Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là “Múa hát cung đình”. Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây. Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều.
Múa cung đình bắt nguồn từ các điệu múa truyền thống trong dân gian, được chọn lọc và nâng cao theo những qui phạm nghệ thuật chặt chẽ, nghiêm trang. Múa cung đình mang tính chất khoẻ khoắn, ca ngợi cảnh thái bình, thịnh trị.
Trong múa cung đình, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các động tác múa, sự di chuyển đội hình theo các tuyến, ngang, dọc, xéo cộng với việc tạo hình tượng theo hình khối làm nên nét đặc trưng riêng biệt, điển hình là các điệu: “Lục cúng hoa đăng”, “Trình tường tập khánh”, “Phụng vũ”, “Tứ linh”, “Vũ phiến”... Nghệ thuật cung đình nói chung và các vũ khúc cung đình Huế nói riêng là những sản phẩm mang tính kế thừa của chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm và kết tinh dưới thời nhà Nguyễn.
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam trong những dịp quốc lễ, quốc khánh thì ở cung vua, phủ chúa đều có trình diễn ca, vũ. Múa cung đình có từ thời tiền Lê. Đến thời Lý, sự kiện Lý Thánh Tông trong cuộc Nam chinh đã bắt hàng trăm cung nữ giỏi múa hát khúc Tây Thiên mang về Thăng Long (1044), tạo nên một phong cách mới cho múa của người Việt. Đến đời Trần, dưới thời Trần Thái Tông hình thức múa hát tập thể đã khá phổ biến trong chốn cung đình. Tuy nhiên, múa cung đình lúc bấy giờ chủ yếu là nặng về nghi lễ, tính chuyên nghiệp và nghệ thuật chưa cao. Hơn nữa, Nho giáo lúc này ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến xã hội phong kiến Việt Nam, nghề hát bị coi khinh là “xướng ca vô loại”. Đến giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa lập ra Triều Nguyễn, lúc này múa cung đình đã có nhiều thay đổi và múa cung đình Huế cũng bắt nguồn từ đó.
Múa cung đình triều Nguyễn cũng tiếp thu các điệu múa từ cung đình và dân gian của các triều đại trước, nâng cao và sáng tạo thành những điệu múa mới, mang đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn thời Nguyễn. Múa cung đình nhà Nguyễn chủ yếu là múa tập thể, tư tưởng, chủ đề thường biểu hiện ở các đội hình di chuyển và kết thúc bằng một đội hình ngưng đọng.
Có thể nói, múa cung đình Huế là một bước chuyển tiếp của múa cung đình các triều đại trước đó để đi tới sự hoàn mỹ. Và bắt đầu bằng sự kiện dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635), Đào Duy Từ vì xuất thân con nhà xướng hát không được đi thi nên đã phẩn chí quyết vào Nam phò giúp chúa Nguyễn. Chính Đào Duy Từ là người đầu tiên tạo tiền đề cho múa hát cung đình Huế. Ông đã lập ra “Hòa Thanh thự”, luyện tập một ban vũ và nhạc để múa hát vào những ngày khánh lễ. Đào Duy Từ là người có công sửa lại các điệu múa cung đình cổ trước đó và sáng tác ra một số điệu múa khác. Tác giả Đại nam liệt truyện tiền biên và Việt cầm sử thoại viết “Duy Từ có công ngoài đánh chúa Trịnh, trong mở đất Chiêm Thành, làm cho dân giàu nước thịnh. Về nghệ thuật, ông sửa lại các lối hát và các điệu múa cổ; đặt ra điệu múa “Song quang”, điệu múa “Nữ tướng xuất quân”, điệu múa “Tam quốc - Tây du” dùng khi quốc gia đại lễ. Trong nhà ông lúc nào cũng nuôi một bọn ca vũ để múa hát”.
Tổ chức “Hòa Thanh thự” chia ra làm 3 đội, mỗi đội có số lượng 120 vũ sinh, nhạc sinh. Đội nhất và đội ba chuyên lo luyện tập về nhạc, đội nhì chuyên lo về hát múa. Số lượng người này biết đánh trống, thổi kèn, đánh đàn, hát múa, dưới quyền trông coi của viên phó quản.
Thời Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) đội chuyên lo về hát múa có tên là “Tiểu hầu”, số lượng chỉ còn từ 40 - 50 diễn viên, bao gồm cả số cán bộ quản lý (2 chánh ca và 6 phó ca) cai quản.
