Ký ức về nghề làm ghe thuyền của người Dã Lê

09:11 12/12/2013

Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền. 

Nhiều người, ắt hẳn đã biết về một đoạn trong sách Phủ Biên Tạp Lục của cụ Lê Quý Đôn (1726 - 1784) có viết rằng: Dã Lê đan gót và làm mui thuyền (mũi thuyền). Có thể, ngày xưa, cụ Lê Quý Đôn chỉ viết ngắn gọn như vậy và chỉ lấy một công đoạn làm thuyền để nói về cái nghề truyền thống của Dã Lê (bao gồm cả làng Dã Lê Chánh ở Thủy Vân và Dã Lê Thượng ở Thủy Phương). Thế nhưng, theo các cụ già trong làng kể lại, làm ghe thuyền, quan trọng nhất chính là làm cái mũi, cái lái. Bởi thuyền, ghe đi nhẹ hay không, có nổi tốt trên nước hay không là nhờ kỹ thuật lận mui (làm mũi) thuyền. Cho nên cũng có thể hiểu rằng, cụ Lê Quý Đôn lấy cái cơ bản, cái quan trọng nhất để nói cái tổng thể của nghề vậy!

Trong ký ức vụn vặt của mình, tôi còn nhớ khi nhỏ, mệ nội tôi có 2 chiếc ghe. Mỗi lần chuẩn bị đến vụ lúa mới, mệ nội lại gọi mấy đứa cháu đi tát nước trong ghe ra, nâng ghe lên mặt nước hói. Sau đó, mệ đi gọi thợ tới sửa chữa ghe. Người thợ hay sửa ghe cho mệ nội tôi là ông Nguyễn Công Hối, ở gần nhà. 

Như thường lệ, ông mang theo nào là khoan (loại khoan kéo bằng cách xoắn dây), đục, bào … Ông nói mệ nội tôi đi mua các loại dây cước, dây mây và ít vỏ cây tràm (loại tràm có vỏ xốp xốp, có khả năng chống thấm nước). Sau đó, ông Hối cắm cúi chèn mấy tấm đệm lót giữa các tấm ván ghe. Những tấm đệm bằng gỗ thầu đâu (cây xoan, còn gọi là sầu đông), mềm, nhẹ, không bị mối mọt. Nghĩ cũng lạ, ngay cả các loại hà cũng hầu như không ăn được nó.

Rồi ông Hối lại dùng một cái đục không sắc, vừa nhét vỏ tràm vừa gõ nhẹ để chèn vỏ tràm vào những khoảng trống giữa tấm đệm và ván thuyền. Làm đến đâu, ông nấc dây mây hoặc dây cước đến đó. Dây cước được nấc theo kiểu xoắn chân rết. Đại khái là thế. Cho đến khi nào ông kiểm tra nước không thấm vào ghe được nữa là xong.

Gần 20 năm trước, trong làng Dã Lê Thượng, ngoài ông Hối ra, còn có nhiều thợ làm ghe, thuyền và cả sửa chữa nữa như ông Dương Văn Khá, ông Trần Văn Lớn, ông Trương Văn Tê và mấy thợ ngoài xóm Lợi Nông nữa. Khi những chiếc xe công nông chưa phổ biến, những chiếc xe tải hạng nhẹ chưa ra tới các cánh đồng thì ghe, nôốc (thuyền nhỏ) là phương tiện vận chuyển lúa chủ yếu của người làng nói riêng và hầu hết các làng có làm ruộng ở đồng bằng nói chung. Vì thế, những người thợ nói trên gần như không làm hết việc mỗi khi vụ mùa cận kề.

Bên cạnh những người làm, sửa chữa ghe, thuyền bằng gỗ, còn có những người chuyên đan ghe tre. Ngày trước, người có tiền thì đóng ghe, thuyền bằng gỗ, không có tiền hoặc ít tiền thì thuê lận (đan) một chiếc ghe tre. Theo ông Dương Văn Thọ, kiểu đan chiếc ghe cũng như đan một tấm gót vậy. Có lẽ, ngày xưa, các loại ghe đan bằng tấm tre nứa cũng có cách thức đan như đan tấm gót và người làng nói riêng, người Việt chúng ta nói chung, đã phát triển kỹ thuật đó thành kỹ thuật đan ghe bằng tre nứa.

