Làng Sình hồi sinh

07:55 23/01/2014

Tranh làng Sình (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) vốn là dòng tranh dân gian nức tiếng hàng trăm năm qua. Những ngày Xuân về, làng tranh này lại rộn ràng khoe màu như chưa từng có sự đứt gãy của thời gian.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với nghệ thuật chế tác tranh làng Sình

Màu xưa, giấy cũ

Làng Sình còn có tên gọi khác là làng Lại Ân, nằm ở hạ nguồn sông Hương, phía bên kia là bến Thanh Hà. Đây là một cảng sông nổi tiếng thời các Chúa Nguyễn xây dựng Đàng Trong. Làng Sình không chỉ nổi tiếng với các món võ vật, mà dòng tranh nơi đây từng nức tiếng có thể sánh cùng các dòng tranh dân gian ở phía Bắc.

Bên ấm nước chè xanh, nghệ nhân Kỳ Hữu Phước (65 tuổi), người duy nhất giữ được những mộc bản in tranh được truyền từ hàng trăm năm trước, tâm sự: "Nghề làm tranh thờ cúng vốn đã có từ xưa, đến tôi là đời thứ chín. Không hiểu răng, hễ đến những ngày gần giáp Tết là bà con khắp trong Nam ngoài Bắc tấp nập tìm về làng Sình mua tranh dân gian để thờ cúng ông bà”.

Ngồi trò chuyện cùng ông, hỏi hết những "bí truyền" để chế tác tranh làng Sình, ông say sưa kể như nhà nghiên cứu tranh dân gian thực thụ. Theo ông Phước, nguyên liệu quan trọng làm nên tranh làng Sình là giấy dó cùng những chất liệu màu tự nhiên của cây cỏ, không lẫn bất kỳ hóa chất nào.

Bởi thế nên tranh làng Sình rất "sạch", xưa người dân dùng để thờ cúng rồi đốt đi. Xưa, trước nhà cư dân làng Sình thường có những tấm lưới vuông với nhiều kích cỡ khác nhau. Những người thợ lấy vỏ cây bìa lời bỏ vào cối giã, chắt lấy nước rồi trộn với bột giấy (chất liệu được làm từ cây dó), sau đó quét đều, tráng bằng lên từng vuông lưới.

Hợp chất trên sẽ tạo ra giấy dó. Giấy dó được dùng sò điệp quét lên trên làm cho giấy vừa cứng, không bị thấm ở mặt sau khi tô màu và tạo ra sắc màu óng ánh cũng là nét đặc trưng của tranh dân gian làng Sình.

Cứ tầm tháng 6, 7 Âm lịch, những thanh niên trai tráng trong làng men theo con nước về các vùng Tam Giang, Cầu Hai cào điệp (một loại thuộc họ sò, vỏ phẳng, có màu trắng) mang về bỏ vào tro nung ở nhiệt độ cao rồi bỏ vào cối giã nhuyễn, trộn với bột hồ (bột gạo).

Sau đó, họ dùng chổi kết bằng lá thông quét hợp chất đó lên giấy dó. Bột điệp lấp lánh kết hợp với hồ quết lên giấy dó sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Ông Phước cho biết thêm: "Công đoạn tạo màu tự nhiên cho tranh cũng không kém phần gian nan.

Ngày xưa, chưa có màu công nghiệp như bây giờ, để làm ra vài bộ tranh, có khi mất cả tháng trời, nhưng người trong nghề xem đó là niềm đam mê, niềm vui công việc mình phải theo đuổi".

Các loại màu như: màu đỏ (lấy từ rễ cây vang), màu vàng (lá và hoa cây dành dành), màu cam (gạch mài nhuyễn trộn với da trâu tươi nấu thành keo)..., tất cả các loại cây trên đều được lấy từ vùng rừng núi phía Tây Thừa Thiên - Huế.
Thường mỗi nồi thuốc màu phải nấu đúng 4 ngày 3 đêm mới ra màu đạt chất lượng. Vì thế, đến nay, những bức tranh làm từ giấy, màu tự nhiên ông Phước chỉ làm theo đơn đặt hàng, chứ bán như tranh thị trường không được vì giá thành cao.

Vẽ tranh dưới hầm

Trước đây, làng Sình có hàng chục hộ làm tranh, chủ yếu phục vụ việc thờ cúng của dân làng và dâng lên triều đình phong kiến trong các dịp Quốc lễ. Đến những năm 75 - 80 của thế kỷ trước, nghề làm tranh bước vào "ngõ cụt" khi tranh làng Sình bị quy là một sản phẩm tuyên truyền cho mê tín dị đoan, gây lãng phí.

