Lê Anh Hoài “tao nhân dị mặt”

14:42 03/09/2025
Lê Anh Hoài là một trong số những “ca” đặc biệt nhất của văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Anh sáng tác trên nhiều thể loại song không gây cảm giác “khó chịu”, bởi với anh, mỗi thể loại là một thể nghiệm, gắn với một kiểu ngôn ngữ riêng, chứ không phải để thể hiện ham hố đa tài.

Với Lê Anh Hoài, trải nghiệm nghệ thuật có thể diễn ra ở bất cứ phương tiện, vật liệu nào, miễn sao biểu đạt được ý tưởng của người nghệ sĩ. Tất nhiên, điều này không đồng nghĩa với tùy tiện, tùy hứng. Lê Anh Hoài thuộc số các nghệ sĩ cực kỳ lý tính và kiên định. Anh không sáng tác để làm vừa lòng công chúng, càng không phải để thông qua kiểm duyệt hay những mục tiêu dân dụng khác. Anh vượt lên để tự do. Tôi cho điều quan trọng nhất làm thành bản sắc Lê Anh Hoài là một thái độ nhất quán với nghệ thuật: nghệ thuật cần phải mới. Và như thế, trên hành trình sáng tạo với đủ thứ bứt phá lạ lùng, mạo hiểm, Lê Anh Hoài đã trở thành một nhân vật đương đại của văn học.

Ai nấy đều biết, giữa sáng tạo cái mới và tâm thế tiếp nhận của công chúng đương thời luôn có một quãng cách, đôi khi là một hố sâu. Điều này thậm chí xảy ra ngay trong chính giới cầm bút. Đây hoàn toàn không phải vấn đề thứ hạng, mà là quan niệm, là sự khác nhau. Thế là, khi mọi người còn đang lẩn quẩn với câu hỏi: “Thế mà là nghệ thuật ư?”, thì Lê Anh Hoài đã đi một quãng đường xa, với đủ thứ lạ lùng, kỳ dị (ít nhất là trong bối cảnh nghệ thuật Việt Nam đương đại). Có thể nói, Lê Anh Hoài là một trong số ít các nhà văn giải phóng triệt để nghệ thuật khỏi tính chức năng, nhấn mạnh tính trò chơi của nó. Xét cả trên bình diện tâm thức và kỹ thuật, Lê Anh Hoài là một nhà văn hậu hiện đại theo đúng nghĩa. Anh không có bước chuyển, mà thuộc về hệ thức này ngay khi cầm bút. Tôi nói điều này không có ý gán cho Lê Anh Hoài một danh xưng “à la mode”, bởi hậu hiện đại là thuật ngữ mà giới nghiên cứu văn học Việt Nam dùng đã trở nên quen từ hàng chục năm qua. Thời điểm này, có lẽ nó đã trở thành một “câu chuyện khảo cổ”.

Lê Anh Hoài truyện ngắn

Truyện ngắn Lê Anh Hoài không nhằm “kể chuyện” mà chủ yếu “biểu đạt”. Do thế, nó không chạy theo cốt truyện tuyến tính hay sự kiện truyền thống. Đọc truyện ngắn Lê Anh Hoài, thấy anh không gia công bối cảnh hay khai thác chiều hướng đường đời nhân vật mà tập trung tái tạo hình hài cho những trạng thái, trạng huống, suy tư. Nhân vật dường như chỉ là những cái bóng, những ký hiệu để các ý tưởng trú ngụ. Cốt truyện và dung lượng truyện ngắn Lê Anh Hoài rất phóng túng. Anh thường khai thác những chi tiết, những chuyện vụn vặt, thậm chí “ba xàm” như bộ râu, đám ma nơ canh, bản thảo bị quên lãng, trái tim trong WC, linga hạ nhục… qua đó dựng nên một thế giới vừa u ám vừa nực cười, vừa bất ổn vừa tất yếu theo một cách phi lý nhất.

