Lành thay từ một chữ Thìn

15:51 19/01/2012

LÊ QUANG THÁI

Chi thứ 5 trong 12 chi là THÌN, tượng cho con Rồng, chữ Hán viết LONG (龍), còn đọc là “thần”, có nghĩa lý như chữ “Thần” (宸), dị âm đồng nghĩa. Chữ này còn có nghĩa là cung vua. Cung điện sơn màu đỏ là vì thế.

Lễ Thượng Rồng tại đình Vinh An, Thành nội Huế vào lúc 8 giờ ngày 18.9.2011- Ảnh: Hồ Vĩnh

Từ xa xưa trong khuôn viên, cung điện nhà vua chọn trồng nhiều cây phong. Lúc sương xuống lá phong nhuốm màu đỏ. Chữ viết hình tượng lấy nghĩa biểu trưng, thăm thẳm một chiều sâu qua thành ngữ “sơn son thếp vàng”. Nhà vua bận áo màu vàng lúc ngự triều, viết chữ bằng son đỏ gọi là “ngự bút châu phê”.

Chữ Thì (時) còn đọc là “thời”, ý chỉ thời gian. Âm lịch chia một ngày thành
12 giờ. Giờ Thìn từ 7 giờ đến 9 giờ sáng. Người xưa khéo ví von “thì giờ là khách qua đường của trăm đời”. Nói có sách mách có chứng, bài Xuân dạ yến đào lý viên tự của Lý Bạch viết: “Phù thiên địa giả vạn vật chi nghịch lữ, quang âm giả bách đại chi quá khách”. Nghĩa của câu ấy là: “Ôi trời đất là quán trọ của vạn vật, thì giờ là khách qua đường của trăm đời”.

Đồng hồ (horloge) là thước đo thời gian trong một ngày đêm gồm 5 canh sáu khắc. Nguyễn Gia Thiều viết: “Mắt chửa nhắm đồng hồ đã cạn”. Cao Bá Nhạ cũng viết: “Đồng hồ thảnh thót vơi đầy năm canh”. Nghĩa chữ “đồng hồ” nguyên ủy là do người xưa dùng một cái bình đựng nước bằng đồng có lỗ nhỏ cho nước giọt dần, xem chừng mực nước thì biết giờ. Hiện tượng ấy được miêu tả bằng thuật ngữ: giọt rồng.

Dưới thời nhà Nguyễn, do kiêng tránh tên vua Tự Đức là “Thì” (時) cho nên mượn chữ Thìn (辰) để thay thế và cũng còn được đọc là “Thần” tùy theo văn cảnh. Cổ thi viết: “Lương thời vị thử biệt, nhật nguyệt vạn hướng trừ”, nghĩa là “một năm đến đêm nay là hết, một năm mới sắp bắt đầu”. Đó là đêm giao thừa, mọi người đều ưa thức khuya để mừng Xuân mới.

Cao Bá Quát đã sáng tác bài hát nói thời danh, kết thúc bằng câu: “Hơn nhau cũng một chữ thì”. Và câu ấy trở thành tựa bài để cho dễ cảm, dễ nhớ ca từ bất hủ.

Chữ THÌN tượng cho con Rồng. Con rồng xanh gọi là Thanh long, con rồng vàng gọi tên Kim Long. Rồng là linh vật theo ý nghĩa lời ca dân gian: “Long Lân Quy Phượng một đoàn tứ linh”. Nhà bác học Lê Quí Đôn khảo về 12 động vật thuộc số thập nhị chi ở sách Vân đài loại ngữ đã truy nguyên từ thiên SINH TIỂU LUẬN là một thiên trong sách Luận hành của Vương Sung đời nhà Hán, đã nói về đặc điểm của loài Rồng như sau: “Quý thủy ở trên trời mà mưa, ở thân thể là tai; nhâm thủy sinh ở thân, tử ở mão, mộ ở thìn, cho nên loài rồng 5 vuốt, tai nhỏ, nghe kém (không thính)”.

Giải thích điều này phải dựa vào “hoa giáp”, một danh từ thường dùng để gọi 60 năm, từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Từ Giáp Tý, Ất Sửu thuộc Kim đến Nhâm Thìn thuộc Thủy cộng 30 hoa giáp. Và từ Giáp Ngọ, Ất Mùi, thuộc Kim đến Nhâm Tuất, Quí Hợi thuộc Thủy cũng 30 hoa giáp.

