Vừa qua, Lê Thừa Tiến là họa sĩ Huế duy nhất được chọn tham gia triển lãm “Mở cửa mỹ thuật 30 năm thời kỳ đổi mới” do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh & Triển lãm (Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) tổ chức tại Hà Nội năm 2016.
Họa sĩ Lê Thừa Tiến
Trong những năm đổi mới và hội nhập của mỹ thuật Việt Nam, nhiều họa sĩ Huế với các độ tuổi khác nhau đã góp phần tích cực trong sáng tạo nghệ thuật giai đoạn 1986 – 2016, như họa sĩ Vĩnh Phối, Trương Bé, Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Phạm Đại, Dương Đình Sang, Nguyễn Duy Linh, Hồ Sỹ Ngọc, Lê Thừa Tiến, Trần Hữu Nhật, Phan Hải Bằng, Lê Văn Nhường, Võ Xuân Huy, Phạm Trinh, Nguyễn Thị Huệ, Tô Trần Bích Thúy, Nguyễn Tuấn… Nhưng tại triển lãm “Mở cửa mỹ thuật 30 năm thời kỳ đổi mới” do Cục Mỹ thuật, Nhiếp Ảnh và Triển lãm tổ chức vừa qua, chỉ có một người Huế duy nhất là Lê Thừa Tiến trong số 49 họa sĩ toàn quốc được chọn tham gia triển lãm “đình đám” này.
Đây là một trong những điều vinh dự lớn cho họa sĩ Lê Thừa Tiến, anh đã mang lại một luồng sinh khí mới cho đời sống mỹ thuật ở Huế và góp phần khẳng định dấu ấn trong sáng tạo nghệ thuật thời kỳ đổi mới với những cái nhìn đã khác xưa, tư duy hình tượng khác lạ những vẫn giữ được năng lực sáng tạo, tố chất mạnh mẽ, khát khao sáng tạo ẩn dấu tiềm tàng bên trong của mình.
“Chắp tay sen”
Việc chỉ có một họa sĩ Huế duy nhất là Lê Thừa Tiến tại triển lãm được xem là sự kiện văn hóa nổi bật ở Việt Nam tháng 12/2016 cho thấy sự lựa chọn khá khắt khe của các giám tuyển (curator).
Lê Thừa Tiến sinh năm 1964, sinh năm 1964 tại Huế, nguyên quán Mỹ Xuyên, Phong Điền, tốt nghiệp cử nhân mỹ thuật tại Đại học Mỹ thuật Huế, rồi làm giảng viên tại Khoa Hội họa của trường. Từ năm 1995 – 1996, anh tu nghiệp trên đại học tại Học Viện Mỹ thuật Hoàng gia (Rijksakademie van Beeldende Kunsten) Amsterdam, Hà Lan. Năm 2008 – 2009, tốt nghiệp thạc sĩ Mỹ thuật, Trường Nghệ thuật và Thiết kế (Arts & Design UNSW), Đại học New South Wales, Sydney, Úc. Sau khi về nước, anh chọn cho mình con đường riêng là nghệ sĩ tự do, từ đó anh sáng tạo và tìm kiếm những cơ hội triển lãm, giao lưu quốc tế và tạo dựng thị trường tranh của mình. Đó là một sự “táo bạo”, một sự “mở” khác mà anh lựa chọn với bao khó khăn phía trước.
“Việt Nam cuộc chiến tranh hóa thạch”
Bóng đổ - tác phẩm sắp đặt
Khi còn là giảng viên của Khoa Hội họa, nhiều sinh viên rất hâm mộ và thích cách dạy đòi hỏi tố chất sáng tạo cao cũng như phải có tư duy mẫn cảm trong nghệ thuật mà anh khởi xướng. Anh dạy sinh viên muốn trở thành họa sĩ thì phải học và nắm thật vững vàng kỹ năng tạo hình hàn lâm, nhưng không vì vậy mà quá cứng nhắc, trói mình vào những bài học kinh điển mà phải có tinh thần sáng tạo. Trong thời gian này, Lê Thừa Tiến bằng nhiệt huyết và đam mê nghệ thuật của mình, đã giới thiệu cho công chúng nghệ thuật về nghệ thuật Sắp đặt, vốn lúc này vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam. Họa sĩ Lê Thừa Tiến tham gia nhiều hoạt động nghệ thuật tại Huế, trong đó có những tác phẩm sắp đặt đầy ấn tượng được dựng lên trong các kỳ Festival tại Huế. Công chúng vẫn nhắc đến những sáng tác của anh như tác phẩm “Đông về” rất gần với Quốc họa (chất liệu lụa – 50 x 110, sáng tác năm 1989, anh vẽ một đàn kiến di chuyển theo đường sóng và chạy dài ở trục dọc của tranh, những con kiến bé nhỏ, mong manh nhưng đầy sức mạnh ý chí tồn tại trong sa mạc mênh mông của kiếp đời. Tác phẩm thực sự là ẩn dụ về bao gian lao trên cõi trần của những kiếp người và sự tha hóa của tự nhiên. Hay tác phẩm sắp đặt “Ánh trăng” có tiết diện trưng bày 140m2 tại Festival Huế 2002 đầy ấn tượng với màu tím Huế xao động hiện ra qua những hình sắc nổi chan hòa ánh sáng trong trẻo... Festival Huế 2002 còn có tác phẩm “Hoa cỏ” với 7.000 chiếc chong chóng bằng giấy cắm trên bãi cỏ xanh, gợi lên những nỗi niềm và sự nghĩ suy về cuộc sống đầy năng động.