Đọc Lê Anh Hoài, thấy điểm nổi bật nhất trong truyện ngắn của anh là sự u ám pha chất trào tiếu và bỡn cợt, tạo nên lối “u mua - đen” đặc thù. Lê Anh Hoài không “phản kháng” hiện cảnh bằng phẫn nộ, mà “cười cợt để sống chung cùng nó”, với tâm trạng “đành vậy thôi”. Lê Anh Hoài cũng thuộc số rất ít các nhà văn giữ được tâm thế bỡn cợt và chơi giỡn xuyên suốt các sáng tác của mình.

Về thi pháp, truyện ngắn Lê Anh Hoài thoát hoàn toàn khỏi mô hình phản ánh, tuy nhiên điều này không mâu thuẫn với việc nó thể hiện rất sâu một tâm thức, hay một nội dung xã hội đặc thù. Trước hết, tinh thần giễu nhại, bỡn cợt, tự nó đã bao hàm một thái độ giải thiêng. Chẳng hạn, Huy chương là sự giải thiêng những thứ bấy lâu được cho là thiêng, con đường tha hóa của một công chức (như bao người), được trình hiện không theo lối bi kịch hóa mà bằng một cái nhún vai trào lộng. Trong Chinh phục, công việc kỳ khu hàng ngày của một viên chức “gộc” là theo dõi nữ đối tượng tình ái của mình, từ đó phát hiện ra quy luật sinh học, như tần suất đi tiểu hay chu kỳ kinh nguyệt, số trứng rụng của cô, đại loại thế. Cuối cùng, anh lấy cô. Câu chuyện xàm xí, “tào lao bí đao” nhưng ẩn chứa bên trong một đời sống đương đại vô cảm, vô nghĩa, vô hồn.

Truyện ngắn Lê Anh Hoài không có đường biên rõ ràng giữa người và vật, giữa vật thật và vật giả, bởi tất cả đều nằm trong thế giới đặc thù - thế giới trò diễn. Trong Trinh nữ ma-nơ-canh, những “con canh” trở thành nhân vật trung tâm, thay thế con người suy tư về xã hội. Việc đổi điểm nhìn mang tính chất như một sự lạ hóa. Ở đây, đồ vật được nhân hóa, còn con người bị vật hóa. Trái tim trong WC lại là một ẩn dụ: tình yêu, cái đẹp bị bào mòn bởi cái tục tĩu, bẩn thỉu. Tương tự với thế giới phi lý trong Trinh nữ ma-nơ-canh, Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo là sự khước từ những thể cách văn học đương thời đã vắt kiệt nghĩa, kiểu những chuyện giật gân, những chuyện diễm tình… Khi các bản thảo lên tiếng cũng là lúc câu chuyện văn chương bắt đầu: nhà văn và quá trình sáng tác, cái chết của tác giả, vấn đề danh hiệu nhà văn, cách đối xử với văn chương, sự rởm hợm của thế giới văn nghệ, sứ mệnh của văn chương… Ở đây, Lê Anh Hoài giễu nhại chính văn chương, phản kháng những công thức nhàm chán của văn chương truyền thống. Trong Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo, nhà văn, tác phẩm, xuất bản trở thành bộ ba nhân vật của “trò chơi” văn chương đầy châm biếm. Câu hỏi đặt ra là, người ta sáng tác văn học để làm gì, vì cái gì, văn học liệu có thể sống sót trong một đời sống hỗn mang, nơi các thang bậc giá trị hoàn toàn bị đảo lộn.

