Lần giở thơ văn Đào Thái Hanh, sau 90 năm...

15:14 12/01/2023

NGUYỄN KHẮC PHÊ

Mấy năm trước, trong dịp cùng lên thăm vườn An Hiên của bà Nguyễn Đình Chi, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đã giới thiệu cho tôi biết cụ Sa Giang Đào Thái Hanh (thân phụ của bà Nguyễn Đình Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến) có tập thơ "Ái Châu danh thắng" (trong "Mộng Châu thi tập") được các danh nho đương thời đánh giá rất cao.

Cụ Đào Thái Hanh - Ảnh: wiki

“Đọc Mộng Châu thi tập lời lời châu ngọc..." (Đệ nhị giáp tiến sĩ Đào Nguyên Phổ). Tiếc là tập thơ bằng chữ Hán chưa được dịch xuất bản, nên còn ít người biết.

Cuối năm 1995, đúng 90 năm sau khi Đào Thái Hanh viết "Ái Châu danh thắng", tập thơ đã được Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành, với lời giới thiệu và bản dịch của giáo sư Phan Ngọc.

Đào Thái Hanh là một người giỏi chữ Hán và tinh thông Pháp ngữ, nhưng không theo nghiệp khoa cử. Dù vậy, trong 20 năm (từ 1894-1915), bằng sự uyên bác và thông minh, ông đã được thăng tiến từ một viên chức nhỏ lên đến tham tri Bộ Lại (tương đương Thứ trưởng) và cuối cùng là Tuần vũ (tỉnh trưởng) Quảng Trị. Ông bị bệnh và mất ở đây khi chỉ mới 45 tuổi.

Tác phẩm thơ văn ông để lại, ngoài "Mộng Châu thi tập", còn có nhiều bài viết bằng tiếng Pháp đăng trong những số đầu tiên của Tập san "Đô Thành Hiếu cổ" (B.A.V.H.), trong đó có 4 truyện kể lại sự tích các nữ thần Việt Nam. Ông viết các truyện này trong hai năm 1914-1915. Trước đó, năm 1913, khi đang giữ chức tham tri Bộ Lại, ông đã được các nhà nghiên cứu Huế mời làm sáng lập viên Hội Đô Thành Hiếu Cổ. Bốn truyện nữ thần Việt Nam (Sự tích Thiên Y A Na Thánh Mẫu - Thánh mẫu Liễu Hạnh - Sự tích Thánh mẫu Thái Dương Phu Nhơn - Sự tích Thánh mẫu Kỳ Thạch Phu Nhơn) qua bản dịch của Bửu Ý cũng đã được in trong tập sách kể trên. Đây là những truyện lịch sử, vừa có giá trị dân tộc học, vừa có giá trị văn học. Cũng có thể nói đây là những tác phẩm dân tộc học đầu tiên của giới nghiên cứu Việt Nam.

42 bài thơ trong tập "Ái Châu danh thắng" được Đào Thái Hanh viết trong lúc làm tri huyện Nga Sơn (Thanh Hóa), ông đã khăn gói ra đi khắp tỉnh Thanh, tìm hiểu lịch sử và các danh thắng trong vùng, mỗi nơi dừng bước ông đều có thơ. Như vậy, “Ái Châu danh thắng" gần như là những trang nhật ký. Giáo sư Phan Ngọc đã đặt vấn đề: Vì sao những trang nhật ký vịnh cảnh bình thường rất dễ tẻ nhạt này lại khiến các nhà nho lỗi lạc nhất thời đó thán phục? Và ông đã trả lời: Trước hết đó là sự đồng cảm với triết lý phương Đông. Khác với người phương Tây thường coi thiên nhiên là phương tiện, là mục đích để chiếm hữu, cải tạo; trong thơ Đào Thái Hanh, con người là một bộ phận hữu cơ của vũ trụ, tìm đến thiên nhiên là tìm về cội nguồn. "Do đó bài thơ nào cũng hòa quyện vào quá khứ. Quá khứ sống dậy với sức khêu gợi của nó. Cho nên “Ái Châu danh thắng" thực tế là lịch sử Ái Châu đượm sắc thái huyền thoại. Tôi, Sa Giang, có thể làm gì? Tôi nguyện góp phần giảm bớt những khổ đau của dân... Niềm vui của tôi? Một chén rượu, một sự hòa nhập với gió trăng, mây khói. Niềm an ủi đã không làm dân khổ. Có thế thôi. Tôi biết nói cùng ai? Tâm sự ấy, tâm sự Sa Giang, thế hệ sau cần phải hiểu... Tôi dịch thơ Sa Giang, vừa dịch vừa khóc... (Trích lời giới thiệu của Phan Ngọc)

Theo cách "giải mã" của giáo sư Phan Ngọc, mời bạn đọc cùng lần giở "Ái Châu danh thắng"... Sách in không nhiều, tiện đây, xin trích giới thiệu một bài:

XEM ĐỘNG BÍCH ĐÀO ĐỀ Ở VÁCH

Từ Thức đi rồi cảnh xót thay!
Hoa đào, nước chảy khác bao ngày
Mù chăng cửa động đường đi lại
Rêu phủ vách non thơ bấy nay
Thần tiên ẩn nấp đâu tìm thấy
Cây cỏ vô tình chẳng biết hay
Ca nhạc lâu đài đâu có nữa
Hang không ao vắng phủ bèo đầy!