|
Họa sĩ Lê Thừa Tiến đã có các triển lãm tại Mỹ (1997, 1998, 2007), Úc (2006, 2009), Campuchia (2011), Pháp (1992, 1997, 2012), Hà Lan (1995, 1997, 2004, 2013), Đức (1998), Thái Lan (1998, 2014), Venezuela (2001), Nhật Bản (2013, 2016), Myanmar (2013)… và một số giải thưởng nổi bật: 1997/1998: Freeman Asian Artists Award, VSC, Vermont, Hoa Kỳ; 2011: Heinrich Boell Foundation Grant; 2015 & 1997: Vermont Studio Center Fellowship, cùng nhiều triển lãm ở Việt Nam… |
Lê Thừa Tiến còn được công chúng yêu nghệ thuật biết đến với vai trò là một nhịp nối trong các hoạt động nghệ thuật giữa người họa sĩ với công chúng, với một số tổ chức văn hóa nước ngoài mà anh có cơ hội sáng tạo, triển lãm, giao lưu nghệ thuật. Như “Gạo và Đất” (chất liệu tổng hợp), “Bóng đổ” – 1998 vừa là sắp đặt, vừa là một tác phẩm tương tác sinh động của anh. Nhưng đến “Việt Nam cuộc chiến tranh hóa thạch” được trưng bày ở Mỹ năm 1998 và tại Đức 1999 thì sự ám ảnh chiến tranh, cách nhìn về cuộc chiến, về hậu chiến đã rất mới mẻ. Riêng tác phẩm “Chúng ta từ đâu đến” trưng bày tại Nhật Bản năm 2003 đã gây xúc động mạnh bởi lối trình diễn nghệ thuật đầy mới lạ mà lay động của anh, sự ám thị không gian, thời gian và sức mạnh dân tộc tính trong nghệ thuật. Năm 2009 tại Sydney (Úc), Lê Thừa Tiến trưng bày tại Trung tâm Nghệ thuật Casula Powerhouse 2 tác phẩm “Chắp tay sen” và “Nụ cười của Phật” làm bằng (giấy bồi) và gốm Raku (Nhật Bản). Đó cũng là cách nhìn nhận đầy nội tâm của anh về khát vọng đoàn viên của dân tộc sau những tháng năm chiến tranh bi thương, mất mát và ẩn dấu tinh tế, hướng về bình an, hạnh phúc thấm đượm dấu ấn Phật giáo – mà Huế là một trong nơi thẩm đẫm tinh thần này.
Thay lời kết, xin trích đánh giá của TS Suzanne Lecht, Giám đốc nghệ thuật, Gallery Art Vietnam: “Lê Thừa Tiến là một nghệ sĩ với cuộc đời và tác phẩm thấm đẫm ký ức xuyên suốt những sáng tạo của ông; phong phú về chất liệu lẫn loại hình; từ hội họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt, đến các dự án nghệ thuật cộng đồng; tất cả đều thể hiện một chiều sâu tâm linh; một vẻ đẹp thuần khiết, thánh thiện. Các tác phẩm sơn mài gần đây nhất của ông, mở ra những khoảng không sâu thẳm, trống rỗng và đơn sắc, như đánh thức lại niềm hoài nhớ về những phế tích cổ xưa, tưởng chừng đã mãi mãi bị lãng quên trong dòng chảy của lịch sử và thời gian. …Đó là không khí thiền định khi ta suy tư và cảm nhận về cái uy nghiêm của thời gian trước những gì còn sót lại”.
Nguồn: TS Phan Thanh Bình - TTH
Tải mã QRCode
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.
Gần đây có một bộ tranh chân dung của các vua triều Nguyễn được vẽ mới và phổ biến, thu hút được nhiều sự chú ý của người xem. Nếu chỉ thưởng thức các bức vẽ này như những ảnh vui mắt, đầy mầu sắc thì được.