Thế giới trong truyện ngắn Lê Anh Hoài không còn tính hiện thực, trở thành thế giới của ý niệm và diễn ngôn. Có cảm giác, mỗi truyện ngắn Lê Anh Hoài là một truyện ngụ ngôn, một ẩn dụ. Chẳng hạn, bộ râu tượng trưng cho lớp vỏ bọc người ta tạo ra để che đậy, bảo vệ bản thân hoặc để đáp ứng sự mong đợi về một “điều gì đó” của xã hội. Người ta quen với bộ râu giống như quen với thế giới của những vật giả. Nó vốn như một thứ vật ngoại thân, nhưng lại trở thành sự hiện diện có nghĩa, bởi khi không đeo cái vật giả ấy, chủ nhân chẳng còn gì (Bộ râu). 

Lại có thể xem Công ty khai thác và phát triển ngôn ngữ là một truyện kiểu tiếu lâm, mang màu sắc giai thoại. Tác phẩm giễu nhại sự phi lý của xã hội mà ở đó hễ ai đó nói ra điều gì đều phải trả tiền. Ở đây có vấn đề bao cấp phát ngôn, độc quyền phát ngôn, tài trợ cho các khoản phát ngôn (chẳng hạn như miễn phí phát ngôn cho quan chức). Công ty khai thác và phát triển ngôn ngữ hàm chứa những ẩn dụ về văn chương, tự do sáng tạo, văn sĩ độc lập, văn sĩ quốc doanh…

Có thể nhận thấy, Lê Anh Hoài luôn viết trong trạng thái tỉnh táo và phản tỉnh, ngay cả khi anh chủ ý thiết tạo thế giới văn chương như một trò diễn. Truyện ngắn Lê Anh Hoài thường đặt nghệ thuật vào câu chuyện trung tâm, nghệ sĩ là kẻ mộng tưởng, vừa khát khao vừa bế tắc, vừa sáng tạo vừa giả tạo. Trong Nỗi sợ và những khuôn hình, mỗi truyện có một khung riêng, phản chiếu những ý niệm khác nhau về thân phận nghệ sĩ và vai trò của nghệ thuật trong xã hội.

Thế giới Nỗi sợ và những khuôn hình đây đó cũng biểu đạt về hiện cảnh đời sống, lịch sử và đôi chút nỗi niềm nhân tâm thế sự nhưng trên hết và nổi bật hơn cả đó là những câu chuyện về nghệ thuật được thể hiện trong một “câu truyện nghệ thuật”. Bằng bút pháp trào lộng và thủ pháp nhại, giễu nhại đặc trưng, Lê Anh Hoài đã trình hiện một thế giới độc đáo, đặc dị của nghệ sĩ, của nghệ thuật với những phức cảm đa chiều: khát khao và mộng tưởng, ám ảnh và bế tắc, sự vùng vẫy cô độc trong các ý tưởng sáng tạo và cả những trò vè lố bịch, sự nhếch nhác, rởm hợm của nghệ sĩ, sự giả hiệu của cái gọi là sáng tạo và trình diễn nghệ thuật. Anh cũng đặt ra các vấn đề chung về nhận thức nghệ thuật, cảm thụ nghệ thuật, đám đông với nghệ thuật...

Như đã nói, truyện ngắn Lê Anh Hoài không chú trọng vào tính “chuyện” hay sự kiện, mà giống như một ý niệm, nghiêng về biểu đạt hơn là mô tả. Lê Anh Hoài có lối viết tỉnh táo, thông minh, ngay cả khi tác giả thâm nhập rất sâu vào những mê lú của nghệ thuật và nghệ sĩ bằng bút pháp kỳ ảo và sự trùng điệp của siêu hư cấu. Nhân vật phản tỉnh ở đây chính là người trần thuật, nhưng thường là một người trần thuật uể oải chán chường.

Điều độc đáo là, truyện nào của Lê Anh Hoài cũng ẩn chứa một nụ cười. Ngay khi diễn tả cái chán chường uể oải, sự tuyệt vọng cùng cực thì giọng điệu chủ đạo vẫn là trào lộng, bỡn cợt, cho dù đây đó có phảng phất một chút cay đắng, xót xa.

