THÁI PHAN VÀNG ANH
Trong tiểu thuyết Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà từng giễu kiểu người sính chức danh với cacvidit dài dằng dặc những nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhà nghệ thuật học…, rằng: “nhiều nhà như thế đáng nhẽ phải gọi là phố”.
Ảnh: tuoitre
Lê Anh Hoài không có cacvidit để “khoe”, để mưu cầu sự nổi tiếng. Nếu không, ắt anh đích thị là một “phố”, theo cái nghĩa không hề giễu nhại. Bởi Lê Anh Hoài thật sự có tài, có “danh” ở tất cả những lĩnh vực anh yêu thích và dấn thân. Lê Anh Hoài sớm xác lập một phong cách sáng tạo rất riêng, dẫu anh đến với nghệ thuật muộn và không chuyên, dẫu viết văn, vẽ tranh hay làm nghệ thuật sắp đặt trước hết là cách để tác giả “quậy”, chơi, để gây ra một sự bối rối trong tiếp nhận của công chúng.
Lê Anh Hoài không có một sự nghiệp văn học đồ sộ1. Anh cũng không chuyên chú hẳn ở một thể loại bởi “không chịu chơi mãi một trò”. Song lịch sử văn học thế kỉ XXI, nhất là 20 năm đầu thế kỷ, hẳn không thể không nhắc đến Lê Anh Hoài. Bởi bằng cách “chơi” ngôn ngữ, “chơi” cấu trúc, “chơi” thể loại, Lê Anh Hoài đã góp phần khẳng định một xu hướng xem văn học là trò chơi, trước hết là trò chơi của người sáng tạo. Đáng chú ý là, với các truyện kể của Lê Anh Hoài, tác giả… không chết và trò chơi có thể được kéo dài bất tận cùng với sự chơi cộng hưởng của độc giả. Nhất là khi những câu chuyện “kì”, “dị”, “tạp” ấy được kể lại với sự hỗn độn của thủ pháp, của thực tại. Có thể nói, là một tay chơi thứ thiệt lắm trò và bằng những cách kể chuyện đặc biệt, Lê Anh Hoài đã có vai trò tiên phong trong việc khẳng định một thứ văn chương mang hình hài, diện mạo khác trước, văn chương hậu hiện đại. Sáng tác của Lê Anh Hoài là những dị truyện của thời tạp kỹ. Hay nói cách khác, Lê Anh Hoài đã dùng những tạp kỹ để kể chuyện, nhất là những câu chuyện @ tình2 như tên gọi một tiểu thuyết của nhà văn - CHUYỆN TÌNH MÙA TẠP KỸ.
![]() |
1. Dị truyện những @ tình
Không còn đòi hỏi “văn dĩ tải đạo” như văn học truyền thống, văn học hiện đại đã mở rộng đề tài, bám sát đời sống thường nhật, bình dị của con người. Tuy vậy, không ít độc giả và cả nhà văn vẫn cần đến một thông điệp, một tư tưởng, một quan niệm nghệ thuật hòng “cứu rỗi đời sống” ở văn chương. Lê Anh Hoài dường như không nghĩ thế. Anh không quan tâm quá nhiều đến sự đón nhận, mà đa phần là dè chừng, “dị ứng” của người đọc với những sản phẩm sáng tạo, thể nghiệm, những trò chơi ngôn ngữ của mình. Có khi, gây hoang mang mới chính là chủ đích của Lê Anh Hoài, nhằm buộc độc giả phải nghĩ khác, hay ít ra, quen dần với những cách nghĩ khác. Và nhờ tư duy khác, lựa chọn lối viết khác, Lê Anh Hoài trở thành gương mặt tiêu biểu và sớm nhất của làn sóng văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, gắn liền với tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ.
Tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ có hình thức chương hồi, cơ bản viết về tình yêu, luận bàn về tính dục. Chọn hình thức thể loại truyền thống, lấy chuyện hoa tình làm đề tài trung tâm, có vẻ như Lê Anh Hoài muốn quay trở lại, xem tiểu thuyết là những “chuyện đầu đường xó chợ” như quan niệm nguyên khởi của thể loại. Song, không giống như Kim Bình Mai, một trong những cuốn tiểu thuyết chương hồi Minh Thanh đề cập rất táo bạo đến chuyện dục tình, vốn được viết một cách nghiêm túc, dẫu chỉ để “mua vui cũng được một vài trống canh”, những câu chuyện tình tạm bợ, vội vã trong tiểu thuyết của Lê Anh Hoài được viết với một tâm thế khác. Ý thức bông đùa, gây hấn bởi những dị biệt ngay trong quá trình viết của tác giả khiến Chuyện tình mùa tạp kỹ không nhằm giáo hóa, cũng không chỉ để mua vui. Chuyện tình yêu, tình dục trở thành trường nhìn để Lê Anh Hoài nhận diện những hỗn loạn của xã hội, những mảnh vỡ của tâm hồn con người trong một thời đại đã nhòe mờ các chân giá trị. Chuyện tình mùa tạp kỹ vì vậy trở thành bản mô tả, nhận diện khá sớm cảm quan hậu hiện đại của xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI.
Dị truyện và giải thiêng
Với 49 hồi, kết thúc bằng một vở kịch mang âm hưởng Ionesco, Lê Anh Hoài dường như đã gom góp và dồn tất cả những câu chuyện tình yêu vụn vặt thời @ vào tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ. Chọn đề tài “tầm thường”, kể những câu chuyện không đầu không cuối, ngỡ như cuốn tiểu thuyết không có chiều sâu. Nhưng Chuyện tình mùa tạp kỹ không đơn giản như vậy. Có thể xem đây là một trong những tiểu thuyết hội tụ nhiều yếu tố của hậu hiện đại, ở đó nguyên tắc trò chơi được thể hiện một cách có ý thức, vừa hài hước, cợt nhả vừa ngầm ẩn những triết lí, suy tư thế sự. Xoay quanh những câu chuyện thường ngày của giới trí thức, nghệ sĩ (giáo sư, phóng viên, đạo diễn, nữ thi sĩ, họa sĩ, biên tập viên…), Lê Anh Hoài viết về cuộc sống với những hỗn độn, bất tuân của nó. Nhà văn đùa cợt, gây hấn một cách có chủ ý, buộc người đọc phải sục vào tầng chìm của những câu chuyện yêu đương, qua đó, thấu hiểu những bản thể người.
Chuyện tình mùa tạp kỹ kể về hai nhân vật chính là Trình và Hà, những người đàn ông luôn loay hoay giữa tình dục và tình yêu. Họ vừa hạnh phúc lại vừa khổ đau vì những người phụ nữ như Mai, Trà (người yêu cũ và mới của Trình) hay Nhã (người tình/vợ hờ của Hà). Ngoài các mối tình tương đối gắn bó nói trên, tiểu thuyết còn chêm xen các kiểu tình yêu muôn hình vạn trạng. Tình đơn phương của họa sĩ Đăng với nữ thi sĩ Thanh đưa đẩy, lẳng lơ (sau Thanh thành người tình của Hà). Tình trong tưởng tượng của Dung với người yêu lý tưởng không tồn tại. Tình trong nước mắt của Quy với ông hiệu trưởng luôn mang mặt nạ và đã có gia đình. Tình vô vọng của Hậu với L, vốn đã có chồng nhưng vờ ngây thơ trong vẻ hồn nhiên thiếu nữ… Không tham gia vào các câu chuyện tình nhưng đóng vai trò quan trọng trong những luận giải về tình yêu, tình dục, về cả đạo và đời trong Chuyện tình mùa tạp kỹ là nhân vật giáo sư Lương. Những đối thoại, trò chuyện giữa Trình và giáo sư Lương tuy không chi phối đến sự phát triển của cốt truyện, song lại là “kênh” chính để giải thiêng, phá bỏ đại tự sự về tình yêu, hôn nhân, về triết học, tôn giáo - chủ đích của cuốn tiểu thuyết ngỡ chỉ thuần túy kể, tả về những mối tình thời @, góp phần làm tăng tính hỗn độn và bất tín nhận thức của toàn bộ cuốn tiểu thuyết.