Thiết tưởng, các họa tiết về Rồng trên giấy hoặc trên đồ thờ bằng sứ, bằng đồng hoặc khảm hình rồng bằng gỗ, bằng vật liệu đắp nổi hình tượng rồng phải tuân thủ một cách trung thực các đặc điểm tiên thiên nói trên của loài rồng. Như thế tuyệt nhiên không có chuyện rồng có số vuốt (móng) dưới con số 5. Vì vậy trong dân gian thường nói “vẽ rồng thì dễ, vẽ rắn thì khó”. Râu rồng có nét na ná với lá cây long tu, và xương rồng, thân rồng thì rắn rỏi, khúc khuỷu như hình tượng cây xương rồng có tên chữ long cốt thụ.

Rồng xuất hiện từ trong núi, bay lên trời phun nước tạo thành mưa, cứu dân vượt qua cơn đại hạn, tránh cho mùa màng thất bát. Chuyện cầu đảo ở các linh từ như miếu NAM HẢI LONG VƯƠNG ở cửa Thuận An. Khởi thủy, miếu này ở làng Dương Xuân, năm Gia Long thứ 12 (1813) dời về cửa khẩu ở kinh kỳ và đặt tên Thuận An hải khẩu thần từ, năm Minh Mạng thứ 3 (1822) cải đổi tên NAM HẢI LONG VƯƠNG. Miếu gồm 3 gian, gian giữa thờ thần vị Long Vương, phía bên trái thờ thần vị Thuận An hải khẩu, Tư Hiền hải khẩu, phía bên phải thờ thần vị Hà Bá. Mỗi năm dùng ngày Quí của sau khi tế Xã Tắc vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch cùng ngày Thượng quí tháng 11 sai quan địa phương đến tế lễ.

Rồng được tôn thờ như một vị thần vào tháng 5 năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838) ở ngoài kinh kỳ như sách Đại Nam thực lục chính biên đã chép: “Vua nghĩ trời lâu không mưa, thường cầu đảo ở các linh từ, chưa được đáp ứng lập tức, nhân nghĩ tháng trước, có tiếng sấm phát ra ở núi Ô Phụ, núi đó tất có rồng, mà rồng bay lên ra mưa, sắc cho Kinh doãn truyền sức cho viên huyện Hương Trà đến núi ấy lập đàn cầu đảo, tức thì mưa ngay, xa gần thấm khắp”.

Vua mừng tức thì phát hương lụa ở trong kho, sai Thị lang Lại bộ Tôn Thất Bách đi lễ tạ, sắc phong thần núi ấy là CHIÊU LINH PHỔ TRẠCH PHỤ Ổ SƠN LONG THẦN, hàng năm ở cuối mùa Xuân đến tế một lần. (Cứ sau ngày tế Nam Hải Long Vương một ngày thì làm lễ), đặt phu giữ 5 người”.

Rồng hiện phun nước ở núi Ô Phụ thuộc thôn Phù Ổ, tổng Long Hồ, huyện Hương Trà không những một lần mà nhiều lần. Đó là một trong những cơ sở đặt nền móng cho việc nhà vua truyền lệnh các tỉnh thành phải báo về triều đình các sông núi lớn ở từng địa phương. Vào tháng bảy, năm Mậu Tuất ấy, từ đầu mùa thu trời đại hạn, lúa ruộng ở vùng cao khô héo. Nhà vua sai quan cầu đảo ở các linh từ nhưng chưa thấy hiệu nghiệm. Tiếp tục cầu đảo ở miếu Đô Thành hoàng và đền Long Thần ở núi Phụ Ổ thì mưa to, đồng ruộng đầy nước và lúa mạ thi nhau lên tươi tốt. Vua Minh Mạng vui mừng, sai quan đem lễ bái tạ. Thưởng quan Khâm phái Hoàng Quýnh và Phũ doãn Thừa Thiên Nguyễn Hanh mỗi người gia một cấp.