Xin được nói thêm: Sa Giang Đào Thái Hanh đến Nga Sơn lúc 30 tuổi cùng lứa tuổi với quan tri huyện Nga Sơn cách đây vài trăm năm là Từ Thức. Từ Thức rời bỏ thế gian thành tiên, chẳng ai gặp được. Còn Sa Giang, dù có khi tự nhủ "Thẹn mình cốt tục...", hậu thế đã gặp được ông, chia sẻ tâm sự cùng ông qua tập sách này.

Huế, 8.3.1996
N.K.P
(TCSH86/04-1996)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • TRẦN SỬ kể
    HOÀNG NHÂN ghi

    Chiến tranh du kích ở huyện Hương Thủy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã diễn ra với nhiều hình thức chiến đấu đầy tính chất sáng tạo của toàn dân.

  • NGÔ MINH

    Đối với anh em làm thơ, viết văn ở ba tỉnh Bình - Trị - Thiên trong nhiều chục năm qua, nhà thơ Hải Bằng là người không thể quên! 

  • HỒNG NHU

    Tôi biết anh, đọc anh từ trong kháng chiến chống Pháp, nhưng mỗi người một đơn vị công tác, mãi đến năm 1972 mới gặp nhau. Đó là một ngày mùa hè, bấy giờ Đông Hà vừa mới được giải phóng.


  • Sau khi hoàn tất bản thảo tập thơ Độc Hành thì nhà thơ Hải Bằng cũng “độc hành” về chốn vĩnh hằng vào ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • CÁT LÂM

    Bình đẳng giới, nữ quyền, những vấn đề tưởng như mới mẻ ở nước ta nhưng thực chất vấn đề này đã được luận bàn từ những năm đầu của thế kỷ XX.

  • NGUYỄN QUANG HÀ
                   Ghi chép

    Trước, và ngay cả khi vừa giải phóng, vào lúc gần tối, nếu có một người khách nào đón đường gọi xe thồ, xe xích lô xin về làng Thế Lại, thì sẽ bị chủ xe lắc đầu ngay. Bởi chủ xe sợ một điều này: có đi mà không có về. Hoặc ít nhất là cũng về hai tay trắng.

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện Quảng Điền ở mãi dưới sâu, phải mượn địa bàn của xã Phong Sơn huyện Phong Điền làm chiến khu.

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Ngoảnh đi ngoảnh lại, vừa mới đó, vậy mà đã 100 số Sông Hương trình làng.

  • PHẠM HỮU THU
                Ghi chép

    Ngót nửa thế kỷ trôi qua, từ những chàng trai, cô gái giờ họ đã là những ông, những bà.

  • NGUYỄN QUANG HÀ

                            Hồi ký

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Năm 1947 có hai chiến sĩ được cử về công tác tại chiến khu Ba Lòng. Đó là Trần Quốc Tiến, quê Quảng Trị và Hải Bằng, quê Thừa Thiên.

  • BẠCH DIỆP
             Bút ký

    Tôi từng là đứa con nít mê chuyện cổ tích và trò chơi bán đồ hàng. Khi bọn trẻ cùng lứa đánh khăng tập trận, chạy băng vườn cải mụ Tép, vượt rào bứt dưa hấu nhà ông Phường, phá nát ụ rơm cậu Dưỡng, thì tôi vẫn ngồi yên nghe ngoại kể chuyện. Chỉ có trò họp chợ, chơi mua bán với các dì mới rứt tôi ra khỏi ngoại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ
                        Hồi ký

    Mùa mưa 1968 là mùa mưa nghiệt ngã nhất. Sau trận càn lớn chưa từng có lên miền tây Thừa Thiên, địch tiếp tục phong tỏa miền núi bằng biệt kích.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ
                  Ghi chép

    Từ mùa xuân năm ấy đến nay vừa tròn 30 năm, chẳng phải vì con số tròn ba thập kỷ mà tôi nhắc lại chuyện cũ. Chỉ vì từ mùa xuân năm ấy, cuộc đời tôi có một bước ngoặt mới và nhờ có mùa xuân năm ấy, cuốn sách đầu tay của tôi đã ra đời.

  • HỒ THANH THOAN

    Đã gần 34 năm nay chúng ta không còn nghe đến tên Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên nữa, chuyện đã trở về dĩ vãng của một thời vàng son. 

  • CHÂU PHÙ

    Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (1881 - 1968) sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc ở Huế, tinh thông Nho học và chữ Pháp. Cụ cùng Ưng Bình Thúc Giạ Thị thành lập Hương Bình thi xã và giữ vai trò phó soái của thi xã này.

  • LỆ HẰNG
          Bút ký dự thi

    "Bánh lọc em ơi! Bánh mới hấp xong, nóng hổi luôn nì, lấy giùm chị ít chục hí?”


  • NGUYỄN QUANG HÀ
                        Bút ký

  • BẠCH DIỆP
            Bút ký dự thi

    Tôi uống chậm, từng ngụm nhỏ.

  • VIỆT HÙNG
                 

    Tuổi hai mươi tràn trề hoài bão lớn và tuổi hai mươi... Ở thời đại nào cũng được coi là lứa tuổi hồn nhiên trong sáng, ấp ủ bầu nhiệt huyết, khát khao làm được cái gì có ích cho đời.