LỆ KHÁNH: “Mà sao chưa cuối những lời thơ đau”

09:04 22/10/2013

Họ tên: Dương Thị Khánh
Năm sinh: 1944
Quê quán: Thừa Thiên Huế
Hiện ở: 71 đường 3 tháng 2, thành phố Đà Lạt

Cũng đành

Bao giờ em hết làm thơ
Để mà đừng khóc duyên hờ chị ơi
Mấy lần… bài cuối đây rồi

Mà sao chưa cuối những lời thơ đau
Vẫn từng khuya vẫn nghẹn ngào

Xót thương nằm đếm từng sao để buồn
Bao giờ cho hết nhớ thương

Để đừng nước mắt trong hồn quanh năm
Em về… gặp chị mấy lần

Mấy lần… định sẽ phân trần lại thôi
Đời em… rứa đó chị ơi

Không bao giờ nhận những lời ấm êm
Gạt lừa dẫn tới cho em

Thôi thì… thơ viết chị xem đủ rồi
Phải chi em đẹp như người

Thơ tâm sự chẳng mang lời xót thương
Chị ơi cay đắng trong hồn

Trọn đời em chị vẫn buồn… hay sao?
Bao giờ mới hết thương đau

Để em đừng khóc nhạt màu mắt xanh
Nhiều lần chợt nghĩ: “Cũng đành

Mình vô phước quá nên thành dở dang”.



Cô gái Huế có bút hiệu rất là định mệnh - vì vậy mà cả đời chỉ khóc, nước mắt nhiều hơn nụ cười.

Lệ Khánh yêu rất sớm và đến với thơ sớm cũng vì yêu. Thơ đã nói hộ giùm cô một tình yêu không trọn vẹn, không pháo đỏ rượu hồng, không xe cưới kiêu sa.

Dạo đó, những năm thuộc thập niên 60 của thế kỷ XX thi đàn miền Nam Việt Nam xuất hiện một gương mặt nữ với giọng điệu thơ da diết sầu tình qua các tập thơ Em là gái trời bắt xấu, 5 tập thơ liên tiếp cùng một nhan đề như thế. Một số người đọc đón với niềm cảm thông… xã hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đang trong cảnh chiến tranh loạn lạc, sự chia lìa của đôi lứa yêu thương là nỗi đau chung của cả thế hệ con gái, con trai - tất cả đều chung cảnh ngộ chỉ khác cái là âm thầm chịu đựng hoặc to tiếng giải bày - Lệ Khánh là đại diện cho sự giải bày qua ngôn ngữ của thơ ca.

Toàn bộ tác phẩm của Lệ Khánh là một chuỗi diễn ca, trường ca khóc cho một tình yêu, tình yêu ngang trái bẽ bàng, tình yêu đợi chờ vô vọng, tình yêu đơn phương một cõi lẻ loi, bằng một giọng điệu thương thân trách phận qua 148 bài thơ đủ thể loại từ 8 chữ, 7 chữ, 5 chữ, và lục bát, tôi hụt hơi chạy theo chuỗi nam ai bất tận ấy qua 3 tập Em là gái trời bắt xấu Vòng tay nào cho em để tìm ý, tứ một ngôn ngữ nào khác ngỏ hầu bớt đơn điệu trong phần giới thiệu và cảm nhận, nhưng đành chào thua với sự chung thủy của một chủ đề sáng tác của nàng thơ Lệ Khánh. Yêu + chờ đợi + nhớ nhung + tuyệt vọng = đau khổ… phải chăng đó là một công thức? Bạn đọc có thể nêu thắc mắc “thơ mà cũng lập công thức như toán học hay sao?” Xin thưa, soạn giả đùa một tí cho bớt sầu thương theo những vần thơ ai oán bi phẫn của nàng thơ đó thôi.

Nguyên quán của nàng thơ Lệ Khánh là Thừa Thiên Huế nhưng để biết cụ thể là chôn nhau cắt rốn chỗ mô trên vùng đất ấy thì Lệ Khánh trả lời tỉnh rụi: “Em không nhớ, chỉ nhớ là có học trường Janne d’Arc mấy năm, rồi Mạ đưa em đi khỏi Huế.” Trời ơi! Câu trả lời hồn nhiên của Lệ Khánh làm tôi chợt nhớ hai câu thơ của Xuân Diệu: “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì”.