Với 49 hồi, trừ hồi cuối cùng xuất hiện “thông báo” của tác giả: “Đến đây là hết truyện, tiếp theo là phần kịch”, Chuyện tình mùa tạp kỹ có tổng cộng 96 lời mở và kết hồi, tóm lược và đánh giá tác phẩm theo từng mảnh truyện. Từ nội dung của phần paratext này, có thể dễ dàng thấy sự hỗn loạn, kì dị của “mùa tạp kỹ” và thái độ của người kể chuyện đối với thời thế, xuất phát từ những giễu nhại chua xót về các mối tình “lạ lùng”, khó có thể “đánh giá” nếu chỉ dựa vào các chuẩn mực đạo đức truyền thống. Có cái nực cười tréo ngoe ngay từ lời mở ở hồi thứ 2: “Giáo sư về hưu soạn bí kíp làm tình - Giải quyết nhà đất, tìm ra cách thẩm định phụ nữ”. Có cả cái châm biếm nghẹn ngào về các mối quan hệ già nhân ngãi non vợ chồng qua lời kết hồi 47, “Bán dâm đâu chỉ lấy tiền - Quần hồng tụt xuống võ biền thất kinh”. Từ lời mở và lời kết từng hồi, độc giả dễ dàng đúc kết nội dung của “chuyện”. Chuyện giáo sư Lương dựa vào hai cuốn tạp chí Playboy và bản photo “Tố nữ kinh” do học trò tìm giúp từ Thư viện Hán Nôm để viết “cuốn sách chứa đầy các bí quyết làm tình chữa bệnh dưỡng sinh”. Chuyện Hậu dùng chuyện mời chào của đám bạn đọc đi kiện về nhà đất để trắc nghiệm, thẩm định phụ nữ, căn cứ từ lời lẽ, ánh mắt, hay những điều vi tế trong lúc làm tình của họ. Hay chuyện về mối quan hệ già nhân ngãi non vợ chồng của Hà và Nhã rốt cuộc cũng tan vỡ bởi những đáp trả, những tự trào họ dành cho nhau và cho chính bản thân, một mối quan hệ mà xét đến cùng, với Hà là “chơi gái nhà lành còn biết đeo nhẫn đính hôn”, và với Nhã là “bán dâm mà không nhận được tiền”. Dường như, ở Chuyện tình mùa tạp kỹ, mọi cái thiêng liêng đều bị lột trần để phơi bày cái tầm thường nhất. Trình viết truyện ngắn vào những lúc có tiền, và viết tiểu phẩm kiểu “Vượt qua những trục trặc đêm tân hôn” đăng tạp chí Phụ nữ khi túng thiếu, cố gắng vạch ra ranh giới giữa cái cao quý và cái thấp hèn. Rốt cuộc thì truyện và tiểu phẩm của Trình lẫn lộn với nhau. Cũng chỉ vì yêu đương trong sáng, thuần khiết mà Trình đã để lỡ mất mối tình đầu cùng những băn khoăn vì sao ngày ấy anh đã không chiếm đoạt cô, vì sao khi gặp lại anh vẫn không thể chiếm đoạt cô dù họ yêu nhau và anh hoàn toàn không bất lực với những người phụ nữ khác? Tình yêu thiêng liêng, loại trừ tình dục liệu có là cao cả và có đủ cho hạnh phúc? Đã có một quan niệm khác về tình yêu và nhu cầu được yêu bằng cả xác thịt của con người. Đảo lộn, thay đổi và xác lập lại các giá trị có lẽ là mục đích lớn nhất của Lê Anh Hoài khi thử “quậy” bằng một tiểu thuyết giải thiêng truyền thống, từ đề tài, chủ đề, tư tưởng đến kết cấu thể loại, và đặc biệt là nhân vật. Nhân vật trong Chuyện tình mùa tạp kỹ thường chông chênh giữa cực này và cực kia của tốt - xấu, thật - giả. Họ có nhiều vai mà “trong các vai diễn, diễn chính mình là khó nhất”. Đạo diễn Hà luôn coi thường chức vụ, cười nhạo các loại danh hiệu, khen thưởng, song vẫn không thực sự vui vì “được” mất chức, vẫn hứng chí, “bồng bềnh” khi được nhận huy chương. Mai, Trà, Nhã vừa cần tình yêu, tình dục, vừa cần sự chính danh, cần cái vỏ của ổn định, của thứ hạnh phúc được định giá bởi đám đông xã hội… Xét đến cùng Trình, Hà lẫn Mai, Trà, Nhã đều khó có thể “hiền minh trong lưỡng lự hay lưỡng lự một cách hiền minh” như “lý với luận một màu xám ngoét”. Họ cũng như tất thảy nhân loại đều không biết bao giờ mới hết lưỡng lự, mới có thể hiền lương khi luôn phải đối diện cái bản ngã chân thật và vô cùng phức tạp. Với Chuyện tình mùa tạp kỹ, Lê Anh Hoài không chỉ xóa bỏ ranh giới giữa cái cao cả và cái tầm thường mà còn khiến mọi thứ thiêng liêng trở nên thô tục và trần trụi nhất. Nhưng nhờ đó, con người mới thực sự được diễn đúng vai mình.
