Lệ chi ngoại sử

10:27 31/01/2013

HOÀNG TÙNG

Năm 1442, vua Lê Thái Tông đi duyệt quân ở Chí Linh, đêm về nghỉ chân ở Lệ Chi Viên. Cùng đi với vua có người thiếp của Nguyễn Trãi tên là Nguyễn Thị Lộ. Đêm hôm đó, nhà vua băng hà. Triều đình quy tội Nguyễn Trãi thông đồng với Thị Lộ, âm mưu giết vua. Toàn gia họ Nguyễn bị tru di tam tộc.

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Sau đó mấy chục năm, dân gian có lan truyền một truyền thuyết khác, đầy chất liêu trai về vụ án Lệ Chi Viên…

1.

Trần Lục vốn sinh trưởng ở đất Thăng Long, từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Gia thế khá giả, lại thêm vẻ ngoài tuấn tú khác thường, họ Trần luôn tự coi mình là rồng phượng giữa loài người. Giao lưu với đám công tử ăn chơi, được bọn chúng suốt ngày tâng bốc nịnh hót, chàng lấy đó làm tự hào, cho rằng mình tài năng thiên phú, không coi ai ra gì.

Thời vua Lê Hiến Tông, Đại Việt thịnh trị, người người yên ổn làm ăn. Từ đời vua Lê Thánh Tông lại có lệ ai thi đỗ sẽ được khắc tên lên bia đặt ở trong Văn Miếu. Nho sinh hứng khởi. Việc học hành phát triển khắp nơi. Đến kỳ thi, Trần Lục cũng chuẩn bị văn sách. Đám bạn bè được thể tâng bốc hết lời, cho rằng giải Nguyên khó có thể thoát khỏi tay chàng. Họ Trần được thể, lại càng đắc ý.

Kỳ thi diễn ra, Trần Lục nộp bài sớm nhất trường thi, nghênh ngang tự đắc rủ bạn bè đi uống rượu ăn mừng như đã đỗ đạt đến nơi. Tuy nhiên, văn bài của chàng chữ nghĩa bay bướm, văn từ hoa mỹ nhưng câu chữ thì không có hồn cốt, đọc lên chẳng có lấy chút ý tứ sâu xa gì. Các quan khảo thí đều chấm trượt.

Bảng vàng không có tên. Trần Lực bất đắc chí. Chàng cho rằng quan khảo thí có mắt như mù. Đám bạn bè a dua, kéo chàng dấn sâu vào con đường ăn chơi hưởng lạc. Họ Trần ngày càng buông thả, ham mê tửu sắc. Chẳng mấy mà tài sản cha mẹ để lại cạn kiệt. Gia cảnh ngày một khó khăn. Lũ bạn dần xa lánh. Trần Lục hết tiền, đành phải nhận lời làm văn bài viết thuê cho đám công tử lười học. Kiếm được đồng nào, Trần Lục lại nướng vào chốn thanh lâu, viết ca từ cho đám kỹ nữ đàn hát làm vui.

Thời đó, đạo Mẫu bắt đầu phát triển. Nhiều kẻ lợi dụng, lập nên đền nọ miếu kia, mượn danh quỷ thần làm điều trục lợi. Đám đồng cốt mị dân tìm đến Trần Lục, nhờ chàng nghĩ ra những câu chuyện thần tích quái dị để mê hoặc lòng người.

2.

Ngày nọ, có một viên quan đến thư phòng gặp Trần Lục. Phân ngôi chủ khách xong, viên quan hạ giọng nói nhỏ: “Ta muốn ngươi viết một câu chuyện thật ly kỳ về vụ án Lệ Chi Viên. Điều quan trọng là làm sao phải đổ mọi tội lỗi lên đầu Nguyễn Thị Lộ”.

Trần Lục lấy làm kỳ lạ trong lòng. Vụ án Lệ Chi Viên thì chàng đã biết rõ. Vua Lê Thánh Tông đã xóa án “tru di tam tộc” của Nguyễn Trãi, đi tìm con cháu của Ức Trai về phong làm quan. Tại sao viên quan này lại muốn điều khác hẳn? Trần Lục ngần ngừ: “Nguyễn Thị Lộ chỉ là một cô gái chân yếu tay mềm, sao có thể là chủ mưu việc giết vua? Hơn nữa vua Lê Thánh Tông đã minh oan cho ngài Ức Trai rồi, giờ khơi lại mọi chuyện theo hướng quái dị làm gì?”.

