân đã nói: “Dẫu chỉ là cục đất chọi chim, người dân thất học quê tôi cũng quyết giữ. Tôi, kẻ có học và từng đọc sách thánh hiền, chẳng lẽ không bằng họ?” (Tập Trung, tr.120). Cho nên nói, chủ yếu thông qua các anh hùng vô danh mà chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định được bộc lộ sáng rõ, ấy là quan niệm: Nhân Dân Anh Hùng!
Với khả lực liên văn bản đa chiều, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định còn kết dệt trường cộng hưởng triết sử mạnh mẽ. Không chỉ bởi quy mô không - thời gian của tuyển tập mà còn bởi khả năng cộng thông với các văn bản phi văn học ngoài tuyển tập mà bộ sách này tạo nên mạng lưới sử liệu, ví như những kênh rạch chuyên chở dòng nước phù sa nuôi nấng vun bồi cho xứ sở. Mỗi “liệt truyện” như mỗi con kênh, dòng sông đưa chiếc xuồng lòng ta xuôi theo thời gian lịch sử của đất Việt trời Nam, men theo con đường đất quê nhà để sống lại những năm tháng hào hùng, với những chiến công oanh động nức lòng dân quê. “Đời sau, không ai không nhớ lão Tám, làm rạng rỡ dòng họ Mai và thằng Nhanh, xứng danh đứa con Cần Giuộc, sống thác chẳng hổ thẹn với những gì mà Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lưu truyền” (Tập Trung, tr.246). Vì thế, Đất Việt trời Nam liệt truyện chính là bộ trường thiên tiểu thuyết ca ngợi khí phách nghĩa sĩ vô danh vì nước quên mình.
Nếu xem lịch sử như văn bản thì, sự lập sử chịu tác động của chí ít ba nguyên nhân: nhãn quan thời đại, nhãn quan liên thời đại và biến đổi của ngôn ngữ. Như vậy, mọi văn bản sử, sau khi đã xảy ra và lập thành, đều liên tục được tái tạo. Tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định chính là minh chứng của sự tái tạo liên tục sử tính Nam Bộ. Đáng nói, nhà văn không chỉ tái hiện mà còn tái tạo tâm thế cho người đọc phóng nhãn quan về sử tính Nam Bộ trên ba trăm năm lịch sử. Từ đây, ta nhận ra, sử tính Nam Bộ (mở mang bờ cõi, bảo vệ đất nước và giữ hồn dân tộc) vẫn liên tục được tái tạo; khiến cho sử tính Nam Bộ đến tận hôm nay vẫn mới mẻ, cập nhật, thiết thực và gần gũi. Sử tính ấy cũng cho thấy khả lực cách mạng mạnh mẽ trong tâm hồn bình dân phương Nam. Trong đó, khí khái oanh liệt đáng nể là các bậc anh thư, như: công nữ Ngọc Vạn, bà Hai - người gốc Lam Kinh, bà Hai Cúc ở gãnh Mù U (Tập Thượng); cô Hai Rái, cô Sáu Sanh, bàTư Thịnh (Tập Trung); Dì Ba chẻ chữ, Cô Bảy Sòng Phẳng, bà Nguyễn Thị Bảy (Tập Hạ). Trịnh Hoài Đức từng nhận xét: “Thành Gia Định ở về phương Nam, chỗ gần ánh sáng mặt trời, người phần nhiều trung dũng khí tiết, khinh của trọng nghĩa, dù đàn bà con gái cũng thế. Người đẹp có rất nhiều, mà người giàu, người thọ, người trí xảo, cũng phần nhiều là đàn bà”*. Góc nhìn của Trịnh Hoài Đức nếu nghĩ kèm quan niệm địa văn hóa, hẳn cũng có phần hữu lý. Và thực tiễn lịch sử Việt Nam hiện đại cũng cho thấy, đất Nam Bộ có vị nữ tướng đầu tiên ghi dấu ấn sâu đậm với “đội quân tóc dài” và phong trào Đồng khởi Bến Tre.