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước nhớ lại là cả mấy chục hộ trong làng đều bỏ nghề vì bị cấm làm, không có thu nhập. Ông Phước với tâm nguyện muốn giữ lại nghề truyền thống của cha ông, cũng vì kế mưu sinh mà đã tìm mọi cách vượt qua khó khăn giai đoạn này.

Ông tâm sự: "Hồi đó khổ lắm, chỉ làm trong nhà dùng khi có việc thôi, vì đa phần mộc bản đem lên đều mục ruỗng, hư hỏng cả. Tui bàn với vợ con, muốn giữ được nghề, có thu nhập thì phải vẽ tranh dưới... hầm".

Nói là làm, ban ngày ông đào cái hố trước sân nhà, cứ mỗi ngày vài thúng đất, "tích tiểu thành đại", đến khi đường hầm thông ra bên ngoài đã xong, đêm đến, ông cho bắc ván lên trên rồi phủ đất, cán bộ đi kiểm tra không hề hay biết.

Ông Phước cùng vợ và 5 người con "trú” dưới hầm để tiếp tục vẽ tranh, sáng ra, quấn tranh trong người mang đi đến từng nhà bán. Từ dưới lòng đất, với đôi bàn tay tài hoa của nghệ nhân Phước, dòng tranh dân gian làng Sình đã được giữ lại trước sự quên lãng của thời gian.

Không dừng lại ở việc giữ nghề, ông Phước còn cố gắng mở rộng, phát triển, làm cho nghề vẽ tranh làng Sình hồi sinh. Đặc biệt, 5 đứa con của ông đều theo nghề chế tác tranh của cha ông. Nhờ sự cố gắng của ông, từ một vài hộ lẻ tẻ, đến nay đã có 40 hộ trở lại làm tranh.

Kết hợp du lịch

Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước cho biết: "Đến nay, đã có 8 công ty mở các tour du lịch cho khách nước ngoài về với làng Sình để thưởng lãm, mua tranh. Bên cạnh dòng tranh thờ cúng mình vẫn duy trì, chúng tôi còn kết hợp làm thêm tranh trang trí, các bộ lịch bán cho khách phương Tây.

Đây là mặt hàng du khách rất ưa chuộng bởi tính dân dã, mộc mạc". Phương án kết hợp với các tour du lịch tại địa phương đã mang lại hiệu quả cao. Lúc cao điểm như hiện nay, ngoài lao động trong nhà, ông Phước còn phải thuê thêm 20 lao động là những người thợ trong thôn mới làm kịp việc.

Nghệ nhân Phước tâm sự: "Dù đến nay đa phần các tranh vẽ đều dùng màu công nghiệp nên làm nhanh hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là người nghệ nhân đánh mất nét truyền thống của tranh làng Sình. Các bộ tranh Bài chòi, Kéo co nam nữ, Bịt mắt nam nữ, Bốn thế vật... vẫn tuân thủ các kỹ thuật vẽ truyền thống xưa nay của cha ông.

Ngoài ra, chúng tôi còn sáng tạo thêm những bức tranh phản ánh đời sống thường nhật như bộ Xuống vụ, Trò chơi, Bát âm...". Ông Trần Vãng, Phó chủ tịch UBND xã Phú Mậu, cho hay: "Để phục hồi tranh làng Sình, trong những năm qua, địa phương đã lập nhiều đề án giúp làng nghề mở rộng thị trường, thay đổi mẫu mã hướng đến du lịch.

Bên cạnh đó, địa phương cũng tranh thủ nguồn vốn khuyến công của huyện, tạo điều kiện cho bà con vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi. Bằng sự phát huy hiệu quả yếu tố văn hóa bản địa, tranh làng Sình đã thực sự hồi sinh".

Nguồn Doanh nhân Sài Gòn


HỒ NGỌC MINH

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Gần đây có một bộ tranh chân dung của các vua triều Nguyễn được vẽ mới và phổ biến, thu hút được nhiều sự chú ý của người xem. Nếu chỉ thưởng thức các bức vẽ này như những ảnh vui mắt, đầy mầu sắc thì được.

  • Vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và qua đời năm 1820, thọ 57 tuổi. Trong tập Ngự dược nhật ký của châu bản triều Nguyễn, cho thấy những năm cuối đời nhà vua đã mắc bệnh nan y và các ngự y đã phải vất vả để điều trị.

  • “Toàn bộ cuốn sách làm bằng bạc mạ vàng, chỉ có 5 tờ (10 trang) nhưng nặng tới 7 ký, xuất hiện vào thời vua Thiệu Trị (1846), có kích cỡ 14×23 cm..."

  • Khi nói Huế rặt, tôi muốn kể chuyện chỉ có Huế mới có, không lẫn vào đâu được ...

  •  Phó giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Thanh Đạm vừa qua đời lúc 8g15 ngày 2-11 (nhằm ngày 21 tháng 9 Ất Mùi), hưởng thọ 84 tuổi.