Tình yêu hay tình dục
Chuyện tình mùa tạp kỹ lan man nhiều chuyện, nhưng qua những mẩu chuyện lan man, vụn vặt đó là những luận bàn về tình yêu, tình dục: “Tình yêu đáng lẽ chỉ đem đến cảm giác hạnh phúc vì được chia sẻ và hưởng thụ thì còn đem đến cả cảm giác cô đơn và ý thức về cái chết nữa”; “Tình dục chỉ cần kỹ thuật hay phải có cảm hứng và điều bí ẩn trong sự kết hợp giữa hai cá thể người”... Bằng lối viết cợt nhả, giễu nhại, Lê Anh Hoài đã đi đến cùng cõi nhục thể để đối thoại với cái nhìn khô xác, đầy định kiến về tình dục: “Xin lỗi mày nhé, dường như nói về nhu cầu thể xác vẫn còn là xa lạ với chú mày và với cả xã hội này”. Phải chăng, trong Chuyện tình mùa tạp kỹ, “Dưới những mặt nạ thời thượng, người kể chuyện cùng các nhân vật của mình dường như cố tìm cái “động cơ” thật sự của tình cảm. Là xác thịt chăng? Là tinh thần chăng? Hay đơn giản là một sự phân vân muôn thuở?” (Nguyễn Chí Hoan). Tình yêu hay tình dục mới là sự lựa chọn thật sự của con người?
Hoài nghi đại tự sự, giễu nhại cái chính thống, văn học hậu hiện đại có xu hướng chú ý đến tình dục hơn tình yêu. Các nhà văn (chẳng hạn như Milan Kundera với tập truyện Những mối tình nực cười, cũng như hầu hết tiểu thuyết của ông) thiên về miêu tả, nhận diện cái rẻ rúng, tội nghiệp, hài hước thay vì cái thiêng liêng, cao cả của tình ái. Chuyện tình mùa tạp kỹ của Lê Anh Hoài cũng chọn nói về tình dục thay vì tình yêu, cắt nghĩa tình yêu từ góc độ dục tình, giới tính. Chiếm một lượng lớn trong tiểu thuyết là những chuyện tiếu lâm của Hà, những bài viết trên báo Phụ nữ nơi Trình làm việc, những nghiên cứu, tiểu luận của giáo sư Lương về kinh nghiệm làm tình, sự khác biệt của đàn ông và phụ nữ trong những mơ tưởng hay hành vi về sex. Những lời rao ở đầu và cuối mỗi hồi cũng chủ yếu xoay quanh các cặp phạm trù đàn ông/đàn bà, tình yêu/tình dục: “Làm trai cứ nước hai mà nói/ Làm gái không biết giữ thiệt thân”, “Người quân tử chẳng tỏ được lòng son/ Trong tình yêu đàn bà thường sở hữu”… Khai thác cái “nực cười” của tình dục, Lê Anh Hoài đã công khai hoài nghi về cái gọi là “đạo đức” của con người, định vị lại cách nhìn về tình dục.
Tình dục trong Chuyện tình mùa tạp kỹ phần lớn không kèm với tình yêu. Tình một đêm với Quy cho Trình biết “tình dục có thể thanh và sạch, không hệ lụy”, “không hề giống cảm giác với những cô gái mà Hậu dẫn đến”. Mối quan hệ “đàn ông đàn bà muôn thuở sau đó thản nhiên vo viên mọi chuyện rồi vứt vào cái sọt rác tình bạn” của Thanh với Đăng cho thấy trong trò chơi nam nữ, người ta hoàn toàn có thể “đeo mặt nạ” để vờ vĩnh vô tư. Tình dục là cái cớ để họ tự lừa dối về một tình yêu, một mối tình đã đến hồi không thể cứu vãn. Kể cả với mối tình thuần khiết của Trình và Mai, trở ngại tình dục ngày gặp lại cũng khiến chuyện tình của họ rơi vào ê chề, tuyệt vọng. Cái hài hước rẻ rúng của tình dục mà Trình vốn bị ám ảnh, đã khiến Trình không thể yêu Mai bằng cách của bản năng, giống như sự đối lập giữa cái từng trải, sành sỏi của Hậu và cái ngây ngô, trẻ con của L khiến họ mất phướng trong trò chơi tình yêu không tình dục. Dường như, trong tiểu thuyết Lê Anh Hoài, tình yêu, tình dục không thể hòa vào nhau. Oái ăm là con người chỉ có thể lựa chọn cái này hoặc cái kia. Và lựa chọn nào cũng đầy dằn vặt, đau khổ.