Viên quan cười bí ẩn:“Quái dị thì sao? Nhà ngươi vốn từ trước đến nay toàn viết những điều quái dị. Việc đổ mọi tội lỗi lên đầu Thị Lộ đâu có nằm ngoài khả năng của nhà ngươi? Còn sự thực thế nào thì đâu cần đến những kẻ như người phải lo?”.

Trần Lục tìm cớ thoái thác. Viên quan tiếp lời: “Ta sẽ trả cho ngươi gấp trăm lần số tiền ngươi viết đang thuê cho kẻ khác. Nhà ngươi sẽ tha hồ mà ăn chơi hưởng lạc trong một thời gian dài”. Trần Lục tỏ ý nghi ngờ. Viên quan đặt lên bàn một cái túi nặng trịch: “Đây là một trăm lạng vàng ta đưa trước, phần còn lại sẽ trả nốt sau khi mọi việc hoàn tất”.

Thấy bọc vàng lấp lánh, Trần Lục chẳng suy nghĩ thêm, lập tức gật đầu nhận lời.

3.

Đêm trăng vằng vặc. Trần Lục ngồi vào bàn viết, suy nghĩ mông lung. Làm cách nào để đổ mọi tội nghiệt lên đầu Nguyễn Thị Lộ? Chàng nhớ lại một câu truyện truyền kỳ đã từng nghe về người hóa rắn. Hãy để cho Nguyễn Thị Lộ là một con xà tinh hóa thành lốt cô gái. Thế nhưng làm cách nào để có thể gắn kết được câu chuyện quái dị đó với Nguyễn Trãi? Bỗng mắt Trần Lục sáng lên. Chàng với lấy cây bút, chấm đẫm mực, viết lia lịa.

Mấy ngày sau viên quan quay lại. Trần Lục đưa cho y câu chuyện Rắn báo oán và vụ án Lệ Chi Viên mà chàng mới viết xong.

Truyện rằng Nguyễn Trãi trước kia từng là thầy đồ dạy học. Một hôm, Nguyễn mơ thấy một người đàn bà chạy đến kêu xin ông thư thư vài hôm để mụ kịp chuyển nhà. Tỉnh giấc, Nguyễn Trãi ra sân thì thấy đám học trò của mình đã phá tan hoang một góc vườn. Hỏi ra, đám học trò thưa rằng chúng đào được một ổ rắn, giết chết con rắn đực và đàn rắn con, riêng con rắn cái thì chạy thoát. Nguyễn nghĩ đến giấc mơ mới trải qua, trong lòng lấy làm kỳ lạ. Đêm đó, khi đang ngồi đọc sách, ông bỗng thấy có một giọt máu từ trần nhà rỏ xuống rơi vào đúng chữ đại, thấm qua ba lần trang giấy. Nguyễn Trãi ngước lên nhìn thì thấy một con rắn lớn đang đu trên xà nhà, trợn mắt nhìn ông chằm chằm rồi bò đi mất.

Sau khi giúp Lê Lợi giành lại giang sơn, lên ngôi Hoàng đế, một lần Nguyễn Trãi tình cờ gặp Nguyễn Thị Lộ đang bán chiếu ở Tây Hồ. Thấy nàng nhan sắc đằm thắm, đối đáp nhanh nhẹn, Nguyễn mới lấy nàng làm thiếp. Khi vua Lê Thái Tông nối ngôi, Thị Lộ được vời vào dạy nghi lễ cho cung nữ trong cung cấm. Nhà vua thấy Thị Lộ thông tuệ mặn mà, thường cùng nàng đàm đạo sách vở và tỏ ra quý mến.

