NGUYỄN HỮU HỒNG MINH
Kỳ Thư là một cây bút viết phê bình sắc sảo. Tuy nhiên độc giả vẫn cho ông là độc đoán, thiển cận, nhìn một chiều và khen chê phe cánh hẩu. Thật thế, đọc văn Kỳ Thư rất khó chịu. Khen ai thì khen tít trời xanh mà chê ai thì đào đất đổ đi. Chưa bao giờ thấy sự trung dung.
Ảnh: internet
Một hôm Kỳ Thư đi tìm Tàng Thư mà than: - “Ta viết phê bình lao tâm khổ trí. Vậy mà lành ít dữ nhiều! Ai cũng nói ta mắc bệnh lậu chữ khó chữa! Vậy lậu chữ là gì?” - Tàng Thư thủng thẳng: -”Lậu chữ có nghĩa là khí độc văn chương tựu lại quá lâu ngày mà không tán! “Yêu chữ” thành “yêu ngôn”. Quay lại hành bản thân. Ngươi bị bệnh cứ nghĩ là mình đang viết ra một thứ gì hay ho lắm nhưng thực ra là bị con ma nó hành. Thành thử đọc khắm như cứt...”. Kỳ Thư sợ hãi: - “Tôi đã bệnh nặng thế kia à? Làm sao chữa được?” Tàng Thư trả lời: - “Muốn chữa bệnh “Lậu chữ” thì hãy tạm ngưng viết! Và đọc nhiều vào! Chữ như kinh tụng niệm. Trí sẽ trì tăng mà thụ ép con Yêu Lậu này phải thoát đi...”.
Kỳ Thư y lời về bỏ bút, không viết lách, nhập Tịnh cốc chín năm. Y tập trung đọc đủ thứ thượng vàng hạ cám. Ghi chép tu tập tỉ mẩn. Cõi văn bình yên sóng lặng.
Ai cũng ngỡ Kỳ Thư đã chết.
*
Một ngày trong giới giang hồ đại náo vì loạt bài viết của Cầm Thư. Một cái tên chưa từng biết tới. Chữ nghĩa độc địa như tử huyệt. Thiên hạ xôn xao rúng động. Nghe tin, Tàng Thư bảo đệ tử đi tìm. Vừa cầm lên, lướt qua, ngửa mặt lên trời cười ha hả: - “Cầm của cái gì! Là Kỳ Thư đây mà!”. Đệ tử bán tin bán nghi: -“Thưa thầy, con nghe Kỳ Thư bỏ làng văn, nhập Tịnh cốc và đã chết...”.
Tàng Thư thủng thẳng: -“Văn có mùi, xác có chôn vẫn dậy sóng! Làm chữ nghĩa cần nhất phải có Tâm Văn. Kẻ không có Tâm Văn có luyện chữ hai ngàn không trăm mười ba hiệp vẫn không thoát phận cầy cáo! Đào bới lật xác tử thi lên mà ăn vậy!...”
Từ đó, giang hồ đồn thổi Cầm Thư chính là Kỳ Thư.
*
Kỳ Thư cả thẹn. Mình đã đào sâu, chôn chặt nhập Tịnh cốc tu luyện chín năm ròng rã vẫn không đổi được cốt văn. Y bèn lật đật đến tệ xá xin nhận Tàng Thư làm Sư phụ. “Không dám! Không dám! - Tàng Thư nói - Ta đây chữ nghĩa chỉ một nhúm không nhiều hơn ngươi sao dám nhận ngươi làm đệ tử được?” - Kỳ Thư ngửa mặt lên trời than: -“Tôi bỏ làng văn quyết nhập Tịnh cốc! Chín năm trì chí đọc xuyên hàng núi chữ Đông Tây Kim Cổ... Vậy mà chỉ lướt vài dòng ông đã nhận ra... Cao cường, cao cường thay! Hổ thẹn, hổ thẹn thay!... Công tu luyện xem như hạt muối bỏ biển sao?...”.