Khi đan xong tấm phên của chiếc ghe, người thợ sẽ chọn 2 cây tre dài và có thân to để chặt và chẻ đôi 2 cây tre đó. Rồi đục lỗ ở 2 đầu sao cho chiều dài tấm phên sẽ dài hơn khoảng cách của 2 đầu có đục lỗ cặp cây tre. Bằng cách kẹp, rồi níu, rồi nống bằng các thanh tre ngắn khác ở đoạn giữa, người thợ tạo dáng một chiếc ghe. Rồi cặp, lận các góc tấm phên sao cho ăn khớp với bộ nẹp của nó. Sau khi phơi một thời gian cho khô hẳn tre (tấm đan, thanh nẹp …), người thợ sẽ tiến hành quết dầu.

Ngày xưa, khi chưa có loại dầu hắc (nhựa đường), người thợ dùng dầu rái lấy từ cây rái trên rừng về, hoặc loại nhựa từ cây sơn, để quết lên chiếc ghe. Ban đầu, người thợ quết ở bên ngoài ghe một lớp thật dày, sau đó, phơi ghe vài ba ngày. Tiếp theo lại lật ghe lại và quết bên trong. Phơi tiếp mấy ngày. Sau đó lại làm quy trình cũ, cho đến khi nào cảm thấy dầu ngấm đủ để bảo vệ chiếc ghe thì thôi.

Ngày nay, sự phát triển của các phương tiện cơ giới và xe cộ có thể ra đến tận chân ruộng, thì những chiếc ghe, thuyền dần ít được sử dụng. Những người thợ xưa cũng dần vắng bóng. Những người đã khuất thì có lẽ cũng chưa kịp truyền nghề cho học trò, học trò thì có lẽ cũng ít nhớ về những kỹ thuật mà thầy mình đã truyền dạy. Dù có nhớ, họ cũng không có nhiều cơ hội thể hiện tay nghề. Có lẽ vậy, cả làng Dã Lê Thượng chỉ còn 2 người có thể đan được ghe tre. Trong đó, có ông Dương Văn Thọ ở xóm Bến Chợ, nay là tổ 1 phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy.

Dẫu ít, nhưng sự đoạn tuyệt của một nghề được ghi lại đã gần 300 năm trong sách cổ đã cho thấy một nghề thủ công truyền thống có bề dày của Dã Lê nói riêng và vùng đất Hương Thủy nói chung. Trong tiến trình phát triển ngày nay, có thể, những chiếc ghe, nôốc ít hữu dụng, tuy vậy, ở vùng đất từng có kênh, hói nhiều như Hương Thủy, những phương tiện đó đã góp phần đưa người đi khai phá thưở ban đầu khai hoang lập ấp./.

 


Đình Đính
 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Chiều 3/10, chiếc xe kéo của Hoàng thái hậu Từ Minh, mẹ vua Thành Thái chính thức được chuyển vào Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp để chuẩn bị đưa về Việt Nam. 

  • Đèo Hải Vân nằm trên dãy Trường Sơn, ở ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế (phía bắc) và TP.Đà Nẵng (phía Nam). Đây là con đèo hiểm trở nhất dọc tuyến đường bắc nam, do có vị trí địa lý hiểm yếu, bởi kiến tạo địa chất của dãy núi cắt ngang đất nước, từ biên giới phía Tây tới sát biển Đông.

  • Cứ đến gần cuối năm, khi lúa trên rẫy đã đến độ chín vàng. Trời đông cũng đang se sắt lạnh, sương trắng bồng bềnh bay trên đỉnh núi A Túc là lúc mà toàn thể dân làng dù là tộc người Pacôh, TàÔi, Cơtu hay Pa hy.