Có thể xem truyện ngắn của Lê Anh Hoài là một thể nghiệm mới mẻ, đầy lý tính và tinh thần phản tỉnh về nghệ thuật của một nghệ sĩ luôn đầy ắp ý tưởng sáng tạo và rất nhiều khi bị mắc kẹt giữa chúng.

Lê Anh Hoài tiểu thuyết

Cùng với truyện ngắn, tiểu thuyết Lê Anh Hoài thể hiện một kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo. Chuyện tình mùa tạp kỹ (2007) gồm 49 hồi, mỗi hồi mở đầu và kết thúc bằng hai câu thơ, tạo nên một cấu trúc chương hồi cổ điển, bản chất là nhại chương hồi (“Giáo sư về hưu soạn bí kíp làm tình/ Giải quyết nhà đất, tìm ra cách thẩm định phụ nữ”; “Đại họa sư sợ chính tranh của mình/ Tiềm ẩn nguy cơ thất truyền giống đực”)… Chuyện tình mùa tạp kỹ gắn với các đoạn văn, mẩu thơ, nhật ký, tin báo, phiếm luận, bình luận đan xen, thể hiện sự phân rã cảm xúc và sự hỗn độn của đời sống đô thị đương đại. Tác giả không ngần ngại mời gọi: “Trong cuốn sách này, có những khoảng trắng (trống), bạn có thể viết, vẽ, cắt dán… tùy tâm (thích, thú, sướng). Có thể điều đó làm cuốn sách của bạn đẹp hoặc hay hơn. Tôi mong điều đó”. Kết thúc tiểu thuyết là một vở “bi - hài kịch nhân gian” 14 lớp mang tên Tìn êu. Ở đó, “các diễn viên phải giữ được tâm thế diễn pha trộn hai khuynh hướng chính: nghiêm túc như Nhà hát Tuổi trẻ diễn kịch Lưu Quang Vũ và ủy mị, chua xót theo kiểu cải lương Lan và Điệp trước 1975”. Chuyện tình mùa tạp kỹ sử dụng thuần toàn giọng văn “không nghiêm túc”, chính xác hơn là bỡn cợt, giễu nhại để thiết dựng câu chuyện đời sống, xã hội, yêu đương, tình dục rất đỗi “tào lao” của tầng lớp trí thức trung lưu, kiểu: “GS Lương đang biên soạn một cuốn sách chứa đầy các bí quyết làm tình chữa bệnh dưỡng sinh”. Kể chuyện bằng “tạp kỹ”, Lê Anh Hoài sử dụng những câu chuyện tình vụn vặt, những nhân vật lạc lõng và kiểu ngôn ngữ cà chớn nhằm tạo nên một bức tranh xã hội vừa vụn vỡ, vừa “phong nhũ phì đồn”. Tác phẩm thể hiện rõ tinh thần hậu hiện đại qua việc phá vỡ các quy phạm thẩm mỹ truyền thống, kết cấu phân mảnh, phi tuyến tính. Tác giả không cung cấp một cốt truyện rõ ràng mà để người đọc tự kết nối và chắp vá các mảnh vụn của câu chuyện, tạo nên một trải nghiệm đọc độc đáo và đương nhiên, nhiều thách thức.

Vườn thượng uyển (2021) của Lê Anh Hoài là một tiểu thuyết giễu nhại toàn triệt với 227 trang, 60 phân đoạn dài ngắn khác nhau. Theo một nghĩa nào đó, các phân đoạn này có thể được tách ra/tháo rời để xuất bản như những truyện ngắn độc lập (thực tế 3 trong số chúng đã được in riêng trong tập Nỗi sợ và những khuôn hình). Tuy nhiên, nhìn tổng thể, Vườn thượng uyển không phải một cuốn sách lắp ghép tùy hứng, mà có cấu trúc rõ ràng. Tính giễu nhại trong đây không chỉ là hình thức, mà trước hết, là một thái độ, hay nói đúng hơn, một kiểu bỡn cợt đặc thù. Khác với trong Chuyện tình mùa tạp kỹ, tập trung vào cái nhảm nhí của xã hội, Vườn thượng uyển lại tập trung vào câu chuyện nghệ thuật với tất cả sự nhảm nhí đến tận cùng của nó.