Đến khi nhà vua đột ngột băng hà ở Lệ Chi Viên, hôm đó có Thị Lộ theo hầu. Triều đình cho rằng Nguyễn Trãi âm mưu giết vua, truy hỏi Thị Lộ. Thị Lộ nhận tội. Toàn gia họ Nguyễn bị khép tội Tru di tam tộc. Thị Lộ chịu hình phạt dìm nước đến chết. Đao phủ cho Thị Lộ vào cũi, dìm nàng xuống nước. Lúc nhấc cũi lên, mọi người thấy Thị Lộ biến thành một con rắn lớn, lách mình ra khỏi cũi nhao xuống nước, bơi đi mất. Hóa ra Thị Lộ chính là con rắn cái thủa nào đã hóa thành người gây họa khiến Nguyễn Trãi phải chịu án tru di tam tộc, ứng với việc giọt máu rắn rơi vào chữ đại - đời và thấm qua ba lần giấy.

Viên quan đọc xong câu chuyện, tỏ ý hài lòng lắm, đưa thêm cho Trần Lục một trăm lạng vàng nữa. Họ Trần nhận một số tiền lớn, tha hồ tiêu xài ăn chơi khắp chốn Long thành.

4.

Sau đấy, trong dân gian lưu truyền rộng rãi câu chuyện Rắn báo oán và vụ án Lệ Chi Viên. Nhiều gánh tuồng nổi tiếng đều lấy tích Rắn báo oán ra làm kịch bản diễn cho mọi người xem. Đám con hát còn thêm mắm, giậm ớt khiến câu chuyện ngày càng ly kỳ, hoang đường hơn nữa.

Chẳng mấy mà khắp kinh thành Thăng Long, ai nấy đều kể đi kể lại chuyện Rắn báo oán. Thỉnh thoảng ngồi uống rượu nơi Kẻ Chợ, Trần Lục thấy người ta tam sao thất bản câu chuyện của mình. Có kẻ còn phùng mang trợn mắt nói rằng chính mắt mình đã chứng kiến mọi việc khiến họ Trần chỉ biết che miệng cười thầm.

Thăng Long là đất kinh kỳ nên các gánh tuồng liên tục đến lưu diễn. Có một gánh tuồng tên là Xuân Hý Phường đến giữa Kẻ Chợ dựng rạp diễn vở Rắn báo oán. Dân kinh thành thích lắm, kéo đến xem đông ngịt. Xem xong, ai nấy đều bàn tán xôn xao về bà chủ gánh tuồng và cũng là con hát chính tên là Lệ Cúc. Mới đến diễn tại kinh thành được mấy buổi mà Lệ Cúc đã khiến giới ăn chơi đất Thăng Long mê mệt. Không ai không rung động trước ánh nhìn đầy ma lực, dáng điệu đầy nhục cảm và giọng hát quyến rũ của nàng. Đám công tử ăn chơi đất Long thành còn truyền tai nhau rằng Lệ Cúc sẵn sàng hầu hạ người nào nàng thích, có điều mỗi đêm ân ái phải trả cho nàng tới một trăm lạng vàng.

Trần Lục là người háo sắc, nghe tiếng người đẹp cũng tìm đến Xuân Hý Phường. Buổi diễn bắt đầu. Đèn nến lung linh. Lệ Cúc bước ra. Tất cả đám đàn ông đều há hốc mồm kinh ngạc. Quả đúng là đệ nhất mỹ nữ, danh bất hư truyền. Ánh mắt người đẹp như phóng ra những tia nhìn tím thẫm, liếc sắc như dao cạo, lời hát nũng nịu mơn man như ngấm vào da thịt. Cho đến khi buổi diễn kết thúc, họ Trần còn ngơ ngẩn. Về đến thư phòng, chàng vẫn thấy như hình bóng giai nhân như ám ảnh xung quanh, lúc cười, lúc nói, lúc liếc mắt nũng nịu yêu kiều.

5.

Từ đó, Trần Lục thường xuyên đến xem Lệ Cúc diễn tuồng ở Xuân Hý Phường. Càng xem họ Trần càng mê đắm. Càng mê đắm, chàng càng khát khao người ngọc. Lệ Cúc thấy Trần Lục là khách quen, hình vóc lại khôi ngô tuấn tú nên cũng tỏ ra có cảm tình đặc biệt với chàng. Mấy lần nàng bước khỏi sân khấu cảm tạ mọi người, hương thơm phảng phất khiến đầu óc họ Trần như mụ mị. Có lần nàng còn chạm nhẹ vào người khiến chàng mất ăn mất ngủ mấy ngày trời.

