Một trong những kiến trúc đặc trưng của Huế là nhà vườn. Hai khu vực có nhiều nhà vườn nhất là Vĩ Dạ và Kim Long. Vĩ Dạ, cái chốn nửa thôn quê, nửa thị thành mà ai cũng biết ấy xuất hiện trong một kiệt tác của Hàn Mặc Tử.
Trong Vĩ Dạ thôn giờ có con đường Hàn Mặc Tử quanh co ven bờ kênh, thơ mộng những ngôi nhà mà thoáng trông đã thấy “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Hiện nay Huế có tới hơn 4.000 nhà vườn. Người Huế ở đất rộng, đã sở hữu nhà vườn thường có khuôn viên từ 400-600m.
Tuy nhiên, ngôi nhà bên trong thì vô cùng trái ngược. Nhiều gia đình Huế hiện vẫn sống chung nhiều thế hệ, nên mỗi gia đình nhỏ lại thiết kế cho mình một không gian riêng, đơn giản là những bức tường ngăn giữa các phòng con trong một căn phòng lớn. Mỗi phòng chỉ rộng hơn chiếc giường đôi một chút, vừa đủ để kê 1 giường, 1 tủ cho một gia đình nhỏ sinh hoạt. Đó thực sự là những căn phòng tí hon với các ô cửa sổ và cửa ra vào cũng tí hon.
Khách xa đến dễ thường ngạc nhiên sao khuôn viên sống của họ rộng làm vậy, vườn nhà nào nhà nấy đều rộng gấp năm gấp chục lần không gian sinh hoạt riêng, vậy mà họ phải chịu ở khổ trong những căn phòng chũm chọe ấy. Liệu có phải cũng lại là một đặc thù tính cách và văn hóa sống của người xứ Trung kỳ, những con người sống tằn tiện, tiết kiệm song không hề keo kiệt. Họ luôn sẵn sàng mở cửa chào đón những người hàng xóm, những khách phương xa mong muốn được nghỉ chân, nhưng lại cần kiệm với chính mình. Tuy nhiên, những “nhỏ nhắn” và “xinh xắn” ấy ở Huế lại làm nên một thi vị đặc thù cho xứ đô thành thơ mộng.
Nhà rường cổ của Huế nằm trong những khu nhà vườn chủ yếu tập trung ở đường Kim Long. Nhiều nhất là khu Phú Mộng - Kim Long, nay đã biến thành một điểm tham quan với tấm biển chỉ dẫn lớn có sơ đồ, đánh số và ghi tên từng nhà vườn dựng ngay bên bờ sông Hương đối diện khu Phú Mộng. Đó là xóm nhà vườn dễ thương bậc nhất mà tôi từng nhìn thấy. Phú Mộng là một con đường nằm ven bờ kênh nhỏ.
Nhà vườn san sát hai bên. Trong khu xóm này có nhiều dịch vụ du lịch bao gồm 1 nhà hàng “Ancient Hue” tráng lệ như phủ thượng thư, 1 hotel màu trắng kiến trúc kiểu Pháp ẩn giữa “nắng hàng cau” và hàng chục nhà vườn cổ chính thức được công nhận như Phú Mộng Viên (từng là tư thất của Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết), Nhã Viên (của Tri phủ Hoàng Văn Đoài), Tích Thiện Viên (của Tú tài Lương Văn Chánh), An Lạc Viên (của Thị lang Mai Quang Hàm)…
Đầu tiên tôi tham quan Thường Lạc Viên (từng là Phủ của Tả quân Lê Văn Duyệt), được đánh số 1 trong sơ đồ. Nhưng tôi thất vọng quá, ngoài mấy dãy nhà cấp bốn thì phủ tả quân chỉ còn là một nhà rường thấp bé nom có phần giống điện thờ của một gia tộc. Giờ các tư thất đều thuộc quyền sở hữu của dân thường, nên khách vào tham quan cứ tham quan, chủ nhân cứ làm việc của họ.
Tôi thầm nhủ rằng viên cận thần thân thiết của Nguyễn Ánh, từng làm đến Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân rồi sau là Tổng trấn Gia Định, không thể sống trong ngôi nhà tồi tàn và bé tí thế này. Hẳn là hậu thế đã phá hết dinh thự của ông đi để xây nhà cấp bốn ở cho tiện. Nhưng hy vọng được vào thăm tư dinh lộng lẫy hơn của những nhân vật lịch sử nổi tiếng càng lúc càng bị dập tắt khi tôi lần lượt đi qua những ngôi nhà vườn xuôi theo dòng kênh.