  • Đang những ngày mưa ở Huế tháng 10 này, lại nhắc đến mưa Huế, liệu đây có phải là đặc sản của Huế của mùa thu Huế, nhưng Huế làm gì có mùa thu? Hay là mùa thu Huế quá ngắn đến mức nhiều người không kịp nhận ra...?

  • Chiều 30-10,  Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp Hội Khoa học Lịch sử tỉnh và Công ty CP Du lịch và Tiếp thị Giao thông vận tải Việt Nam (Vietravel) tổ chức Hội thảo khoa học “Cung điện Đan Dương thời Tây Sơn tại Huế” diễn ra tại Hội trường UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Di tích Tam Tòa nằm ở góc đông nam bên trong Kinh thành cách bờ bắc sông Hương 300m về phía nam, qua cửa Thượng Tứ. Khu di tích Tam Toà toạ lạc tại số 23 đường Tống Duy Tân, phường Thuận Thành, thành phố Huế.

  • Từ năm 2012 đến nay, Hội Đông y Thừa Thiên-Huế đã tiếp cận và giải mã kho tư liệu châu bản triều Nguyễn đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia 1 (Hà Nội).

  • Xứ Huế không chỉ có các công trình lăng tẩm cổ kính mà còn được thiên nhiên ưu đãi ban cho sự hùng vĩ. Nổi bật trong đó là đầm Lập An với vẻ đẹp say đắm lòng người.

  • Để có thể lực cường tráng, chăn gối viên mãn, ngoài thuốc men tẩm bổ, Minh Mạng còn rèn luyện sức khỏe bằng phương pháp mà ngày nay rất phổ biến.

  • Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên-Huế) không chỉ là hệ thủy vực nước lợ lớn nhất Đông Nam Á mà nơi đây còn có những câu chuyện đầy kỳ bí được ghi chép hoặc truyền miệng từ xa xưa.

  • Đề cao vai trò cũng như trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội, lần đầu tiên tại Huế, cũng là lần đầu tiên ở nước ta, có một tổ chức giáo dục đã nêu rõ quan điểm, lập trường, bảo vệ quyền của người phụ nữ: trường Nữ Công học hội.

  • Ít người biết tượng “ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu bên bờ sông Hương (Huế) lại có liên quan đến nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn.

  • Chiều ngày 19/10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Tạp chí Sông Hương tổ chức buổi giới thiệu hai cuốn sách “Em còn gì sau chiến tranh”  và “Biến cố 182010” của nhà văn Hà Khánh Linh.

  • Ngày kinh đô Huế thất thủ (5/7/1885), không những hàng vạn thần dân bị sát hại mà vô số cổ vật triều đình cũng bị cướp đi, kể cả ống đựng tăm xỉa răng.

  • Sau hơn 140 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại cả kho tàng cổ vật, làm nên phần hồn của di sản văn hóa Huế ngày nay.

  • Chuyên đề Phê bình Nữ quyền là một cố gắng của Ban biên tập nhằm giới thiệu những nét phác thảo ban đầu: “Người viết nữ, giới tính và trang giấy trắng” (Đoàn Huyến) đề cập Cái bẫy giới tính  - giới tính như một cái bẫy êm ái - đã làm hạn chế sức sáng tạo; vậy phải thoát khỏi cái bẫy đó như thế nào? Và có đủ cam đảm để tự “khánh thành mình” như một trang giấy trắng, mà ở đó cô đơn và tự do là những xung lực lạ kỳ để chủ thể sáng tạo có thể thăng hoa? “Những khúc quành của văn học nữ Việt Nam đương đại” (Đoàn Ánh Dương) dẫn dắt bạn đọc đi theo hành trình văn học nữ Việt Nam từ sau 1975 đến nay; xác định những khúc quành: từ sự quy chiếu của diễn ngôn dân tộc qua diễn ngôn dân sự đến diễn ngôn đặt nền tảng ở nhìn nhận về tính cá thể. 

  • Trong hành trình tìm kiếm và quảng bá những điểm đến hấp dẫn của Việt Nam, bằng những phương pháp so sánh, đối chiếu và bình chọn của các đơn vị du lịch, cộng đồng Kỷ lục gia Việt Nam, du khách trong cả nước. Vừa qua, Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã công bố Top 45 điểm đến hấp dẫn nhất ở Việt Nam, trong đó Thừa Thiên Huế vinh dự có 6/45 điểm đến du lịch hấp dẫn được bình chọn.

  • Huế đã trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Ca Huế không chỉ phản ánh dòng chảy lịch sử, di sản này còn là quá trình tinh chế vốn văn hóa dân gian có nguồn gốc từ cội nguồn dân tộc Việt hỗn dung với văn hóa bản địa tạo nên một âm sắc Huế, rất riêng.