Tháng 3 năm Canh Tý, Minh Mạng thứ 21 (1840), nhà vua chuẩn y lời tâu của bộ Lễ: “Phàm vị thần nào đã biên vào điển lệ thờ cúng như thần núi Hải Vân, Thúy Ba, Phụ Ổ, Khải Vận, Hưng Nghiệp, Thiên Thọ và thần ngã ba sông Lô, sông Thao đều có đền riêng, vẫn theo điển lệ mà tế”.

Từ đó, tiến hành lập phương án xây dựng đàn SƠN XUYÊN ở các tỉnh trong nước để thờ thần Sông Núi dưới triều vua Tự Đức. Năm Thành Thái thứ nhất (1889) trở về sau do kiêng tránh chữ Chiêu vì kỵ húy cho nên đã sắc phong thần núi Phụ Ô là LINH ỨNG PHỔ TRẠCH PHỤ Ổ SƠN LONG THẦN. Thật đúng với lời dân gian: “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai”. Rồng giữ vai trò điều tiết khí hậu, thời tiết sao cho gặp cảnh mưa thuận, gió hòa để mùa màng bội thu mà chữ Hán gọi là phong đăng. Có một câu đối cổ nói rõ điều ấy:

Long phi phượng vũ tung thiên thụy
Nhất lãng phong hòa đại địa xuân


Tam dịch: Rồng bay phượng múa đời tươi đẹp/Trời sáng phong hòa đất thắm xuân.

Long phi còn có nghĩa là vua lên ngôi, những gì cao sang, tôn kính liên quan đến nhà vua đều được dùng những thuật ngữ gần nhiều chữ chỉ thuộc tính có thêm các từ như “long”, “hoàng”, “ngự”, “điện”… đặt trước hoặc sau. Riêng về địa danh, di tích ở cố đô Huế còn có các tên gọi Kim Long, Thanh Long, Hàm Long, Hàm Rồng (ở điện Hòn Chén), Long Hồ, Thảo Long, Long Thọ, Chí Long, Ô Long, Bến Ngự, Ngự Bình, Ngự Viên và Giác Hoàng, Long Quang (hai quốc tự).

Có những địa danh tưởng chừng như không liên quan đến vua chúa mà kỳ thực lại có tương liên tương tác. Dương Xuân là một điển hình. Về mùa xuân dương khí phát sinh mạnh, trời đất ấm lên, cây cối nẩy lộc, đâm chồi, ra hoa kết trái. Một câu đối cổ đã lý giải rõ nghĩa địa danh này:

Thủy tú sơn thanh Dương xuân hữu cước
Niên phong nhân thọ hạnh phúc vô biên

(Núi xanh nước bước, Dương xuân chuyển/ Thời giàu dân thọ, hạnh phúc đầy).

Trong kinh Dịch, quẻ Kiền gồm 6 vạch (  ). Kiền tức là trời, có nghĩa là mạnh. Kiền là đầu muôn vật cho nên là Trời, là Dương, là Cha, là Vua. Kiền lấy con rồng làm Tượng, rồng là loài vật thiêng liêng biến hóa không thể lường được. Kinh Dịch viết: “Long hiện tại điền, lợi kiến đại nhân”, có nghĩa là “Rồng hiện ở ruộng thì lợi cho sự thấy của người lớn”. Ông vua lấy đức lớn để trị nước yên dân, bề tôi có đức lớn làm công thần danh tướng giúp vua khiến cho đất nước thịnh vượng.

Làng gắn liền hữu cơ và mật thiết với nước. Nước thịnh thì làng được hưởng ơn mưa móc. Vận nước có lúc thịnh, lúc suy khác nào khúc sông có bên lở, bên bồi. Trí tưởng của người dân thật phong phú và chân thật.

Làng ta mở hội vui mừng,/ Chuông kêu, trống gióng vang lừng đôi bên.
Long ngai thánh ngự ở trên,/ Tả văn, hữu võ bốn bên rồng chầu.


Hoặc:

Làng ta phong cảnh hữu tình/ Dân cư giang khúc như hình con Long

Đón mừng Xuân mới năm Nhâm Thìn (2012), trước thời cơ và vận hội mới, dân tộc Viêt Nam nhanh chóng vượt qua những thách thức và phát huy thế mạnh của thế Rồng cuộn Hổ ngồi để sánh vai cùng bè bạn khắp năm châu bốn biển, xứng đáng là con Rồng cháu Tiên, vừa hùng vừa dũng nhưng rất thuận hòa nhân ái theo đúng lời chúc phúc Thiên Hạ Thái Bình...