Nhà thì đóng cửa… ngủ trưa, nhà lại đang ăn trưa, nhưng nhìn từ ngoài ngõ đã thấy nguyên những ngôi nhà đơn sơ với lối kiến trúc đáng nản của chấn song sắt, thềm đá hoa và mái bằng. Cũng chẳng chủ nhân nào buồn chào đón khách tham quan. Âu thì ban quản lý tỉnh Thừa Thiên - Huế có cố giữ gìn cũng chẳng xong, khi mà người thế kỷ 21 không thể sống trong những ngôi nhà của người thế kỷ 19, khi mà chẳng ai lại không muốn có toilet và buồng tắm trong nhà, không muốn sàn lát đá thay vì lát gạch, và điều hòa thì không lắp được trong nhà rường một gian hai chái toàn những kèo cột gỗ.
Chưa kể các nhà rường đã bị mối xông quá nhiều mà tiền đầu tư tu sửa của nhà nước hầu không xuể. Dường như quá nhiều chính sách đưa ra trở nên vô ích và thiếu thực tế. Các nhà rường cổ đành “chảy máu” về biệt phủ của những chủ nhân giàu có muốn dựng lại toàn bộ không gian cổ kính vương giả xưa kia bằng đồng tiền hiện đại.
Tôi đến thăm ngôi nhà cuối cùng trong khu Phú Mộng: Xuân Viên Tiểu Cung của Thượng thư Bộ lễ Phạm Hữu Điển, nay thuộc sở hữu của bà Phạm Thị Túy, người cháu nội của thượng thư. Ra đón khách là một bà cụ đã 85 tuổi, dáng người cũng nhỏ bé giống hệt ngôi nhà, mái tóc trắng như cước, hàm răng rụng hầu hết và nụ cười thì tươi rói, hóm hỉnh như trẻ thơ. Xuân Viên Tiểu Cung được coi là ngôi nhà đẹp nhất (với hàm nghĩa còn nguyên vẹn nhất) ở quần thể nhà vườn Phú Mộng - Kim Long. Cung điện “Xuân Viên Tiểu Cung” (nghĩa là “Vườn hoa mùa xuân giống như một cung điện nhỏ”) là hai ngôi nhà ba gian hai chái nằm vuông góc. Thấy khách đến, bà Túy vội vã ra đón rồi mở hết các cánh cửa đóng kín bưng ở gian thờ cho khách tham quan.
Đó là một ngôi nhà tí hon, với các ô cửa sổ tí hon, vòm cửa thấp đến nỗi chỉ phù hợp với cỡ người của chủ nhân. Tôi băn khoăn hỏi “Sao một ông quan thượng thư mà lại ở trong ngôi nhà bé thế?”, với hy vọng đây chỉ là một di tích nhỏ bé còn sót lại, một phần phụ không đáng kể của tòa nhà, còn phần lộng lẫy nhất, bề thế nhất xứng đáng là dinh thự của một quan đại thần triều đình thì đã bị hư hại bởi chiến tranh hay do sự thiếu giữ gìn của hậu thế. Nhưng người cháu nội quan Thượng thư lại nở nụ cười trẻ thơ tươi bừng: “Ừ, có vậy thôi đó!”.
Tôi vào tận trong căn bếp tí hon của bà Túy, hay của quan Thượng thư thì đúng hơn, lang thang khắp khu vườn không hề có hoa mẫu đơn, cúc vạn thọ hay tóc tiên như báo chí miêu tả, rồi ngồi trên bể nước cũng tí hon với bồng bềnh vài bông hoa súng tí hon sau khi được chủ nhân có dáng người tí hon mời uống nước chè tươi trong chiếc chén sành tí hon.
Lý do ngôi nhà vẫn được duy trì cũng bởi các anh em của bà Túy nay sống ở Mỹ và TPHCM hết cả, để lại bà chị chưa bao giờ có chồng con ở lại với ngôi nhà. Cũng có thể chỉ bà cụ tóc trắng như cước sinh vào đầu thế kỷ mới phù hợp với ngôi nhà ấy, để không biến nó thành nhà mái bằng gắn máy lạnh. Sống một mình với người đàn bà giúp việc tuổi trung niên, cứ thấy có khách đến là bà Túy vui lắm. Bà rất tự hào về ngôi nhà và dòng họ.
Theo thói quen của một người sinh ra từ dòng dõi quý tộc, bà Túy dù chả mấy khi có khách vẫn chỉn chu ngày một bình nước chè tươi đun sẵn thơm vị gừng ướp, uống kèm với mứt gừng tẩm đường đựng trong chiếc hộp nhựa xinh xắn. Người Huế là vậy, dù chỉ là món đồ ăn rẻ tiền, dù là sống trong một ngôi nhà tí hon thừa hưởng của một ông cố quý tộc đã sa sút, dù có ở một thân một mình vẫn cứ phải đàng hoàng chế biến cầu kỳ. Mà món nước chè ướp gừng của bà cụ quả tuyệt ngon. Nhấp ly chè tươi trong nụ cười trẻ thơ tươi rói qua hai thế kỷ của chủ nhân, khách quả không thể nào quên được ngôi nhà vườn hiếm hoi nguyên vẹn còn sót lại nơi đô thành Huế.
Nguồn: LĐ
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.