Phải chăng khi chạm phải bùa yêu, chạm phải độc tình hoa là Lệ Khánh quên hết mọi việc, mọi sự trên đời mà tâm tưởng chỉ dồn hết vào một chữ yêu, bao nhiêu thời gian vàng ngọc nàng sẵn sàng dâng tặng cho tình yêu, cho thơ yêu; vào những năm thuộc thập niên 60 ở miền Nam, mảng thơ viết về tình ái của tác giả là một bước đột phá trong làng thơ nữ. Nói như vậy không có nghĩa là các nhà thơ nữ dạo đó không làm thơ tình nhưng làm kiểu như Lệ Khánh thì dễ có mấy ai (?). Vì thế mà hiện tượng thơ tình Lệ Khánh được giới mày râu là những vị đang “giã nhà đeo bức chiến bào” vui mừng đón nhận; xúc động trong niềm hạnh phúc bởi như thấy bóng dáng mình trong từng câu từng chữ của nhà thơ, không ít người đặt mình vào nhân vật, vào nguyên mẫu, vào đối tượng trong thơ Lệ Khánh, đã có những bài thơ đáp họa, những hồi âm tự nhận mình là người trong cuộc từ “nơi gió cát” gửi về làm tác giả liên tưởng đến ẩn số T.T.Kh., Nguyễn Bính, Thâm Tâm… Nói như vậy chúng tôi không có ý đánh đồng T.T.Kh. với Lệ Khánh, bởi hai sự kiện, hai hoàn cảnh lịch sử xã hội hoàn toàn khác nhau. Nhân vật của T.T.Kh. là nghệ sĩ, nhân vật của Lệ Khánh là chiến sĩ.

T.T.Kh có “Bài thơ thứ nhất”, “Hai sắc hoa ti gôn”, “Bài thơ đan áo”, “Bài thơ cuối cùng” và mai danh ẩn tích đã làm náo động cả thi đàn Việt Nam từ 1937 đến giờ vẫn còn âm ỉ. Còn Lệ Khánh có tên có tuổi, tài sản văn chương là 7 tác phẩm chính, bên tám lạng bên cả ký, bên hiện hữu, bên mơ hồ bóng chim tăm cá, chỉ giống nhau ở những chữ, những câu làm nao lòng người đọc. Thế thôi!

Sóng gió nào rồi cũng qua đi và trở lại bình yên, biển chỉ còn lăn tăn sóng gợn, người con gái trời bắt xấu thuở thanh xuân giờ đã sắp ở ngưỡng thất tuần chi tuế đang sống bình yên với con cháu ở thành phố ngàn hoa, người phụ nữ làm thơ tự đánh giá bản thân mình là cô gái trời bắt xấu chỉ là cách nói hờn dỗi với tình quân, với cuộc đời, hay nói theo cách nói của người Nam bộ là “Nói dzậy mà không phải dzậy”.

Ninh Giang Thu Cúc
(SDB10/09-13)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHẠM TUẤN KHÁNH - VŨ THANH

    Trong văn học Việt Nam thế kỷ XIX có một nhà thơ được "thần siêu" coi là "bạn băng tuyết" và được văn nhân Trung Quốc đương thời gọi là "thi hào" - Đó là Đặng Huy Trứ. Sự nghiệp chính trị và văn học của ông vào giai đoạn đó khá nổi tiếng và được đề cao nhưng đến nay vẫn ít người biết đến.

  • NGUYỄN ĐÌNH NIÊN

    (Trích từ “Kinh nghiệm về thân phận làm người trong thơ Hàn Mạc Tử”, Nxb. Southeast Asian Culture and Education (SEACAEF) 2009).

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Mỗi người bước vào cõi thơ ắt hẳn sẽ để lại dấu ấn bằng mỗi phương cách khác nhau. Có người đi vào thơ ca qua những cuộc chiến, có người dùng chính đôi bàn chân mình, hay đôi tay mình, cũng có người bước vào thơ bằng chiếc xe đạp hay xe gắn máy,… nhưng tất cả đều đến với thi ca bằng trái tim.

  • Giải thưởng Nhà nước ra đời từ năm 1996. Đến nay Huế đã có 8 người nhận được giải thưởng danh giá này. Ngoài các nhà văn Thanh Hải, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ; Tổng Biên tập đầu tiên của Sông Hương - nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đã nhận Giải thưởng Nhà nước.

  • PHAN NGỌC THU

    Từ sau năm 1975, văn học nước ta nói chung, văn xuôi nói riêng đã có nhiều chuyển biến trong cách tiếp cận với đời sống và ngày càng có xu hướng quan tâm hơn đến những vấn đề thuộc về chiều sâu của giá trị con người.

  • LÊ HUỲNH LÂM 
    (Đọc tập thơ “Những con chim của bóng tối” của Phạm Tấn Hầu - Nxb Văn học 6/2011) 

    Tôi một mình, lũ pharixêu múa rối
    Sống đến tận cùng, đâu phải chuyện chơi.

                            Bôrix Patecnax

  • MAI VĂN HOAN

    Trần Nhân Tông sinh năm 1258, lên ngôi năm 1279. Vừa mới lên ngôi, chàng trai 21 tuổi đã phải đối mặt với âm mưu thôn tính nước ta lần thứ hai của giặc Nguyên Mông.