Đến năm 1804 hai đội “Tiểu hầu” và “Tiểu nam” được sát nhập lại, đổi tên là “Việt Tường đội”. Dưới triều vua Minh Mạng (1820) đổi tên là “Thanh Bình thự”. Năm Thành Thái nguyên niên (1889) đổi tên gọi là “Ba Vũ” và hoạt động cho đến năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám - 1945, đội “Ba Vũ” được sự quan tâm giúp đỡ của bà Từ Cung. Từ sau 1954 đến 1975, đoàn vẫn hoạt động nhưng quy mô và tính nghệ thuật ngày càng giảm sút.
Tháng 4/1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, đội “Ba Vũ” được sự quan tâm của chính quyền, Bộ Văn hóa - Thông tin, nên đã được phục hồi củng cố trở lại, đổi tên là “Đoàn múa hát truyền thống Huế”, gồm có 2 bộ phận múa hát và tuồng Huế. Đến năm 1999, đổi tên thành đoàn “Nghệ thuật truyền thống chuyên sâu về múa hát cung đình” và bộ phận tuồng được tách ra.
Và năm 2006, sự kiện “Nhà hát truyền thống cung đình Huế” và “Đoàn Nghệ thuật truyền thống Huế” sáp nhập thành “Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế” thêm một lần nữa tạo điều kiện cho sự hồi sinh của vũ khúc cung đình. Các điệu múa bị thất lạc dần dần được khôi phục và đưa vào biểu diễn thường xuyên hơn.
Qua nhiều thời kỳ thay đổi tổ chức và tên gọi, nhưng chức năng chủ yếu vẫn là múa hát cung đình phục vụ cho những khánh lễ, đại lễ khác nhau ở cung đình Huế. Tuy nhiên hiện nay những vũ khúc cung đình cổ đã bị thất truyền rất nhiều, đến đời Nguyễn chỉ còn lại 11 vũ khúc với lời hát hoàn toàn bằng chữ Hán. Trong số 11 điệu múa của thời nhà Nguyễn đã và đang được nhà hát Truyền Thống Cung Đình thuộc TTBTDT cố đô Huế sưu tầm, khai thác và phục hồi gồm:
1. Bát dật (Đang biểu diễn)
2. Lục cúng hoa đăng (Đang biểu diễn)
3. Tam Tinh chúc thọ (Đang nghiên cứu phục hồi)
4. Bát tiên hiến thọ (Đang nghiên cứu phục hồi)
5. Trình tường tập khánh (Đang biểu diễn)
6. Tứ Linh (Đã phục hồi và đưa vào biểu diễn một số trích đoạn như: Lân mẫu xuất lân nhi, song phụng, Long hổ hội)
7. Nữ tướng xuất quân (Đang biểu diễn)
8. Vũ phiến (Múa quạt) (Đang biểu diễn)
9. Tam quốc tây du (Đang biểu diễn)
10. Lục triệt hoa mã đăng (Đang nghiên cứu phục hồi)
11. Song quang (Đấu chiến thắng phật) (Đang nghiên cứu phục hồi)
Phần lớn các múa khúc trên diễn viên vừa múa, vừa hát, múa minh họa cho lời hát. Các bài hát toàn bằng Hán tự, chỉ có khúc múa “Tứ linh” là chỉ có âm nhạc phụ họa không có lời ca.
Các điệu múa này thường được dùng để biểu diễn trong các ngày lễ: Thánh thọ (sinh nhật Hoàng Thái Hậu), Tiên thọ (sinh nhật Hoàng Thái Phi), Vạn thọ (sinh nhật vua), Thiên xuân (sinh nhật Hoàng Thái Tử), Thiên thu (sinh nhật Thái Hậu). Ngoài các lễ trên, múa cung đình còn được diễn trong các lễ: Hưng quốc khánh niệm, tết Nguyên đán, Lễ kết hôn Hoàng Tử, công chúa và các dịp tiếp đãi sứ thần ngoại quốc. Khi diễn dùng ban nhạc Thiều.
Theo Hoàng Bửu Tú (VNTimes)
Tải mã QRCode
Chiều ngày 25/7, UBND TP Huế đã tổ chức buổi họp báo tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019.
Sáng 25/7, tại hội trường khách sạn Century, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức Hội thảo “Phát huy vai trò văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Chiều 23/7, UBND Thừa Thiên Huế đã tổ chức Lễ Truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trao tặng “Huân chương Độc lập” cho các gia đình liệt sĩ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chiều 23/7, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật phối hợp với UBND huyện Nam Đông tổ chức bế mạc trại sáng tác “Văn hóa và con người Nam Đông”.