Tàng Thư nói: -“Văn chương là trận hổ phách! Quái thế một cõi ta bà! Tu luyện đâu cứ phải bỏ công ra cầu là được? Bởi chỉ thế thì ai cũng thành chính quả! Đâu khó như con lạc đà chui qua lỗ kim? Để đạt đạo không những công mà còn phải dưỡng! Phải biết phép, phải cao tay ấn mới được. Nhà ngươi đã tu luyện nhập thế ra sao chỉ cho ta biết được chăng?...”
*
Kỳ Thư rước Tàng Thư vào Tịnh cốc chỉ cho thấy kho bên phải hàng hàng lũy lũy núi văn xếp đều đều, tăm tắp nhức cả mắt khi đọc xong. Sách thượng vàng hạ cám phải “điểm nhãn” ba năm chưa chắc hết. Lại dắt qua kho bên trái chỉ từng chồng rương ghi chép, gạch xóa cẩn thận từng lời văn, ý tưởng, giáo huấn ngỡ phải năm năm thống kê khó mà xong. Tàng Thư bán tin bán nghi nhặt một trang ghi chép lên đọc. Sau đó lướt qua nhiều trang khác rồi ngửa mặt lên trời than từng tràng dài:
- Đốt ngay! Đốt ngay hết đi! Con Yêu lậu đang biến tướng quằn quại trong ngươi đó!...
- Yêu nào? Lậu nào? - Kỳ Thư hỏi to: - Chẳng phải con Yêu chữ cách đây chín năm ông chỉ ra, ta đã tu tập diệt trừ rồi sao? Lại còn Yêu lậu nào nữa?
- Không! Vẫn nó! Nó vẫn còn sống - Tàng Thư cầm một tờ văn châm lửa. Tờ giấy rung bần bật, lửa thốc nghiêng ngả, dữ dội.
- Ngươi luyện văn mà không có Tâm văn. Hãy xem đây! Tất cả những gì ngươi ghi chép, đọc lại từ Tiền nhân chỉ là theo dụng ý của ngươi. Cho dù dụng ý đó đã sai ngươi cũng tìm cách lấp liếm bào chữa. Cốt sao gần với biến tướng kỳ dị của mình là được! Hoàn toàn không theo lẽ phải ở đời... Như vậy hóa ra đáng lẽ tìm đúng hang ổ con Yêu Lậu để tận diệt thì ngươi lại đào thêm nhiều hố sâu, nhiều cái ngách liên thông trùng vây hiểm trở cho nó chạy trốn. Bây giờ hình thể con Yêu Lậu đó đã quá lớn, quá quỷ quyệt, biến hóa cao cường sợ rằng phép thuật của ta cũng khó mà trị được nó! Nó sẽ giết ngươi trong nay mai. Để ta ra tay ngay bây giờ! Họa còn kịp chăng...
Trong phút chốc gió hú, lửa cuốn. Tịnh cốc hóa vàng trong biển lửa.
N.H.H.M
(SH291/5-13)
Tải mã QRCode
NGUYỄN HỮU THÔNGChao ơi? Xin chào Thầy, lâu ngày ghê.Tôi lúng túng một hồi mới nhận ra cô Sen. Trước mắt tôi bây giờ là một thiếu phụ với nụ cười tươi, rạng rỡ, nhưng vẫn không làm phai đi trên khuôn mặt gầy những vết hằn khốn khó.
ĐOÀN LÊ Tặng anh tôi Anh làm khoa học, tôi là diễn viên nhà hát. Riêng điều đó đã không hợp nhau. Nhưng tuổi trẻ không chịu nghĩ chín chắn, chúng tôi cứ yêu nhau bất chấp mọi giông bão ở cả hai phía gia đình.
NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.
LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.
NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.
ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.
HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.
TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.
THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn” Trịnh Công Sơn
THÁI KIM LAN(tiếp theo)
NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...
VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.
I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.
Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...
Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.
Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.
Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.
Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.
Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.
Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.