  • Là điểm du lịch nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế, Bạch Mã có rất nhiều nơi để tham quan như: Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài với vẻ đẹp của núi trời như một bức tranh thủy mặc.

  • Sau chiến tranh, gần 2/3 trong tổng số gần 300 công trình kiến trúc nghệ thuật cung đình của cố đô Huế trở thành phế tích, số còn lại trong tình trạng hư hại, xuống cấp nghiêm trọng. Cùng với việc nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã mở cuộc vận động bảo vệ di tích Huế và đạt kết quả to lớn.

  • Được xây dựng cách đây hơn 400 năm với bao biến động nhưng chùa Thiên Mụ vẫn giữ được vẻ uy nghi, thanh tịnh và cổ kính bên dòng sông Hương...

  • Không nơi đâu người phụ nữ lại thích mặc áo dài như ở Huế. Thậm chí, chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của các cô gái Huế. Điều đó đã làm cho  du khách khi đến với Huế nhiều khi phải ngẩn ngơ khi có dịp được ngắm nhìn, chiêm ngưỡng.

  • Thời 13 vua Nguyễn (1802-1845) trị vì triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam đóng kinh đô tại Huế đã ghi nhận một số hoạt động khá phong phú của ngựa, dù thời này ngựa ít được dùng vào hoạt động quân sự.

  • Trong tất cả các triều đại phong kiến, duy nhất ở cố đô Huế có Bình An Đường là nhà an dưỡng và khám, chữa bệnh đặc biệt chỉ dành riêng cho các thái giám, cung nữ (thời vua nhà Nguyễn).

  • Huế, miền đất cố đô nằm ở miền trung Việt Nam, vẫn được biết đến như một thành phố thơ mộng và lãng mạn.

  • Đối với di sản văn hóa của dân tộc, tài liệu châu bản là một di sản có giá trị lớn. Đó là ký ức của lịch sử, là nguồn sử liệu gốc có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đều không còn lưu giữ được nguồn tài liệu quý báu này, trừ triều Nguyễn (1802-1945), do những điều kiện lịch sử đặc biệt.

  • Hình ảnh thiên nhiên, con người và những lăng tẩm đền đài của xứ Huế vương vấn bước chân du khách mỗi lần có dịp ghé qua...

  • Làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ) và làng An Nông (xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế) là nơi lưu giữ những tài liệu chứng minh chủ quyền biển đảo Hoàng Sa của nước ta. Những tài liệu quý hàng trăm năm tuổi được người dân các ngôi làng này xem như báu vật và dốc sức giữ gìn.

  • Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh cũng là lúc ở Việt Nam, các thế lực bước vào một cuộc chạy đua nước rút để nắm quyền định đoạt tương lai nước này sau 80 năm là thuộc địa Pháp.

  • Khải Định đã tìm được một thế đất dường như “sinh ra để làm nơi ngả lưng cho một linh hồn quyền quý”…

  • Chỉ xếp sau Hà Nội, cũng giống như Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế là tỉnh sở hữu cùng lúc 2 di sản đã được Unesco công nhận, đó là Di sản văn hóa phi vật thể Nhã nhạc Cung đình và Di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế.

  • Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định... vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.

  • Trải qua hơn 150 năm, nhiều thắng cảnh trong “Thần kinh nhị thập cảnh” do vua Thiệu Trị lựa chọn đã bị lụi tàn hoặc không còn nguyên vẹn. Nhưng đến Huế, du khách vẫn nhận ra vùng đất cố đô vẫn còn những thắng cảnh mang vóc dáng, hình hài của 20 cảnh đẹp Huế đô xưa.

  • Ngày 25-6, WWF và Microsoft tổ chức hội thảo chia sẻ thành công của dự án “Tăng cường rừng ngập mặn nhằm góp phần thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, đồng thời công bố tiếp tục hỗ trợ dự án với phương pháp tiếp cận tích hợp hơn.

  • Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế vừa mới cùng với Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh về tại Đình làng Thủ Lễ thực hiện đề tài “nghiên cứu, sưu tầm, số hóa Hán Nôm”.