3. Vốn là cựu sinh viên Ban Triết của Trường Đại học Văn Khoa (Viện Đại học Đà Lạt), Trần Bảo Định tiếp cận nền triết học Đông Tây có hệ thống. Đây là điều kiện thuận lợi, góp phần đáng kể hình thành nhãn quan triết lý của ông trong sáng tạo nghệ thuật. Nhưng triết học trường quy không chi phối mà ngược lại bị chi phối/bị soi chiếu bởi triết lý bình dân mà nhà văn trực tiếp cảm nghiệm từ đời sống trực quan của người dân quê hệch hạc chất phác. Đây là điều khiến cho trang viết về văn hóa lịch sử của Trần Bảo Định vừa như cuộc đối thoại với lịch sử, vừa như cuộc truy vấn triết lý về phía lịch sử. Do đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện không chỉ ghi chép tiểu truyện mà còn hàm chứa tỉ trọng tư tưởng đáng kể. Và thông qua tuyển tập này cũng như toàn bộ trước tác của Trần Bảo Định, bạn có thể ít nhiều nhận ra bước chuyển tiếp từ diễn ngôn Nam Bộ (được định hình từ Gia Định báo nửa cuối thế kỷ XIX, đến Hồ Biểu Chánh nửa đầu thế kỷ XX, đến Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam giữa và nửa sau thế kỷ XX, đến Nguyễn Ngọc Tư đầu thế kỷ XXI), để từ văn xuôi Trần Bảo Định trở về sau, chúng ta dần sẽ nhận ra diễn ngôn Nam Bộ mới. Từ diễn trình này, bạn có thể nhận ra: văn xuôi Trần Bảo Định vừa như sự tập thành vừa như đà tiến bước của văn học Nam Bộ hiện thời và trong tương lai.
*
Và xin mượn ý của Việt Điểu Thái Văn Kiểm để nói về tuyển tập văn xuôi của Trần Bảo Định: những tinh hoa đẹp đẽ của dân tộc, những màu sắc tươi thắm của xứ sở, bạn hãy cùng tôi ôn lại trong tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện - tập sách như nhịp cầu thấu cảm với đồng bào toàn quốc và cũng là chút lòng thành dâng lên Tổ Quốc mến yêu. Tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là dân gian sử hàm chứa dân gian triết biểu thị dân gian tính và khí phách oanh liệt của đất và người Nam Bộ mến yêu.
V.Q.V
(TCSH428/10-2024)
------------------
* Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định thành thông chí (Đỗ Mộng Khương & Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính), Viện Sử học - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc Gia. Hà Nội, Nxb. Giáo Dục, tr.142.
Tải mã QRCode
THANH THẢO(Đọc “Bán đảo” của Thái Bá Lợi)
TRẦN HUYỀN TRÂNNgày 10 - 10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Công ty Văn hóa Phương Nam đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Buổi tọa đàm đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đông đảo sinh viên các trường đại học.
KIM QUYÊNSau tập thơ Ngày đầu tiên(*), nhà văn Trần Hữu Lục tiếp tục ra mắt bạn đọc tập Góc nhìn văn chương(**) và anh sẽ xuất bản tập truyện ngắn Trần Hữu Lục (tuyển chọn năm 2010). Thật là một mùa bội thu với nhà văn Trần Hữu Lục.
HỒNG DIỆU(Nhân đọc Trái tim sinh nở và Bài thơ không năm tháng *)
MAI VĂN HOANTôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.
KHẢI PHONG“Thơ kỵ nhất viết điều người đã viết! Nhưng biết sao, khi tôi mến sông Cầu…Lòng khẽ nhắc: đừng nói điều đã viết,Sao âm vang cứ mãi gọi: sông Cầu”
(Về cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên Huế do Sông Hương tổ chức)BAN TỔ CHỨC CUỘC THINhằm tạo không khí sáng tác, phát hiện các cây bút trẻ Huế, trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Tài năng Trẻ, Tạp chí Sông Hương tổ chức Cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên đang theo học các trường đại học và cao đẳng ở Huế.