  • ĐOÀN TRỌNG HUY  

    Trong nhiều tư cách, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn được vinh danh là một triết gia. Hơn thế nữa, là “triết gia vĩ đại” như đánh giá của một học giả nước ngoài qua Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay vào tháng 5/2010.

  • TRÀNG DƯƠNG

    (Ðọc Phù Hoa, truyện thơ Văn Cát Tiên - Nxb Văn Học, 2011)

  • NGUYÊN SA(*)

    Từ những ngày còn theo học triết lý tại đại học Sorbonne tôi đã mơ hồ nghĩ mỗi dân tộc bao giờ cũng có một nền triết học riêng. Bởi vì, triết học, trên mọi bình diện nào đó, rút lại, chính là ý thức được hệ thống hóa và thuần túy hóa, là một tổng hợp nhân sinh quan và vũ trụ quan.

  • Có lẽ nếu không có bài thơ "Đây thôn Vỹ Giạ" thì vùng đất xinh xắn kia cũng không nhiều tao nhân mặc khách ghé thăm đến vậy. Nhắc đến bài thơ này người ta sẽ nhớ ngay đến một mối tình điển hình cho sự nuối tiếc bâng khuâng và dường như nó là phông nền của cái đẹp. Bây giờ người thiếu nữ áo trắng xưa vẫn được sương khói của thôn Vỹ giăng phủ khiến bài thơ bản mệnh của Hàn thi sĩ vẫn miên man trong tâm thức của nhiều thế hệ yêu thơ.

  • LÊ THÍ

    Trong một bài trả lời phỏng vấn, Đặng Tiến cho biết: “Tôi sinh 1940 tại xã Hòa Tiến, thành phố Đà Nẵng. Năm 1960, vào Sài Gòn học Đại học Văn Khoa, 1963 ra trường, đi dạy tại trường cấp 3 A.Yersin. Từ 1968, tôi về Pháp, học thêm ở Đại học Paris và bắt đầu công việc dạy Pháp văn cho một trường cấp 3 ở Orléans (cách Paris 100km). Cùng với Giáo sư Tạ Trọng Hiệp, tôi lập ra Ban Việt học tại ĐH Paris 7, giảng dạy ở đây từ 1969 - 2005”.

  • LẠI NGUYÊN ÂN

    Bạn đọc ngày nay đều biết bài thơ Huế tháng Tám nổi tiếng của nhà thơ Tố Hữu, bài thơ được in trong tập Từ ấy và cho đến nay đã có mặt ở hầu hết các tuyển tập thơ Tố Hữu, đã đi vào sách giáo khoa của nhà trường phổ thông.

  • NGÔ THẢO
    (Từ kỷ niệm của một nhà văn)

    Trong đời mỗi người, thường vẫn có một nhà văn, mà ta thường tìm tới đọc lại vào những lúc cuộc sống chung hoặc riêng gặp những chuyện cần suy nghĩ.
     

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Mỗi tác phẩm đều là một sự thể nghiệm của nhà văn. Tất cả những tư tưởng, tình cảm và con người đều in dấu vào trang sách, hắt sáng lên những trang đời mới mẻ.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

  • MAI VĂN HOAN

    Tháng 6 năm 1995, khi gửi tập “Thơ Phùng Quán” vào Huế tặng nữ nhà văn Hà Khánh Linh, chị Bội Trâm - vợ nhà thơ Phùng Quán, ghi: “Thân tặng Hà Khánh Linh, người đã một thời khơi nguồn cảm hứng cho anh Quán làm thơ”.

  • Trong khi một số người viết mới xuất hiện hoặc không thuộc dòng “chủ lưu” cần được có những diễn đàn để có thể công bố tác phẩm, đối thoại, trao đổi một cách bình đẳng những vấn đề trực diện về nội dung và sáng tạo, thì điều này gần như là chuyện quá xa vời. Những gì được phổ cập trên mặt báo, sách xuất bản hiện thời quá thiếu tinh thần cống hiến, thiếu những tìm tòi nghiêm túc về nghề nghiệp và tri thức.

  • TRƯƠNG THỊ CÚC - NGUYỄN XUÂN HOA Năm 1885 được đánh dấu bằng một sự kiện lịch sử quan trọng: đêm mồng 4, rạng ngày mồng 5-7-1885 Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến trong triều đình nhà Nguyễn đã tiến công vào sào huyệt của thực dân Pháp tại kinh thành Huế, dẫn đến sự bùng nổ của phong trào Cần Vương, một giai đoạn quan trọng trong lịch sử chống thực dân Pháp.

  • TRẦN THỊ NGỌC LAN Nhà xuất bản Văn học(Đọc tập truyện ngắn Chưa đủ để gọi là khoảnh khắc của Lê Minh Phong - NXB Văn học, 12 - 2011)