Trần Lục vốn tính ham vui bạt mạng nên nhanh chóng quyết định phải hưởng lạc với người đẹp. Kiểm lại số tiền viên quan trả cho mình, thấy vẫn còn lại hơn trăm lượng vàng, họ Trần liền mang đến gặp Lệ Cúc. Giáp mặt người đẹp, chàng nói gấp gáp: “Nghe nói nếu nàng thích ai thì sẽ chiều chuộng người đó, miễn là phải trả đủ cho nàng một trăm lượng vàng”. Lệ Cúc cười, tiếng như khánh vỡ: “Đúng là ngoa truyền. Miệng lưỡi nhân gian độc hơn rắn rết, chẳng thể nào mà tin được”. Trần Lục ngạc nhiên: “Như vậy có nghĩa là sao?” Lệ Cúc nheo mày: “Nhưng chàng đã nói vậy thì ta sẽ lấy một trăm lạng vàng này để đổi lấy một đêm ân ái”. Trần Lục chưng hửng. Lệ Cúc nhếch mép: “Nếu không vừa lòng, chàng hãy cầm vàng về”. Trần Lục vội vã xua tay lắc đầu, đưa tiền cho người đẹp.

Lệ Cúc dìu Trần Lục vào phòng. Chốn phòng loan trong rạp tuồng có phần kỳ lạ. Xung quanh bốn bức tường treo toàn các loại mặt nạ tuồng, cái đỏ, cái trắng, cái đen, cái nào cái nấy đều trợn mắt trừng trừng. Trần Lục hơi e ngại: “Ta trông những cái mặt nạ kia đều cứ như đang nhìn chòng chọc vào mặt ta”. Lệ Cúc cười khẩy: “Chúng chỉ là mặt nạ thôi, có gì đâu mà phải sợ”. Xiêm y người đẹp rơi xuống đất, Trần Lục quên cả mọi e ngại, lao vào cơn hoan lạc. Da thịt Lệ Cúc mềm mại khác thường. Trong cơn đê mê, Trần Lục thấy cơ thể nàng như cuốn mấy vòng xung quanh ôm trọn lấy người mình. Chưa bao giờ Trần Lục trải qua cơn truy hoan tận thú đến vậy.

Đêm ân ái vụt trôi qua ngắn ngủi. Trần Lục trở về chốn thư phòng giường đơn chiếu lạnh, nghĩ đến Lệ Cúc. Còn đâu bóng dáng giai nhân? Còn đâu mùi hương nồng nàn? Còn đâu những giây phút cuồng si? Tất cả mọi thứ bỗng trở nên trống rỗng.

Cuối cùng, Trần Lục không chịu nổi, tìm đến gặp Lệ Cúc: “Ta muốn được cùng nàng chung đôi loan phượng, hưởng trọn vẹn ngày tháng ái ân”. Lệ Cúc hỏi: “Giờ chàng còn tiền không?” Trần Lục ngượng ngùng: “Một trăm lạng vàng hôm trước là toàn bộ gia sản của ta. Giờ ta chỉ đủ tiền ăn qua ngày”. Lệ Cúc nói: “Không có tiền thì chàng đến gặp ta làm gì?” Trần Lục gấp gáp quỳ xuống ôm riết lấy chân Lệ Cúc: “Giờ ta chẳng còn tiền nhưng nàng muốn gì cứ nói. Bất cứ việc gì nàng sai khiến ta cũng sẵn lòng thực hiện, miễn sao là được ở bên cạnh nàng”

Lệ Cúc ngửa mặt lên trời cười sằng sặc: “Ai ngờ chàng là kẻ si mê đến thế. Muốn ở bên ta nào có khó gì? Tối nay Xuân Hý Phường diễn vở Rắn báo oán. Thế nhưng gã đóng vai con rắn đực lại bị bệnh không diễn được. Chàng đóng vai đó giúp ta vậy. Nhưng không hiểu chàng có thuộc câu chuyện Rắn báo oán hay không?”