Trước hết là nghệ sĩ. Trong Vườn thượng uyển, nghệ sĩ chủ yếu hiện ra như những “con bệnh”, nhếch nhác, lố bịch, ba xàm. Nhà văn đôi khi, theo một cách châm biếm, đã vật hóa, thậm chí “cứt hóa” kiểu nhân vật này, trở thành những hình tượng mang tính ẩn dụ (“chó xồm”, “ngỗng cái”, “dê cái vú sệ”, “mèo xù lông tơi tả”, “chó mặt buồn”, “họa sỹ Cứt”…). “Thành phố nghệ thuật” là một ẩn dụ bi hài về những lạm phát nghệ thuật trên tất cả các khâu: sáng tác, biểu diễn, xuất bản, môi giới... Vườn thượng uyển giễu nhại thơ ca, tiểu thuyết, các thực hành, thử nghiệm nghệ thuật, sáng tác và kiểm duyệt, danh hiệu nghệ sĩ, hội đoàn (“cuồng quốc thơ”, “chỉ tiêu sáng tác”, “giải thưởng thiếu i-ốt”, “Nghi lễ hóa thơ dâng thánh của Hội thơ Vĩnh Cửu”, trình diễn thơ, thả thơ…). Dưới cái nhìn đậm chất trào lộng, sắc sảo và tinh quái (của một kẻ thạo nghề, ưa bóc mẽ), nghệ thuật và nghệ sĩ hiện ra với tất cả sự tầm thường, nhố nhăng và quái đản của nó.

Nhưng tác giả Vườn thượng uyển không đứng ngoài để giễu nhại, mà còn viết trong tâm thế tự nhại, tự trào (trên một ý nghĩa nào đó, có thể xem Hàm như một hóa thân của nhà văn). Với cách thể đó, Lê Anh Hoài biến Vườn thượng uyển trở thành một thế giới chơi giỡn/thế giới của sự chơi (thử tưởng tượng, nếu chỉ có một chút hằn học thôi, tác phẩm sẽ gây phẫn nộ hoặc đụng chạm biết chừng nào). Tuy nhiên, trong sáng tác của Lê Anh Hoài, đằng sau tiếng cười luôn là một suy tư đích đáng về nghệ thuật. Trong những “khuôn hình” và “cái kén”, người nghệ sĩ chân chính luôn vẫy vùng và dường như mắc kẹt trong các ý tưởng sáng tạo. Nếu có đục kén chui ra thì anh ta cũng không vượt thoát được bởi chính những giới hạn của mình.

Lê Anh Hoài thơ

Thơ Lê Anh Hoài xa lạ với cấu trúc truyền thống về vần luật, nhịp điệu hay đặc tính trữ tình. Thay vào đó, những bài thơ của anh giống như một chuỗi liên tưởng ngẫu hứng, giễu nhại, cắt dán và pha trộn thể loại. Một bài thơ có thể giống như bản ghi chép, nhật ký, đối thoại, thậm chí mang hình thức thị giác như thơ trình diễn, sắp đặt.

Mảnh mảnh mảnh (2012) của Lê Anh Hoài là một tác phẩm đậm chất thử nghiệm theo tinh thần hậu hiện đại, nổi bật với phong cách đa ngữ, ấn tượng thị giác và những ý tưởng độc đáo. Nếu văn hóa là hệ thống ký hiệu thì ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu quan trọng nhất của văn hóa. Ý thức về điều đó, Lê Anh Hoài chọn 5 dạng ngôn ngữ: tiếng Kinh và chuyển ngữ sang ngôn ngữ các dân tộc thiểu số: Khmer, K’Ho, Lô Lô và chữ Nôm, mục đích là để tôn vinh ngôn ngữ ngoại vi. Anh lý giải, “mọi thứ ngôn ngữ vốn đều bình đẳng, vậy tại sao không tìm đến những cộng đồng gần mình nhất?”.