Có thân phải giữ lấy thân,
Có hồn dân tộc trăm phần phải lo.

                                             (Huy Cận)

Huế, ngày 20 -12- 2011
L.Q.T
(SH276/2-12)










 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRẦN CHINH VŨChỉ mấy ngày nữa là hết năm, vậy mà tôi vẫn chưa rời khỏi đất Tây Nguyên. Cái vùng đất đến lạ, tới được đã khó, đến lúc về lại cứ lần lữa, hết hẹn này qua hẹn khác.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG                                     Bút kýMỗi dân tộc đều có một quan niệm về sắc đẹp riêng, ví dụ tranh Tố Nữ là quan niệm về sắc đẹp của người Việt một thời nào. Tôi đi Tuyên Quang trong một tour du lịch mà tôi gọi là tour Lương Tâm, nghĩa là đến những nơi mà bất cứ ai là người Việt đều không thể không đến.

  • HỒ VĨNH(Thấp thoáng cố đô)

  • NGUYỄN VĂN DŨNG                        Bút kýMùa hè năm 1965, tôi nhận sứ vụ lệnh về dạy học ở trường Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi. Biết tôi thích ngao du sơn thuỷ, đám đệ tử thân thiết khao thầy một chầu du ngoạn Lý Sơn.

  • NGUYỄN THỊ SỬU1. Thời gian là thước đo sự tồn tại của vạn vật trong vũ trụ bao la. Vạn vật luôn chuyển động và biến đổi không ngừng theo thời gian. Với người Ta Ôi, thời gian được tri nhận rõ nhất qua sự chuyển động và biến đổi của con trăng.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây các nhà khảo cổ học nước ta đã phát hiện ra nhiều di tích quan trọng của một nền văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ giáo tại Cát Tiên, ở cả Bắc Cát Tiên lẫn Nam Cát Tiên trên vùng Đồng Nai Thượng.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ                     Ghi chépChúng tôi rời thị xã Điện Biên đã nhiều ngày và những hoạt động sôi nổi kỷ niệm 45 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã qua, nhưng những ấn tượng trong thời gian ở Điện Biên thì mãi còn đậm nét trong tôi.

  • VĂN HÁCHĐã bốn thập kỷ qua, nhiều thế hệ học sinh, nhiều thế hệ người Việt ta và cũng nhiều người trên thế giới đã từng quen, từng biết câu thơ:Mường Thanh, Hồng Cúm Him LamHoa mơ lại trắng vườn cam lại vàng…

  • NGUYỄN HỮU NHÀNTương truyền đức Thánh Mẫu (mẹ Thánh Tản Viên) là người làng Yên Sơn. Chồng bà là người vùng biển. Họ dựng nhà, sống ở ngay dưới chân núi Thụ Tinh ngày nay gọi chệch là núi Thu Tinh. Một lần bà đi qua đồng Móng làng Tất Thắng ướm chân vào hòn đá to rồi về thụ thai ba năm mới sinh nở. Vì thế khi đang bụng mang dạ chửa bà đã bị dân làng đồn đại tiếng xấu về sự chửa hoang. Chồng bà nghi ngờ rồi bỏ vợ, về quê ở miền biển sinh sống.

  • DƯƠNG PHƯỚC THUChỉ hai ngày sau khi nước rút, tôi lại chạy về huyện Phú Vang. Nắng vàng sau lụt, vào tiết lập Đông oi nồng như đổ lửa. Con đường nhựa từ Huế về biển Thuận An bị bùn, đất, cát phủ dầy hàng gang tấc có đoạn lên cao cả thước, xe chạy người chạy vội vã cuốn bụi tung mù trời, hai bên lề đường ngấm nước lũ được đánh dấu bằng rác rều cỏ cây đeo bám vật vờ cao qúa đầu người. Mùi bùn non, rong rêu, xác chết gia súc gia cầm tấp vào, mùi ủng mục của lúa gạo ngấm nước bạc bốc lên tanh hôi khó chịu.

  • YÊN CHÂUQuảng Điền là một trong những huyện bị lũ lụt nặng nhất Thừa Thiên.Có thể kể ra đây mấy con số: 42 người chết, 13.000 tấn lúa bị thối, 3078 con trâu bò bị chết, 34 cây số đê bị vỡ.