Trần Lục mừng rỡ: “Tưởng chuyện gì khó lắm? Ta chính là người đã viết ra câu chuyện rắn báo oán lưu truyền trong chốn dân gian. Vai diễn cỏn con đó có gì mà không thực hiện được”. Lệ Cúc cúi xuống nhìn Trần Lục, ánh mắt lóe lên tia nhìn tím thẫm: “Chàng là người viết chuyện Rắn báo oán, thế chàng có biết rắn báo oán sẽ như thế nào hay không?”. Trần Lục cười hý hý: “Ta không thèm bận tâm”.

Nói đoạn, Trần Lục ôm thốc lấy Lệ Cúc, vác thẳng vào chốn trướng rủ màn the. Hai người lại cuốn chặt lấy nhau trong cơn hoan lạc. Trần Lục ghé môi lên miệng người đẹp. Bỗng chàng thấy lưỡi đau nhói, có vị mặn mặn. Chắc là Lệ Cúc đã cắn phải lưỡi của chàng. Nhưng chàng chẳng mấy để tâm, chìm vào cơn ân ái đến mê người.

6.

Khi Trần Lục tỉnh lại, vở diễn đã bắt đầu. Người dân Thăng Long đến Xuân Hý Phường đông lắm. Chiêng trống vang lừng. Từng cảnh một của vở tuồng được diễn trôi chảy: Nguyễn Trãi dạy học và mơ thấy một Nguyễn Thị Lộ trong hình lốt con rắn đến kêu cứu. Họ Trần đeo mặt nạ rắn, mặc bộ quần áo màu xanh bó sát người, giả trang trong lốt rắn. Sắp đến trường đoạn mình phải diễn, Trần Lục thấy cổ họng khát khô. Vết cắn ở lưỡi bỗng đau đớn khôn tả khiến chàng bứt rứt khó chịu. Chiếc mặt nạ và đám quần áo như dính chặt vào da thịt khiến người chàng nóng bừng, mồ hôi túa ra như tắm.

Đám thanh niên đóng vai học trò Nguyễn Trãi diễn cảnh dọn cỏ dựng lán học và cuốc vào tổ rắn. Trần Lục trong lốt con rắn đực lao ra sân khấu, vờ tấn công đám thanh niên. Đám thanh niên đóng vai học trò thét lên xông vào vác gậy đập chàng túi bụi. Họ Trần kêu lên bảo đám thanh niên nhẹ tay. Nhưng bọn chúng hung hăng phang gậy thẳng cánh khiến chàng xây xẩm mặt mày.

Trần Lục há to miệng hét lên vì đau. Từ trong miệng, lưỡi chàng bỗng chảy dài ra khỏi mồm. Vết cắn ở đầu lưỡi đã xé lưỡi chàng làm đôi, tách ra đen ngòm rung rung hệt như lưỡi rắn. Tiếng chàng la hét bỗng phát thành tiếng rít ghê sợ. Hình dáng con rắn xanh khổng lồ ngóc lên phun phì phì đe dọa khiến đám thanh niên khiếp đảm, vứt gậy chạy tháo thân. Những người đến xem tuồng cũng bỏ chạy tán loạn.

Trần Lục giơ tay cố kéo chiếc mặt nạ ra nhưng chiếc mặt nạ đã dính chặt vào mặt chàng như một lớp da. Chàng điên cuồng cào cấu, cởi bỏ lớp áo xanh đang bó sát quanh người nhưng chỉ thấy lớp lớp vẩy rắn rơi xuống. Họ Trần thét lên, cổ họng đặc quánh. Chiếc lưỡi thò ra thụt vào khỏi mồm chàng phát lên những tiếng rít ghê rợn.

Trần Lục ngước nhìn xung quanh cầu cứu. Bỗng chàng thấy một con rắn lớn đằng sau tấm màn tuồng đang giương mắt nhìn chàng, ánh mắt phóng ra những tia nhìn tím thẫm ma quái nhưng quen thuộc đến lạ lùng…

Người dân thành Thăng Long nói rằng Trần Lục chính là một con rắn đóng giả làm người.

Cũng có người bảo rằng họ Trần vốn là người nhưng phạm phải phép yêu thuật mà hóa thành rắn.

Và cũng từ đó, không ai gặp lại Trần Lục nữa.

Hà Nội, 21/10/2012
H.T
(SH288/02-13)







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.