LÊ HUỆCuộc thi Truyện ngắn cho sinh viên Huế do tạp chí Sông Hương tổ chức đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều các bạn trẻ mang trong mình khát vọng văn chương. Những truyện ngắn dự thi đã cho ta thấy được một vóc dáng mới của các cây bút trẻ Huế hiện nay: phản ánh cuộc sống đương đại từ nhiều góc cạnh bằng bút pháp tinh tế, mới mẻ, giàu trí tuệ và đầy chất thơ. Mười lăm truyện ngắn xuất sắc lọt vào chung khảo đã được tập hợp lại thành ấn phẩm mang tên “Yêu xa xa một phút”.
PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.
NGÔ HƯƠNG GIANGLàm thế nào để diễn giải hợp lý về Tường Thành?
KHẢI PHONGTôi đã có dịp gặp những trang thơ chân chất của Nguyễn Quang Hà trong “Tiếng gà trên đỉnh chốt”(1). Lần này gặp văn Nguyễn Quang Hà trong “Mùa xương rồng nở hoa” (2), cảm tưởng lưu lại trong tôi là văn anh gây được ấn tượng mạnh hơn thơ.
NGUYỄN ĐÔNG NHẬT19 lời chứng của những ONS(1) cuối cùng, lần đầu tiên được lên tiếng qua công trình nghiên cứu hoàn hảo của bà Liêm Khê LUGUERN(2) là những nhân chứng cuối cùng trong số khoảng 27.000 người từ Đông Dương bị lùa đến nước Pháp từ tháng 10/1939 đến tháng 6/1940 để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của thực dân Pháp trong Thế chiến thứ II.
LÝ HẠNHAi trong đời chẳng đã một lần làm thơ. Dù làm thơ để giải trí hay sẻ chia thì những trang thơ ấy cũng là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn.
LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920. Do đó trên các tư liệu, thường thấy ghi ngày sinh: 07-9-1920, và nhà văn cũng không buồn đính chính. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài, Sông Hương nhận được bài viết của nhà văn Đặng Tiến cùng thông tin về ngày sinh Tô Hoài nói trên. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
HOÀNG DŨNGKhông phải ngẫu nhiên khi ta nói vũ trụ, thế giới thì vũ, giới là không gian, mà trụ, thế là thời gian. Ngay trong những khái niệm tưởng chỉ là không gian, cũng đã có thời gian quấn quýt ở đấy.
LTS: Trong các ngày 7-9/9/2010 sắp đến, Ủy ban Văn hóa Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Giáo phận Huế sẽ tổ chức Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière (1869-1955), Nhà nghiên cứu về Huế và Việt Nam học, chủ bút của tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H), một trong số các tờ báo hay nhất ở Đông Dương thuở trước. Hội thảo sẽ có một số nội dung liên quan đến văn hóa Huế như Văn hóa Huế, Mỹ thuật Huế, Cổ vật Huế dưới con mắt của L. Cadière... Nhân dịp này, Tạp chí Sông Hương đăng bài viết của nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, chuyển tải vài nét về hoạt động văn hóa của Léopold Cadière. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.S.H
NGUYỄN THỊ HÒA Không cần phải bàn cãi, Từ điển tiếng Huế của Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Minh Đức là một tác phẩm Từ điển. Một quyển từ điển về phương ngữ địa phương Huế mà dày dặn, công phu, với 2050 trang, thể hiện công sức nghiên cứu miệt mài của một vị bác sĩ - nghiệp dư với nghề ngôn ngữ, nhưng đầy nhiệt tình và khá chuyên nghiệp trong nghiên cứu.
Sinh ngày 6-2-41 tại Huế. Hy sinh ngày 11-10-68 tại vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, nguyên quán làng Bát Tràng tỉnh Bắc Ninh. Học sinh cũ Trường Quốc Học, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ban Việt văn. Tên thật và bút hiệu công khai, chính thức: Trần Quang Long. Các bút hiệu khác: Thảo Nguyên, Chánh Sử, Trần Hoàng Phong.
TRẦN HỮU LỤCỞ tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.
PHONG LÊ(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân 10-7-1910 – 28-7-1987)