2. Tạp kỹ “mảnh mảnh mảnh”3
Xem văn chương là một cuộc chơi, Lê Anh Hoài từ chối cái nhìn “nghiêm túc hóa” đối với mọi phương diện của đời sống. Người nghệ sĩ sắp đặt Lê Anh Hoài để giải thiêng, phá bỏ đại tự sự, đã lựa chọn một lối viết “khác”, nhằm “trình diễn” một thế giới “khác”. Chủ đích làm “khác”, thay vì chỉ làm “mới”, nói đến cái “khác”, thay vì cái “mới” đã xác lập lối viết “hậu hiện đại” của Lê Anh Hoài, đặt anh vào một vị trí “khác” so với nhiều cây bút tiểu thuyết “đổi mới” vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XXI ở Việt Nam. Cá tính, xu hướng tiền phong, ưa thể nghiệm, cũng khiến Lê Anh Hoài không ngại sử dụng bất kì một kỹ thuật viết nào, miễn là đẩy văn chương đến tận cùng của sáng tạo, bất chấp độc giả có thể “quay lưng”, chối bỏ. Nói Lê Anh Hoài sử dụng “tạp kỹ” để viết văn là vì thế; cái “tạp” của thủ pháp để nhận diện cái “tạp” khác của đời sống, của thời đại, của những câu chuyện tình thời tạp kỹ.
Hỗn độn và đứt gãy, dán ghép
Với cảm thức giải trung tâm, Lê Anh Hoài dường như có chủ ý khi biến Chuyện tình mùa tạp kỹ thành một tác phẩm sắp đặt với sự lắp ghép của nhiều mảnh vỡ. Cuốn tiểu thuyết này gồm hai phần chính: truyện và kịch (do các nhân vật thủ vai). Đáng chú ý là hai phần này tồn tại biệt lập và tự thân đều đủ sức làm nên một cấu trúc văn bản hoàn chỉnh. Phần “Truyện” là những “chuyện” của nhân vật được sắp xếp không theo trình tự thời gian. Phần “Kịch” là ngoại truyện mà tác giả viết thêm để làm rõ các vai diễn của nhân vật trong tiểu thuyết với chú thích sáng rõ Tạp kỹ, kịch của Lê Anh Hoài, tạo nên độ mờ và sự chồng lấn giữa tác giả thực, tác giả hiển thị và nhân vật tác giả. Phần kịch bao gồm mười ba lớp với những mô tả, chỉ dẫn chi tiết về sân khấu, về vai diễn, và cũng không kém phần hỗn độn khi trải ra ở nhiều không gian, nhiều bối cảnh. Với sự lắp ghép cơ học giữa hai phần khác xa về đặc trưng thể loại ấy, Chuyện tình mùa tạp kỹ đã định vị lại cái nhìn về thể loại tiểu thuyết, từ cảm quan hậu hiện đại của tác giả.