Mảnh mảnh mảnh được thiết kế/sắp đặt theo kiểu tác phẩm thị giác: bìa đen trắng nổi bật, bố cục công phu, sự hòa trộn các phông chữ khác nhau thành hình khối độc đáo. Dưới bề ngoài giống như một trò chơi, Mảnh mảnh mảnh lại thể hiện một thái độ nghiêm túc của tác giả: sự trân trọng con chữ, trân trọng văn hóa bản địa, cái ngoại vi, bên lề, yếu thế. Tác giả chia sẻ, với số lượng 16 bài thơ và trong một năm, chỉ bán được một cuốn duy nhất, đó là một kết quả rất tệ, song anh quyết tâm “vô vọng nhưng vẫn lội ngược dòng”.

Về thơ, phần độc đáo và gây sự nhất của Lê Anh Hoài, có lẽ (theo cách gọi của anh) là “thơ ghi chép”. Ghi chép là viết lại, chép lại những điều mình nhìn thấy, nghe thấy. Thơ ghi chép được hiểu là kiểu thơ mang tính tường trình, tường thuật trực tiếp những khoảnh khắc, phân đoạn, hiện tượng, vấn đề của đời sống. Ở đây, thay vì trữ tình, Lê Anh Hoài “bắt quả tang” hiện cảnh đương đại ở phần thô nhám, mang tính thời sự nhất, rồi ghi lại như một bản “hồ sơ” hay “biên bản” (nhưng không có kết luận) về xã hội và con người: “em phấn đấu thành người cần thiết trong một hệ thống chữ nghĩa vừa trở thành không cần thiết/ ta giảm biên nhà chùa/ sáp nhập đền đài/ tinh giản hòm công đức/ dòng tiền/ anh cờ tướng/ em cờ vây/ chấp gì cờ vua lây nhây/ cái chết/ kết trái/ nặc nô đòi nợ duyệt sách dạy đời/ quản đốc xưởng may duyệt bài in báo/ thi nhân tiếc lúc vào đời không học ngân hàng” (Ghi chép cuối xuân 174).

Bởi tập trung vào những hiện cảnh u ám, thơ ghi chép của Lê Anh Hoài thường gợi ra cho bạn đọc cảm giác tuyệt vọng, chán chường nhưng cũng từ đó bắt người ta phải liên hệ, truy vấn. Sự thiếu hụt tính chất trữ tình được bù lại bằng thái độ tỉnh táo, trạng huống thưởng thức được thay bằng quan sát, phản biện, suy tư: “trong một thế giới thuần túy giao dịch/ những khẩu phần cảm xúc đông lạnh/ những tin tức có thể làm thối não/ những miệng cười đầu độc từ điểm chốt thần kinh/ đi ra chỗ nào đi vào chỗ ấy/ phượng hoàng ba cánh bay ra từ trong căn phòng cũ nát (…) rồi cũng tàn ngày hân hoan rừng rực đỏ/ trở lại ngày lo lắng tre xanh/ ta làm chủ/ em làm trụ/ con đường/ cương đòn/ kịch tính/ kích tình/ em đẹp như một bài bình giảng/ do trí tuệ nhân tạo làm ra” (Ghi chép đầu hạ 175).

