Khi tác giả Lai rai món Huế đến nhà với tập bản thảo trong tay, thấy tôi đang bưng bê rổ gừng xắt lát, anh nói ngay: “Làm mứt chị nhớ đừng dùng nước máy ngâm gừng, luộc gừng, mà phải dùng nước sông, nước mưa, nước giếng, gừng mới sáng đẹp”!?
Tôi, người nấu bếp ít nhiều lãng tử ở xứ xa, phong thổ còn ngu ngơ, ngớ người, lập tức biết mình đang gặp cao thủ chẳng thua gì một o Huế mô, kể cả những o bạn nổi tiếng nấu khéo, nấu ngon của tôi. Quay qua hủ chao tôi vừa làm, anh bình phẩm ngay: “làm chao phải nấu nước gạo…”.
Thôi tôi biết rồi, mệ Huế mô cũng khó bì được cái sành sỏi, sành điệu của một anh chàng phóng viên ăn dầm, ăn dề, ăn sành, ăn sõi khắp mọi ngõ ngách xứ Huế, vào đến xứ Quảng, trong Nam, rồi ngược ra Bắc, sang đến Quảng Châu bên Tàu thê lận… “Sành” là một tiếng phê trong giới ẩm thực có thể làm nổi cơn ghen nơi những người tưởng mình “sành”…điệu, gây nên một cảm xúc tranh đua, muốn dòm ngó, hấp háy liếc mắt qua tay nghề bên nớ coi họ làm ra răng... Tôi bắt đầu đọc Lai rai món Huế của Thanh Tùng trong tâm trạng ít nhiều cảm tính “ganh ganh” như thế. Và phải nói tôi bỗng nhiên bị thuyết phục không ngờ.
Nếu nói về một quyển sách ẩm thực bài bản theo quan niệm Âu châu, theo đó tôi đã viết vài quyển sách về nghệ thuật nấu ăn châu Á, thì Lai rai món Huế không thuộc loại chuyên nghiệp ấy; không cho chúng ta những “công thức” về các món ăn, như lượng muối, lương thịt, lượng nước mắm…khi nấu một món ăn; cũng không có thực đơn chi li bao nhiêu gam thịt cho bấy nhiêu nguời. Nhưng Lai rai món Huế cho người đọc, nhất là người “sành” nấu, ham nấu, thích nấu, thích ăn, một thứ nhiều hơn, một điều mà một quyển sách về nấu ăn sẽ mất hầu hết tính độc quyền nếu không có, đó là “bí quyết” nấu mỗi một món ăn, sao cho món ấy trở nên tuyệt hảo, dù là trách cá kho khô, hay bát canh bông bí, hoặc chén chè hột sen. Tôi còn nhớ nhà xuất bản sách ẩm thực Graefer &Unzer, một nhà xuất bản sách nấu ăn và nghệ thuật sống có truyền thống lâu năm nhất tại nước Đức, khi đề nghị tôi viết các món ăn, họ chỉ yêu cầu: xin đưa ra nhiều “ngón riêng”, gọi là “mách nước” của chính tác giả nơi mỗi món, như khi làm mì thì dùng loại nước gì để nhào bột, luộc bột cho sợi mì dòn mà dẻo, làm thế nào “phiếu” cho được miếng gừng trắng tươi. v.v...
Tâm lý người đọc thích nhất là đoạn “tip” cho mỗi món sau khi đọc xong kỹ thuật hướng dẫn nấu một món ăn. “Tip” của tác giả là một kinh nghiệm quý báu đến từ mỗi bàn tay người nấu. Cho nên độc giả khi mua sách điều trước tiên thường là xem tác giả có cho những trang “mách nước” hay không. Quý hiếm trong cuốn sách là kinh nghiệm của người nấu khi sử dụng vật liệu, nhiên liệu, nguyên liệu có được trong thiên nhiên để nuôi dưỡng con người.
