Tà lục tà lạo, có nghĩa là lộn xộn hay thập cẩm - một món ăn truyền thống đặc trưng của đồng bào Tà Ôi, sống ở huyện vùng cao A Lưới (Thừa Thiên-Huế).
Cháo tà lục tà lạo, món ăn bao đời nay của người Tà Ôi
“Có chi nấu nấy”
Đã nghe nhiều về món cháo tà lục tà lạo nhưng tôi chưa từng được thấy và nếm thử. Với sự tò mò ấy, một dịp lên A Lưới, tôi tìm đến nhà ông Hồ Văn Ninh (65 tuổi, người Tà Ôi), một trong những người nổi tiếng nấu ăn ngon tại đây để tìm hiểu món ăn độc đáo này.
Ông Ninh cho biết cháo tà lục tà lạo là món ăn truyền thống bao đời nay của người Tà Ôi. Món ăn này có nét đặc trưng là gợi nhớ về một thời kham khổ của tổ tiên. Xa xưa, tổ tiên ông còn sống trong rừng sâu, không phải lúc nào cũng săn được thú rừng và hái được trái cây rừng. Những mùa đông lạnh giá khắc nghiệt càng thiếu thốn lương thực. Mỗi thứ chỉ kiếm được một ít, không biết chế biến món gì. Nên người ta liền bỏ tất cả thực phẩm kiếm được vào nấu chung thành một món cháo rồi cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa ăn cho ấm bụng. Từ đó, cháo tà lục tà lạo trở thành món ăn chính của người Tà Ôi. Sau này, khi cuộc sống khá hơn, người Tà Ôi vẫn nấu món này với những nguyên liệu bổ dưỡng hơn. Trong các ngày lễ tết, cưới hỏi, đãi khách quý hay nhà mới... món này không thể thiếu. Vì thế, đồng bào Tà Ôi có câu ca: "Thương nhau dắt nhau về ăn tà lục tà lạo".
“Muốn biết về món ăn này thì cần phải nếm thử nó. Nó ngon, bổ dưỡng và tốt cho tiêu hóa, tốt như bụng dạ người Tà Ôi vậy. Ở đây, ai đau ốm, con nít hay người già thì món này là nhất, vừa dễ ăn lại vừa tốt cho sức khỏe”, ông Ninh nói.
Rồi ông xuống bếp, “trình diễn” cách nấu cháo tà lục tà lạo. Theo ông Ninh, vì đã gọi là tà lục tà lạo nên nguyên liệu để chế biến món ăn do tùy mình chọn lựa. Tuy nhiên, muốn ngon và bổ dưỡng thì phải lựa chọn những nguyên liệu cần thiết cho mùi vị của món ăn. Nguyên liệu chính thường gồm gạo, măng rừng, măng chua, bắp chuối rừng, bí đỏ, bắp non, cà rẫy, đậu đuôi gà và cá nướng... Ngoài những gia vị cần thiết thì tiêu rừng và ớt rừng là thứ không thể thiếu để tăng thêm hương vị cho món ăn. Mỗi thứ bỏ một ít tùy theo khẩu vị mỗi người, thói quen mỗi gia đình.
Vừa lấy củi đốt lửa, ông Ninh vừa nói: “Gọi là cháo nhưng không lỏng như cháo dưới xuôi. Nó đặc quánh gần như cơm, nhưng được nấu nhừ vừa phải, không nhuyễn, vụn nát. Đa số phụ nữ Tà Ôi đều nấu được món ăn truyền thống này”.
Phép thử nàng dâu.
Lấy con cá chép đã làm sạch, ông Ninh đặt lên bếp than nướng chín, thơm phức. Trước đó, ông đã cho gạo và măng vào nồi nấu. Khi nồi cháo sôi chừng 30 phút, ông cho lần lượt nguyên liệu được rửa sạch, thái nhỏ vào, loại nào lâu chín thì cho trước. Riêng cá nướng được lấy hết xương, chỉ róc thịt. Để cháo đặc vừa phải thì nêm muối, tiêu rừng, ớt rừng vào. Sau đó nhỏ lửa để cháo khô dần đến đặc. “Cái gì lâu chín thì bỏ nấu trước, cái gì nhanh chín thì bỏ vào sau. Cá thường được nướng mà không bỏ trực tiếp lên nấu để khỏi bị tanh mà thơm hơn”, ông Ninh nhấn mạnh.
Mùi thơm đã bắt đầu xông vào mũi. Bí đỏ nát nhừ làm màu cháo đượm vàng. Ông Ninh lấy vá múc ra tô mời dùng thử. Thật khó dùng lời để diễn tả hương vị đặc biệt của món ăn này. Bởi sự kết hợp của nhiều nguyên liệu tạo nên hương vị khó tả. Vị ngọt của bí đỏ, bắp non, đậu đuôi gà. Vị chát của bắp chuối rừng. Thơm thơm mùi cá nướng, cay cay của tiêu và ớt rừng... Chỉ cần “ngậm mà nghe” là đủ.
Ông Ninh nói: “Cháo này thường được ăn kèm với muối cá. Muối này làm từ cá nướng được giã mịn và tẩm gia vị rất thơm. Vì thế, cháo được nêm muối vừa phải. Cháo phải nấu từ từ. Cháo sẽ cháy và không ngon nếu thét lửa cho lớn để nhanh chín, nhanh khô. Trong khi nấu phải thường xuyên lấy vá khuấy đều. Nếu không sẽ bén xuống đáy nồi, rất dễ cháy. Cho nên, không ít con gái mới lớn dở khóc dở cười khi nấu món này”.
Chị A Kiêng Hà (người Tà Ôi) nổi tiếng khéo tay và nấu ăn ngon tại thị trấn A Lưới, kể lại rằng lớn lên chị đã được mẹ chỉ cách nấu. Hồi nhỏ, không ít lần chị bị mắng vì nấu hỏng, nấu cháy khiến cả nhà phải nhịn đói đợi mẻ cháo khác. Theo chị A Kiêng Hà, vì cháo phải được nấu đặc nên chỉ cần lơ là sẽ bị cháy ngay. Lửa phải để nhỏ, liu riu, than hồng để rút nước. Khi nấu phải đổ nước vừa phải để cháo vừa chín mà không bị lỏng. Nếu như lỏng, nát nhừ thì coi như món cháo đó không ngon, không thành cháo tà lục tà lạo của người Tà Ôi.
“Con gái Tà Ôi khi mới về nhà chồng mỗi lần nấu cháo này run lắm. Món này thường ăn thế cơm nên nếu cháy thì coi như bữa đó cả nhà phải nhịn. Vì vậy, không ít cô gái lo sợ dẫu rằng đã nấu nhiều lần trước đó. Con gái Tà Ôi sẽ được khen là khéo léo, nấu nướng giỏi nếu nấu món cháo này ngon”, chị A Kiêng Hà cười nói.
Theo Tuyết Khoa (Thanh niên online)
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.