Trong Chuyện tình mùa tạp kỹ, xét về đặc trưng thể loại, phần “Truyện” gần với tiểu thuyết hơn, chứa nhiều sự kiện có chất “chuyện” hơn. Tuy vậy, dường như Lê Anh Hoài từ chối xếp hạng chính phụ cho hai phần này khi để người đọc toàn quyền lựa chọn đọc tất cả, hay chỉ đọc một trong hai phần, tùy cảm hứng. Nhà văn liên tục đảo xáo, ghép dán các mảnh đời sống, mảnh thân phận, hay các hành động kịch của nhân vật. Vai trò của người kể chuyện mờ nhòe dẫu về cơ bản, tác phẩm được trần thuật từ ngôi thứ ba với người kể chuyện giấu mặt, toàn tri. Người đọc chỉ có thể biết được “chuyện” nhờ vào việc xâu chuỗi, lắp ghép những mảnh ghép rời rạc qua lời kể, lời thoại của nhân vật, qua thư, nhật ký… Tính chất đa chủ thể kể chuyện cộng với hình thức liên văn bản khiến mạch trần thuật đứt gãy. Và bằng trò chơi cấu trúc này, Lê Anh Hoài đã khiến “chuyện” không còn là của riêng nhân vật. Chuyện tình thời tạp kỹ có thể là chuyện của bất kỳ ai trong một thời đại đổ vỡ các giá trị, niềm tin. Những câu chuyện @ tình ấy còn móc nối với nhiều vấn đề ngổn ngang của thời đại. Với cách chơi chữ, kết nối văn bản, lồng văn bản…, qua từng mảng hẹp, vụn đời sống, nhà văn tạo khoảng rộng, gợi đối thoại. Sự chồng lấn các văn bản, độ tương tác các mã văn hóa, lịch sử, tôn giáo (thiền, pháp môn Tịnh độ) tình yêu, tình dục, y khoa; sự xâm nhập thể loại/tiểu thể loại, ngoại biên và trung tâm (truyện tiếu lâm, giai thoại, truyện dân gian, cổ tích hiện đại, tạp văn, luận bàn, những mẫu câu lấy từ báo chí…) đan lồng một cách phi logic. Những phần paratext được lồng ghép chêm xen vào mạch trần thuật chính này hầu như không như không can dự đến “cốt truyện” song vẫn vừa cấu thành và một mặt vừa làm tan rã, vừa mở rộng cấu trúc thể loại của Chuyện tình mùa tạp kỹ so với tiểu thuyết truyền thống và nhiều tiểu thuyết cùng thời. Tuy vậy, những liên tưởng đằng sau cấu trúc bề mặt văn bản lộn xộn (như lời người kể chuyện: “Trình hay ngẫm nghĩ linh tinh. Những ý nghĩ xuất hiện bất chợt, những liên tưởng bỗng dưng móc nối, không bị một rào cản nào…”) làm nên mạch nối kết ngầm, khiến tác phẩm vẫn giữ được chất tiểu thuyết là cốt lõi của thể loại.
Nhại và “mặt nạ tác giả”
Gắn với cái bất tín nhận thức về một hiện thực hỗn độn và tâm thức giải thiêng, văn học hậu hiện đại thường đậm đặc ý thức nhại của nhà văn, bao gồm cả nhại văn, nhại từ cảm hứng và nhại qua giọng điệu. Dường như Lê Anh Hoài nhại tất, từ “Những con đực, trống ngày càng yếu ớt. Phái nam ngày càng dịu dàng. Giờ đây ít người biết sử dụng đao kiếm nhưng lại biết sử dụng mỹ phẩm và nước hoa”, hay những cô nàng “điên cuồng kiểu Jamilia, kiểu Scarlet, kiểu con chim cố tình lao vào bụi mận gai, kiểu tình sử Angielic nhiều tập”… Nhại “Hạnh phúc của một tang gia” trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Lê Anh Hoài đã để đám đông kể đến mười câu chuyện “ngồi lê đôi mách” về tình yêu, tình dục, về mối quan hệ đàn ông, đàn bà. Cái đám đông vừa nhập vào đám tang chờ viếng, vừa bắt đầu thư giãn ấy, dường như chưa bao giờ thôi nhố nhăng từ thời của những Xuân tóc đỏ đến nay. Cảm hứng giễu nhại cũng lộ rõ khi Lê Anh Hoài mượn mùi hương trên tóc Mai để cười những hoài niệm thi vị, lãng mạn hóa tình yêu của Trình: “Ngày xưa, Mai hay gội đầu bồ kết hay cỏ mần trầu hay chanh. Sau lúc đi chơi về, vai áo Trình, chỗ nàng tựa đầu vào hôm sau vẫn còn thơm. Bây giờ mùi tóc nàng đã khác rồi (Chú thích của tác giả: Đây là ý nghĩ của Trình, chứ thật ra bồ kết hay cỏ mần trầu hay chanh không thần diệu như thế)”. Nhại không chỉ từ “lời” người kể chuyện mang mặt nạ tác giả, mà ngập tràn trong ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật, với cái nhìn trần trụi hóa: “Mà không phải chỉ là tóc. Hay là nàng dùng Refre Whitening - sản phẩm khử mùi và ngăn tiết mồ hôi hiệu quả cộng với tác dụng làm trắng vùng da dưới cánh tay với hương thơm mát”. Diễn ngôn quảng cáo chen vào trong cả những cảm nhận đang ngây ngất vì tình yêu của Trình như một hình thức đánh tráo chủ thể và điểm nhìn trần thuật. Chủ ý nhại, nhất là nhại thể loại, đối thoại với tiểu thuyết cổ điển rất rõ trong tác phẩm. Từ khung hình chính là nhại/giả hình thức chương hồi, nhà văn lồng khung, nhại tiểu thuyết lãng mạn, nhại tiểu phẩm, diễn ngôn quảng cáo, thơ haiku, nhạc vàng, phóng sự truyền hình, phim ảnh, chính kịch… góp phần gia tăng tính đối thoại, tạo độ cộng hưởng đối với người đọc. Tính chất hổ lốn của cái được gọi là tiểu thuyết ấy có khi chính là chủ ý gây sốc thể loại của tác giả khi xem văn học là một trò chơi ngôn ngữ. Ranh giới thể loại được xóa bỏ. Đẳng cấp, địa vị của thể loại cũng được cào bằng.