Ngôn ngữ và giọng điệu thơ ghi chép của Lê Anh Hoài mang tính đối thoại/ đối chọi cao, thông tục, tối giản, trần trụi, đôi khi mang tính cà chớn và gây sự, rất gần ngôn ngữ văn xuôi: “như một ngày đầu đông/ ghé về thăm ngày lập hạ/ nàng bân mải miết đan nốt chiếc quần lót cho chồng/ đi tiếp cuộc trường diễn mãi võ nước sông/ ta khóc cho những thành phố lưu vong/ thoát xác/ phân ly/ giải ngã chính mình… em về đầu ngõ/ tự hào/ ta về cuối xóm/tự tr/chào rồi/ câm/ ta/ mối nguy hiểm cho cuộc tình/ đã chết/ trước khi em đọc lệnh khởi tố” (Ghi chép đầu hạ 176).

Lê Anh Hoài sáng tác đa dạng trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, tiểu thuyết, làm thơ, vẽ tranh, trình diễn nghệ thuật. Ở lĩnh vực nào, anh cũng thể hiện sự phá cách hòng vượt ra khỏi những đường biên, những giới hạn để đến với chân trời tự do. Sáng tác của Lê Anh Hoài giàu tính thể nghiệm, tính trò chơi nhưng không ngừng truy vấn nghiêm túc về các vấn đề xã hội, con người, về quan hệ cá nhân và cộng đồng, quốc tế và bản địa, trung tâm và ngoại vi. Có thể nói, Lê Anh Hoài là nghệ sĩ đa năng và giàu sáng tạo bậc nhất trong đời sống văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Ở lĩnh vực nào, Lê Anh Hoài cũng mang dấu ấn và thành tựu của một nghệ sĩ tiên phong.

P.G.T
(TCSH438/08-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • VỌNG THẢO(Đọc “Quỷ trong trăng’ của Trần Thuỳ Mai)Đối với người cầm bút, trong những ý niệm thuần khiết nhất của trí tưởng tượng, mỗi người đều có những nhận thức và ám ảnh khác nhau. Riêng Trần Thuỳ Mai, ý niệm thuần khiết trong trí tưởng tượng của chị là một bến bờ xa vắng, nơi ẩn chứa những hạn cuộc huyễn hoặc và khát khao tận cùng trước giả, thật cuộc đời. Đó cũng là điều chị đã gửi gắm trong tập truyện mới: “Quỷ trong trăng” (NXB Trẻ - 2001), tác phẩm văn xuôi được giải tặng thưởng hàng năm của Liên hiệp Hội VHNT Thừa Thiên Huế.

  • NGUYỄN THỊ LÊ DUNGBao đời nay, thơ vẫn là một hằng số bí ẩn bảo lưu chất trẻ thơ trong tâm hồn con người. Nó gắn với đời sống tâm linh mà tâm linh thì không hề có tuổi, do vậy, nên dù ở chu kì sinh học nào, người ta cũng sống với thế giới thi ca bằng trái tim không đổi màu.

  • TẠ VĂN SỸĐọc tập thơ CÁT MẶN của LÊ KHÁNH MAI, NXB Hội nhà văn - Hà Nội 2001

  • LÊ THỊ MỸ ÝĐọc tập truyện ngắn "NGƯỜI ƠI" - Lê Thị Hoài - NXB Thuận Hoá 2001

  • HỒNG DIỆUVâng. Thơ của nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) viết ở Huế, trong đó có thơ viết về Huế và thơ viết về những nơi khác.

  • HÀ VĂN LƯỠNGBài viết này như là một nén nhang tưởng niệm nhà văn Aitmatov vừa qua đời ngày 11-6-2008)

  • UYÊN CHÂU(Nhân đọc “Mùa lá chín” của Hồ Đắc Thiếu Anh)Những ai từng tha phương cầu thực chắc chắn sẽ thông cảm với nỗi nhớ quê hương của Hồ Đắc Thiếu Anh. Hình như nỗi nhớ ấy lúc nào cũng canh cánh bên lòng, không dứt ra được. Dẫu là một làn gió mỏng lướt qua cũng đủ rung lên sợi tơ lòng: Nghe hương gió thổi ngoài thềm / Trái tim rớm lệ trở mình nhói đau (Đêm nghiêng).