Chiều ngày 23/7, UBND tỉnh tổ chức họp báo Công bố Chuỗi sự kiện Công nghệ thông tin và Hội nghị thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chiều ngày 22/7, Bảo tàng văn hóa Huế phối hợp với Chi hội Khoa học Lịch sử thành phố Huế tổ chức Buổi nói chuyện chuyên đề " Một số kết quả nghiên cứu mới về thời Chúa Nguyễn" của nhà nghiên cứu, bác sĩ Nguyễn Anh Huy.
Sáng ngày 22/7, tại Bảo tàng Văn hoá Huế, Liên đoàn Lao động thành phố Huế đã tổ chức Triển lãm và trao giải cuộc thi ảnh nghệ thuật chủ đề “Công Đoàn với cuộc sống của Đoàn viên và người lao động”. Hoạt động nhằm chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Công Đoàn Việt Nam.
Chiều ngày 20/7, tại Bảo tàng Mỹ thuật Huế đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Về Huế”.
Chiều 19/7, Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế phối hợp với Ban Liên lạc trường Thanh niên tiền tuyến Huế tổ chức kỷ niệm 74 năm ngày thành lập trường.
Chiều ngày 18/07, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với Phòng Văn hóa thông tin Thị xã Hương Trà, Ủy ban nhân dân xã Hương Thọ tổ chức bế mạc trại sáng tác Trại sáng tác Văn học Hương Thọ năm 2019.
Chiều 17/7, tại Viện Pháp tại Huế (01 Lê Hồng Phong) đã diễn ra triển lãm “Bước đi” của họa sĩ Hoàng Thị Ngọc Ấn.
Chiều ngày 17/7, tại tư gia của gia đình cố họa sĩ Vĩnh Phối (12 Bạch Đằng, TP. Huế ), gia đình họa sĩ đã tổ chức buổi buổi khai trương phòng tranh của họa sĩ Vĩnh Phối nhân kỷ niệm 2 năm ngày mất của ông.
Chiều 12/7, tại hội trường UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Viện Nghiên cứu phát triển Thừa Thiên Huế đã tổ chức buổi họp báo triển khai đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) Thừa Thiên Huế năm 2019
Sáng ngày 12/7, tại trường Trung học cơ sở Tôn Thất Bách - xã Hương Thọ - Thị xã Hương Trà, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND thị xã Hương Trà đã tố chức khai mạc trại sáng tác văn học Hương Thọ năm 2019.
Chiều 11/7, TS. Nguyễn Hữu Liêm (là tiến sĩ luật khoa, tiến sĩ triết học ở Mỹ ) vừa có buổi ra mắt sách “Cám dỗ Việt Nam” tại 14 Phạm Ngũ Lão, TP. Huế.
Ngày 7/7, Câu lạc bộ Thơ Facebook xứ Huế đã ra mắt tập thơ “Sắc màu Huế thương” nhân dịp kỷ niệm một năm thành lập.
Sáng ngày 06/ 07, tại khách sạn Duy Tân - TP Huế, Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội VHNT Quảng Bình, Hội VHNT Quảng Trị tổ chức Hội thảo “Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên - Truyền thống và tiếp nối”. Đông đảo văn nghệ sĩ Huế - Quảng Bình - Quảng Trị tham dự.
Tối 05/7, Tuần phim Đan Mạch 2019 đã được khai mạc tại rạp BHD - Vincom Huế. Đến dự có ông Nguyễn Dung – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, ông Kim Højlund Christensen - Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam.
Kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2019); ở Thừa Thiên Huế có một địa điểm đặc biệt quan trọng - đó là đồi A Bia. Nơi đây từng diễn ra trận đánh được giới nghiên cứu Mỹ cho là ác liệt nhất, khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đồng thời là một trong những trận đánh quyết định trong chiến tranh Việt Nam. Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng A Bia, bài viết “Trận đánh góp phần tạo bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam” đã đưa ra một số tư liệu quý cũng như việc xác định đúng vị trí của trận đánh. Đồi A Bia từ lâu đã làm nguồn cảm hứng cho tác phẩm thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả uy tín trong và ngoài nước.
Sáng 28/6, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức Hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam - Minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý”. Đến dự có ông Nguyễn Thái Sơn – Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh Thừa Thiên Huế.