Làm nên chất hài hước, giễu nhại của Chuyện tình mùa tạp kỹ, ngoài chủ ý nhại từ tâm thức tác giả, thông qua giọng điệu của người kể chuyện hàm ẩn, không thể không nhắc đến vai kể của Hà, người kể chuyện hài/thằng hề cùng một loạt câu chuyện tiếu lâm, những chuyện tình cười ra nước mắt. Chiếm một dung lượng lớn của tiểu thuyết là hàng loạt mẩu truyện luôn được người kể chuyện chú thích “Chuyện Hà kể”, bên cạnh những câu chuyện do đám đông, do Trình kể, L kể hay do Quy kể, Dung kể bằng thư từ, nhật ký. Và, để gia tăng tính đối thoại trong trò chơi nhại này, Lê Anh Hoài đã sử dụng hình thức mặt nạ tác giả, xem đây là một thủ pháp cần thiết để “mê hoặc”, “thao túng” công chúng. Mặc kệ những triết lý nghiêm túc của Trình về bi kịch “loài người vẫn cứ đau đớn khôn nguôi và vẫn cứ tiếp tục làm người khác đau đớn”, người kể chuyện không ngớt cười cợt, bằng cách mở ngoặc đơn bình luận, không để tâm đến thái độ của độc giả: (Chú thích của tác giả: sến quá! Nhưng vì tôn trọng suy nghĩ của anh Trình nên cứ đưa vào). Nhại tiểu phẩm của Trình rốt cuộc cũng câu khách, rẻ tiền, theo đúng kiểu mẫu “đạo đức” của các trang báo tư vấn tình yêu, hôn nhân, tác giả hiển thị với mặt nạ tác giả cũng đã không ngại ngần nhảy xổ vào trang viết: Cuối cùng tiểu phẩm của Trình thành ra như sau (bạn đọc không thích có thể bỏ qua). Cái “như sau” đó là bài báo đã đổi nhan đề Từ “hồng nhan tri kỷ” đến “phòng nhì” thành “Lập “phòng nhì” dễ trở nên bơ vơ”, dẫu bớt hấp dẫn song thể hiện rõ lập trường định hướng của tòa soạn. Hay để giễu cợt sự “diễn” của Nhã và Hà cùng những lời cảm ơn nhau sau ân ái, bên cạnh nhận xét của người kể chuyện “Suy cho cùng, lịch sự chỉ có lợi. Lịch sự cả ở trên giường”, tác giả còn chua thêm “Lời bình của người viết truyện: Sao không thấy GS Lương đưa vào các nghiên cứu của ông? Có lẽ sắp”. Chủ ý bỡn cợt, giễu nhại được thể hiện chủ quan, lộ liễu. Và nhờ vào trò chơi mặt nạ tác giả, hiệu quả trần thuật “nhại” của toàn bộ tiểu thuyết gia tăng. Có thể nói, giải thiêng và giễu nhại là cách Lê Anh Hoài tạo ra một lối viết khác, định hình một kiểu nghệ thuật hậu hiện đại, nơi truyền thống, sự cũ mòn, khuôn mẫu bị đả phá, hòng định vị lại các quan niệm về những chân giá trị ổn định, bất biến.
Cảm quan hậu hiện đại xuất hiện khi loài người bắt đầu nhận ra thế giới vốn không nguyên khối và hỗn độn, bất tín nhận thức, vừa thế này lại vừa thế kia, thay vì rạch ròi kiểu nhị nguyên theo cái nhìn truyền thống. Với xu hướng nhận diện đời sống từ những mảnh vỡ, từ cái khác biệt thay vì đối lập, Lê Anh Hoài đã sớm mang tâm thức hậu hiện đại và thể nghiệm vào nghệ thuật. Dẫu xã hội Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thực sự có hoàn cảnh/điều kiện hậu hiện đại, dẫu quan niệm về văn học hậu hiện đại vẫn không ngừng gây hoài nghi, tranh cãi, Lê Anh Hoài vẫn chấp nhận khác người và kiên trì một mình một lối đi riêng. Lê Anh Hoài không chỉ khẳng định được phong cách sáng tạo rất riêng mà còn góp phần xác lập một khuynh hướng văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, ngay từ khi độc giả còn e dè, dị ứng. Có thể nói, với những chiêu trò gây sốc về thể loại, về giọng điệu, Lê Anh Hoài chưa thật sự được đón nhận nhiều ở Việt Nam. Song, bằng cách trình hiện sự đáng thương của con người trong một thế giới tạp nham, lộn xộn, vô chung vô thủy, Lê Anh Hoài đã vượt qua sự bắt chước thủ pháp, sự ra vẻ học đòi của không ít tác giả Việt Nam vốn nóng lòng xác lập phong cách hậu hiện đại chỉ từ sự hỗn tạp, kì dị của lối viết. Và dẫu đã có nhà phê bình đưa ra phản đề, cho rằng tác phẩm của Lê Anh Hoài nếu “đáng gọi là hay thì chúng cứ hay mà chẳng cần đến cái gọi là “giọng điệu đặc thù hậu hiện đại”, điều đó hoàn toàn không có nghĩa giọng điệu hậu hiện đại không làm nên phong cách của nhà văn. Lê Anh Hoài có thể không cần hậu hiện đại để làm nên tên tuổi của bản thân, nhưng văn học và cả nghệ thuật hậu hiện đại Việt Nam ắt vẫn cần đến Lê Anh Hoài để “gây hoang mang”, “gây chú ý”. Nói cách khác, nghệ thuật hậu hiện đại đã cho Lê Anh Hoài một chỗ đứng đáng kể, bất chấp mọi định danh, định giá về những sáng tạo của nhà văn.
T.P.V.A
(TCSH378/08-2020)
---------------------
1. Lê Anh Hoài đã xuất bản 2 tập thơ (Những giấc mơ bên đường, Mảnh mảnh mảnh), 1 tiểu thuyết (Chuyện tình mùa tạp kỹ) và 2 tập truyện ngắn (Trinh nữ ma-nơ-canh, Tẩy sạch vết yêu). Tác giả cũng đang chờ xuất bản thêm 1 cuốn tiểu thuyết (Nghệ sĩ thành phố). Tuy vậy, so với một số tác giả cùng thời, cùng trào lưu, các tác phẩm của Lê Anh Hoài vẫn còn tương đối khiêm tốn, nhất là tiểu thuyết.
2. @ tình là tên gọi khác của tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ, khi cuốn này được tái bản vào năm 2010 và Lê Anh Hoài muốn đổi tên. Chọn cái tên mới này, hẳn Lê Anh Hoài không chỉ muốn nhấn mạnh đến bối cảnh hỗn độn của các câu chuyện tình trong tiểu thuyết (thời tạp kỹ) mà muốn nói lên tính chất của tình yêu thời công nghệ số, thời của thông tin, của sự chóng vánh, và cũng là của cái ảo, cái bấp bênh, trống rỗng, hư vô.
3. Mảnh mảnh mảnh là tên một tập thơ mang rõ dấu ấn hậu hiện đại của Lê Anh Hoài, từ nội dung đến hình thức. Tập thơ này được viết bằng nhiều ngôn ngữ, những ngôn ngữ nằm ở khu vực ngoại biên (trừ tiếng Kinh/ Việt). Ý thức chơi trò chơi ghép mảnh được thể hiện rõ trong tập thơ, cũng như ở nhiều truyện ngắn, tác phẩm trình diễn, sắp đặt của nhà văn, nhà nghệ sĩ đa tài này. Phân mảnh cũng là đặc điểm dễ nhận thấy của tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ.
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.