  • LGT:Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) người Áo, sinh tại Praha, đã theo học tại Praha, Muenchen và Berlin triết học, nghệ thuật và văn chương, nhưng không hoàn tất. Từ 1897 ông phiêu lưu qua nhiều nước Âu châu: Nga, Worpswede (Ðức) (1900), Paris (1903) và những nước khác trong và sau thời thế chiến thư nhất (Thụy sĩ, Ý…). Ông mất tại dưỡng viện Val-Mont vì bệnh hoại huyết.

  • Giới thiệu tập thơ đầu tiên của anh Khúc ru tình nhà thơ Ngô Minh viết: “Toàn từng làm thơ đăng báo từ trước năm 1975. Hơn 20 năm sau Toàn mới in tập thơ đầu tay là cẩn trọng và trân trọng thơ lắm lắm”.

  • 1. Trước khi có cuộc “Đối thoại với Cánh đồng bất tận” trên báo Tuổi trẻ tháng 4. 2006, Nguyễn Ngọc Tư đã được bạn đọc biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, giải Nhất trong cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi XX (lần 2) năm 2000, được tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000, giải B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001…

  • Nhân ngày 9/5 chiến thắng phát xít Đức.

  • ...Đưa người ta không đưa qua sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng?...

  • Những năm đầu sau ngày miền giải phóng, có mấy lần nhà thơ Xuân Diệu vào các tỉnh Nam Trung Bộ và dừng ở Nha Trang ít ngày. Đến đâu Xuân Diệu cũng nói chuyện thơ, được người nghe rất hâm mộ, đặc biệt là giới trẻ.

  • Có nhiều khi trong đời, “trôi theo cõi lòng cùng lang thang” như Thiền sư Saigyo (Nhật Bản), bất chợt thèm một ánh lửa, một vầng trăng. Soi qua hương đêm, soi qua dòng văn, soi qua từng địa chỉ... những ánh lửa nhỏ nhoi sẽ tổng hợp và trình diện hết thảy những vô biên của thế cuộc, lòng người. “Trong mắt tôi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã là ánh lửa ấy, địa chỉ ấy.

  • 1. Kawabata Yasunari (1899 -1972) là một trong những nhà văn làm nên diện mạo của văn học hiện đại Nhật Bản. Ông được trao tặng giải Nobel năm 1968 (ba tác phẩm của Kawabata được giới thiệu với Viện Hoàng gia Thụy Điển để xét tặng giải thưởng là Xứ Tuyết, Ngàn cách hạc và Cố đô).

  • (Thơ Đỗ Quý Bông - Nxb Văn học, 2000)Đỗ Quý Bông chinh phục bạn hữu bằng hai câu lục bát này:Đêm ngâu lành lạnh sang canhTrở mình nghe bưởi động cành gạt mưa.

  • Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.

  • Kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà văn Nam Cao (30.11.1951-30.11.2001)

  • Có một con người đang ở vào cái tuổi dường như muốn giũ sạch nợ nần vay trả, trả vay, dường như chẳng bận lòng chút nào bởi những lợi danh ồn ào phiền muộn. Đó là nói theo cái nghĩa nhận dạng thông thường, tưởng như thế, nơi một con người đã qua "bát thập". Nhưng với nhà thơ Trinh Đường, nhìn như thế e tiêu cực, e sẽ làm ông giận dỗi: "Ta có sá gì đi với ở".

  • Nhà thơ Trinh Đường đã từ trần hồi 15g10’ ngày 28.9.2001 tại Hà Nội, thọ 85 tuổi. Lễ an táng nhà thơ đã được tổ chức trọng thể tại quê nhà xã Đại Lộc huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng , theo nguyện vọng của nhà thơ trước khi nhắm mắt.