SHO - Sáng ngày 11/7 (nhằm ngày 23/5 Nhâm Thìn), tại chùa Ba Đồn, phường An Tây, thành phố Huế, Công ty Cổ phần đầu tư Văn hóa Du lịch Đất Việt và UBND phường An Tây đã tổ chức Lễ cầu siêu và Lễ tế âm linh cô hồn, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, những bá tánh xả thân vì nước và đồng bào tử nạn trong biến cố thất thủ Kinh đô cách đây 127 năm (23/5 Ất Dậu - 5/7/1885).
>> Đàn Âm hồn - di sản văn hóa tâm linh đang bị xâm hại
Đến dự Lễ, dâng hương tại Di tích Nghĩa địa và chùa Ba Đồn có đại diện Lãnh đạo tỉnh, các cơ quan ban ngành trong tỉnh, thành phố; các vị chư tôn tăng ni, phật tử và bà con nhân dân thành phố Huế.
Nghĩa địa (cồn mồ) và lịch sử chùa Ba Đồn, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì Nghĩa địa - Cồn mồ Ba Đồn được vua Gia Long (1802-1819) cho giải tỏa 8 ngôi làng ở bờ bắc sông Hương lên nhằm để xây dựng Kinh thành Phú Xuân. Theo lệnh vua, nhà cửa và mồ mả phải dời đi nơi khác, những mồ mả không có người chịu trách nhiệm thì nhà nước cho dời lên tại vùng rừng mà ngày nay gọi là Xóm Hành thôn Tứ Tây thuộc xã Thủy An, thành phố Huế. Cồn mồ 8 làng ra đời từ đó. Cũng trong năm Qúy hợi (1803), vua Gia Long cho dựng bia đá (cao 1,51m, rộng 1,110m) với nội dung "Ân Tứ Hiệp Táng Vô Tự Chi Mộ" (Vua cho hợp táng những người không người thờ tự) tại cồn mồ 8 làng. Dòng lạc khoản bên phải đề :"Vị dĩ bách cận thành trì thiên táng tại thử " (Vì lẽ bức cận thành trì nên dời chôn tại đây). Lạc khoản bên trái ghi: "Tuế thứ Quý hợi niên tam nguyệt sơ thất nhật phụng khắc" (Kính vâng mệnh khắc ngày 7 tháng 3 năm Quý Hợi, tức là ngày 27/4/1803).(1)
![]() |
Sau đó, khi xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long, các mồ vô chủ lại được dời đến tiếp tạo thành hai cồn mồ lớn nữa nằm về phía nam của cồn mồ của 8 làng. Cồn mồ 8 làng (sau thường gọi là Đồn 1) có diện tích 50m x 150 m. Ở mỗi cồn mồ đều có dựng bia và có nội dung từa tựa như bia Cồn mồ 8 làng. Theo L.Sogny riêng bia Cồn mồ thứ hai có lạc khoản bên trái cho biết có 3.700 người (con số hàng chục và hàng đơn vị bị đục bỏ từ năm 1914) an nghỉ ở đây, lạc khoản bên trái bia Cồn mồ thứ ba cho biết có 2250 (con số chỉ đơn vị bị đục bỏ).
![]() |
Đến năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở giữa trời (đàn) tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau cho dựng thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ ba. Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn mồ Ba Đàn (Ba Đồn).
Thêm nữa, biến cố thất thủ Kinh đô vào đêm ngày 22, rạng sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (ngày 4 - 5/7/1885), Tôn Thất Thuyết đã chỉ huy cuộc tấn công quân Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm Sứ. Do bị bất ngờ nên quân Pháp hoảng loạn, nháo nhát. Đến sáng chúng bắt đầu mở cuộc phản công, quân ta chiến đấu oanh liệt nhưng do vũ khí lạc hậu, thô sơ nên thất bại. Quân Pháp đánh chiếm Kinh thành Huế, khi xông vào bọn chúng gặp ai giết nấy, đốt phá, cướp giật và hãm hiếp, tiếng khóc vang trời dậy đất; dân chúng và binh lính trong Thành đạp nhau chạy theo vua ra các cửa Nhà Đồ, cửa Hữu làm chết hàng ngàn người. Ngày 23 tháng năm năm Ất Dâu - 1885, Kinh đô Huế chìm trong máu lửa, đổ nát, tang thương, hằng chục ngàn binh linh, người dân chết và bị thương. Sau đó, người Pháp bắt dân chúng phải cất bốc hết các mồ mả chôn trong và ngoài Kinh thành, những mồ vô chủ lại được đưa lên Ba Đồn "hợp táng" hình thành thêm một số Cồn mồ nữa. Theo L.Sogny (BAVH.1915) số cồn mồ mới đó là: Cồn mồ thứ tư, nơi an nghĩ của quân lính hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23.5 Ất dậu (5/7/1885), số lượng không rõ; Cồn mồ thứ năm, nơi an nghĩ của sĩ quan hy sinh trong Kinh thành Huế ngày 23/5 Ất dậu (5/7/1885), số lượng không rõ; Cồn mồ thứ sáu, nơi an nghĩ của thường dân chết trong Kinh thành Huế ngày 23/5 Ất dậu (5/7/1885), số lượng không rõ...”(2)
![]() |
| Chùa Ba Đồn và Nghĩa địa - Cồn mồ |
Trước nỗi đau thương, mất mát của bao người con dân Việt yêu nước, Cụ Phan Bội Châu đã viết bài “Văn tế cô hồn ngày 23/5” với những câu như sau:
“Lô nhô trẻ dìu già, ông nách cháu, chân còn đi, đầu chốc lìa vai!
Lao nhao con khóc mẹ, vợ kêu chồng, tiếng chưa ngớt, xương đà chất đống!
Oan uổng quá mấy ông trên võng, thình lình sét đánh, sống chẳng trọn đời.
Tội tình thay lũ bé trong nôi, cắc cớ sao sa, chết đà trắng bụng...”
![]() |
Và trong bài “Vè thất thủ Kinh đô” đã ghi lại biến cố thất thủ Kinh đô năm 1885, với những cảnh tan thương do quân Pháp gây ra:
“Tránh thân cho khỏi súng Tây
Mẹ con chạy vạy trời rày còn khuya
Lao xao như cá trong đìa
Tránh sao cho khỏi súng lia vào mình…”
![]() |
hay
“…Từ ngày Thất thủ Kinh đô
Tây qua giăng dây thép, họa địa đồ nước Nam
Lên dinh tớ ở Tòa Khâm
Chén cơm âm phủ, áo dầm mồ hôi…”
![]() |
Lễ cầu siêu và Lễ tế âm linh cô hồn năm nay diễn ra tại chùa Ba Đồn được tổ chức theo nghi thức truyền thống của Phật giáo Việt Nam, gồm các lễ: Lễ Hưng tác Thượng Đại tràng phan; Lễ Bạch Phật khai kinh, thỉnh Tiêu Diện Đại Sĩ, Lễ thỉnh chư âm linh; Lễ tưởng niệm 127 năm ngày Thất thủ Kinh đo 23/5 Ất Dâu (1885 – 2012)); Lễ cung tiến chư anh hùng liệt sĩ, chư anh linh, âm linh đồng bào tử nạn và chư tôn liệt vị cô hồn; Tụng Đàn Kinh Địa Tạng; Lễ Đăng đàn chẩn tế âm linh cô hông và lễ phóng Đang tại các Đồn cô mộ di tích Nghĩa địa và chùa Ba Đồn; Lễ tạ Phật hoàn kinh. Vào lúc 14 giờ ngày mai - 12/7 (26/5 Nhâm Thìn) Lễ tạ và kết thúc chương trình Lễ cầu siêu và lễ tế âm linh cô hồn tại Nghị địa và chùa Ba Đồn.
![]() |
Ngoài Lễ tế tại chùa Ba Đồn, hằng năm vào ngày Thất thủ Kinh đô 23/5, người dân thành phố Huế và các vùng lân cận tổ chức Lễ tế Âm hồn tại Đàn Âm hồn và cúng cô hồn từ ngày 23/5 đến cuối tháng 5 âm lịch.
![]() |
Lễ tế, cúng cô hồn 23/5 là biểu hiện lòng kính trọng của người dân Huế đối với các chiến sĩ bỏ mình vì Tổ quốc và thể hiện lòng tri ân của người dân Huế đối với đồng bào tử nạn vào năm 1885. Đây là một hoạt động tâm linh đầy tình nghĩa dân tộc và đồng bào, là nét văn hóa độc đáo đầy tính nhân văn của người dân xứ Huế.
![]() |
PV
............................................................
(1&2) Theo Chùa Ba Đồn ở Huế nơi có những Cồn mồ liệt sĩ chống Pháp lớn nhất nước của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.