Lai rai món Huế đã sưu tập được nhiều kinh nghiệm của những “bếp” Huế truyền đời. Và hơn thế nữa, cả một quá trình văn hoá ẩm thực, từ triết lý ăn uống, cho đến văn chương ẩm thực, y học dược học, bách khoa rau quả, cây cỏ liên quan đến bếp Huế. Và ngay cả tình yêu “ăn” như một đạo sống của con người: Canh tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn!
Có thể nói văn hoá đọc trên lĩnh vực ẩm thực nằm ở chính trong sự tìm tòi và học hỏi kỹ xảo riêng của mỗi người nấu, một thứ kinh nghiệm được huân tập trong quá trình “thử lửa” của những người nội trợ khi nấu một món ăn trong gia đình, ngày qua ngày, thế hệ tiếp nối thế hệ làm nên một thứ “gia truyền”, bí truyền như nem Huế, tôm chua Huế, bánh nậm Huế… Lịch sử kinh nghiệm rút từ nhiều nhà có truyền thống ẩm thực, từ tay nghề điêu luyện của từng người nội trợ làm nên một thứ văn hoá đọc và học nghệ thuật nấu nướng, pha chế món ăn thức uống, trong thời hiện đại đã vượt hàng rào “bí truyền” gia đình của thời trước nhờ hiệu quả của truyền thông.
Hơn một cuốn sách dạy nấu ăn ước lệ, Lai rai món Huế cho người đọc trải nghiệm được bản chất của ẩm thực Huế như một bài thơ, bài thuốc ăn ngon ăn lành. Tính văn hoá độc đáo của cuốn sách là ở chỗ “lai rai”, và kiểu “lai rai”. Tưởng như sơ lược, bất chợt thoáng qua, bất ngờ ghé đến một bữa ăn ở nhà, nhưng thật sự là một thứ đắm chìm, say mê món Huế, sùng bái bếp Huế, khi dừng chân ghé đến bếp “gia truyền”, lân la trong không gian văn hoá mỗi nhà, từ chén trà ở bàn khách cho đến khi được ngồi xổm bên bếp lửa học kinh nghiệm của người nội trợ, thấu được tình yêu nhân bản của người nấu, người ăn như một thứ đạo làm người - Bàn tay của người làm bếp luôn được nâng cao biến thành nghệ thuật, thi ca, thẩm mỹ ẩm thực, không chỉ ăn mà còn đạo lý của ăn như “Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi/Gạo de An cựu mà nuôi mẹ già”.
Lai rai món Huế là một sưu tập có chiều kích về không gian và chiều sâu về thời gian của ẩm thực Huế, đem đến cho người đọc sự khám phá sâu hơn về những món ăn cụ thể như tô bún bò, bát cơm hến. Những món điển hình, tưởng ăn là biết. Ngờ đâu sự thú vị lại càng đậm hơn sau khi biết rồi lại càng ưa ăn, như khi được tác giả mách nước: “Ai yếu gì thì mỗi sáng nên tìm hàng bún Huế”.
Lai rai món Huế là một sưu tập quý về “mách nước” thật đa dạng, không thể thiếu trong tủ sách văn hoá ẩm thực Huế.
Huế, Xuân Quý Tỵ
Tiến sĩ Thái Kim Lan
Tải mã QRCode
Món xôi ống tưởng chừng như đơn giản này lại chứa đựng trong nó tất cả tinh hoa miền núi.
Được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT&DL) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1991, nhưng suốt nhiều năm qua, di tích Tuy Lý Vương nằm ở phường Đúc, TP Huế, bị nhiều hộ dân xâm hại một cách nghiêm trọng. Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã vào cuộc, tuy nhiên, do cách xử lý “nửa vời”, thiếu cương quyết nên đến nay, khu di tích này vẫn ở trong tình trạng “kêu cứu” từng ngày...