  • NGUYỄN THỊ SỬU Cư trú trên dãy núi Trường Sơn kéo dài từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Trị của lãnh thổ nước ta, dân số Ta-Ôi chỉ 34.960 người (theo Tổng điều tra dân số 1/4/1999) và ít được biết đến. Nhưng khi đi sâu vào đời sống văn hóa, chúng ta mới thấy sự kỳ thú, kỳ vĩ của dân tộc này. Với tư cách là một thành viên bản địa của cộng đồng tộc người Ta-Ôi và sau một chuyến khảo sát điền dã khắp 21 xã, thị trấn của huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế, chúng tôi phát hiện ra một nét văn hóa đặc sắc có tính truyền thống của dân tộc Ta-Ôi. Đó là Trách nhiệm cộng đồng.

  • HOÀNG CÁTVới riêng tôi, thì những cái địa danh bình thường, thuộc nông thôn vùng sâu, vùng xa của tỉnh Thừa Thiên Huế như: Triều Dương, Cao Xá, Quảng Thái, Phong Chương, Phù Lai, An Lỗ, Đồng Lâm, Phong Sơn, xóm Khoai, xóm Mắc vv… từ lâu đã trở thành một phần máu thịt của tâm hồn mình, của ký ức mình; chưa bao giờ - và sẽ không bao giờ - tôi nguôi quên cho được.

  • NGÔ MINH             Ghi chép

  • NGUYỄN THANH TÚ                          Bút ký Bến phà Xuân Sơn nằm trên dòng sông Son thơ mộng ở đoạn thượng nguồn. Từ đây đi bằng thuyền máy khoảng nửa giờ đồng hồ ngược lên phía tây sẽ đến động Phong Nha. Anh Lê Chiêu Nguyên cán bộ hướng dẫn của Trung tâm du lịch văn hóa sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng đã nói như vậy khi đoàn chúng tôi chuẩn bị lên thuyền làm cuộc hành trình tới hang động mà UNESCO vừa công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.

  • NGUYỄN THẾTừ Huế, muốn đến khu nước khoáng nóng Thanh Tân, ta cứ theo Quốc lộ I ra phía Bắc, đi khoảng 20 km, tới cầu An Lỗ; qua cầu, rẽ trái theo tỉnh lộ 11, đi khoảng 12 km là đến. Còn nếu đi từ hướng Quảng Trị vào, đến km 26, rẽ phải vào cổng làng Đông Lâm thẳng theo con đường trải nhựa khoảng 7 km, gặp tỉnh lộ 11, rồi rẽ trái 1km.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                       Ghi chépNói đến Vĩnh Linh, không ai không nhớ hai câu thơ đầy hãnh diện của Bác Hồ tặng cho mảnh đất này:                “Đánh cho giặc Mỹ tan tành                Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng”

  • …Chưa bao giờ các văn nghệ sĩ Huế lại tranh thủ “đi” như ở Trại viết này. Không chỉ “săn” cảnh đẹp, người đẹp, các anh còn chú trọng hơn những nét đẹp trong lao động sản xuất của người dân Bà Rịa-Vũng Tàu…

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG                                Bút ký...Bảy trăm năm trở về với Đại Việt, lịch sử đèo Hải Vân đã dày lên cùng với lịch sử nước Việt. Đó là những trang sách được viết bằng mồ hôi, máu và số phận của cả một dân tộc. Ngày Huyền Trân đi qua cửa Tư Dung (Tư Hiền ngày nay), nàng đã nhìn thấy gì nếu không phải là con ngựa trắng tung bờm lao ra biển đông, và đèo Hải Vân cao mịt mùng đã lặng lẽ đưa một Chiêu Quân vì nước non ngàn dặm ra đi. Cuộc vu qui nhiều nước mắt ấy theo tôi là trang sử đầu tiên của đèo Hải Vân. Để sau đó nơi hiểm trở này đã tiễn chân Cao Bá Quát, cái ngày ông đi giang hồ rèn chí, con chim hồng quì chân uống nước sông Trà mà vọng về phương Bắc lòng tha thiết nhớ quê...

  • NGUYỄN VĂN VINH                                 Bút kýAi về cầu ngói Thanh ToànCho em về với một đoàn cho vui