Ngược lên thượng nguồn sông Hương vào một ngày đầu năm 2014, chúng tôi đến thăm cụ ông Nguyễn Lô (82 tuổi), ở thôn Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, trong một căn chòi tạm bên cạnh lăng chúa Nguyễn Phúc Thái (Vị chúa thứ 5 của triều Nguyễn). Gần 40 năm qua, ông lão đã một thân một mình chống lại những kẻ đào trộm mộ để bảo vệ lăng chúa Nguyễn được vẹn toàn; đồng thời cũng khai hoang đất đồi phát triển kinh tế gia đình…
Kế Môn (Điền Môn, Phong Điền, TT- Huế) là quê hương của hàng ngàn người giàu có trên cả nước và thế giới. Bởi là quê quán của nhiều người giàu nên Kế Môn sở hữu lắm chuyện đặc biệt.
Năm 2010, tôi được về dự đêm thơ Quê Mẹ của nhà thơ Tố Hữu tổ chức tại TP Huế - quê mẹ của ông và có dịp được về thăm quê ông, một làng nhỏ bên dòng sông Bồ trong xanh. Thật thú vị vì đây cũng chính là quê hương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.
Những ngôi nhà vườn, nhà rường cổ ở Huế không chỉ có giá trị về mặt di sản kiến trúc mà còn thể hiện một cách sống động và chân thực nhất về đời sống của người Huế xưa. Nhưng vì nhiều lý do: tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, người dân thiếu tiền trong việc trùng tu bảo tồn …mà giờ đây, những ngôi nhà cổ nguyên bản đặc trưng xứ Huế đang mai một dần.
Ðồng chí Nguyễn Chí Thanh sinh ngày 1-1-1914, tên thật là Nguyễn Vịnh, là một nhà lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Quân đội kiệt xuất; nhà chính trị, quân sự mưu lược, tài trí, dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế. Ðồng chí đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc.
Từ một địa phương không có bệnh viện tuyến tỉnh, mọi hoạt động trong lĩnh vực y tế chuyên sâu chủ yếu dựa vào Bệnh viện Trung ương Huế là chính nên thường xuyên gây ra vấn đề quá tải. Để khắc phục tình trạng trên, thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung nhiều nguồn lực để xây mới 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Đến nay, sau thời gian ngắn đi vào hoạt động, các bệnh viện này đã làm rất tốt công tác khám chữa bệnh, thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị.
Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là “Múa hát cung đình”. Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây. Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều.
Hội đồng chung khảo Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ V đã lựa chọn được 40 tác phẩm, công trình (trong tổng số 45 tác phẩm, công trình do Hội đồng sơ khảo giới thiệu vào xét vòng chung khảo) đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh trao giải thưởng A, B, C.
Bác sĩ Trương Thìn sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.
Với người Tà Ôi ở miền rẻo cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), từ xa xưa, những chuỗi mã não là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng.
Chứa đựng trong mình cả một giai đoạn lịch sử thông qua các di tích, nét trầm mặc cổ kính, điệu hát cung đình Huế âm trầm cùng với sông Hương, núi Ngự… Huế vẫn sừng sững nghiêng mình tồn tại với thời gian qua sự thăng trầm của lịch sử, với thời gian và sự chống trọ trong chiến tranh.
Thời thượng, đâu cũng piano, ghi ta thì có một người vẫn ngày đêm lưu giữ và phục chế hàng ngàn cây đàn cổ quý báu của tổ tiên để lại.
Khi chọn Huế làm đất đóng đô, các vua chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của phong thủy.
Tác phẩm “văn sử bất phân” Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 (Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất, quý 3/2013) của Li Tana, đã được trao giải Sách hay 2013..
Ngày 1-1-2014, chúng ta kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Bí thư T.Ư Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam - Người con ưu tú của đất nước và quê hương Thừa Thiên - Huế, nhà lãnh đạo kiệt xuất, kiên trung, mẫu mực của Ðảng; vị tướng đức tài trọn vẹn, trí dũng song toàn của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Bên tả ngạn của sông Hương, cách thành phố Huế chừng 15 km về hướng tây, có một ngọn đồi người ta quen gọi là “Đồi thiên thần”, nơi nương náu của gần 50.000 thai nhi bị phá bỏ.
Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền.