Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền.
Nhiều người, ắt hẳn đã biết về một đoạn trong sách Phủ Biên Tạp Lục của cụ Lê Quý Đôn (1726 - 1784) có viết rằng: Dã Lê đan gót và làm mui thuyền (mũi thuyền). Có thể, ngày xưa, cụ Lê Quý Đôn chỉ viết ngắn gọn như vậy và chỉ lấy một công đoạn làm thuyền để nói về cái nghề truyền thống của Dã Lê (bao gồm cả làng Dã Lê Chánh ở Thủy Vân và Dã Lê Thượng ở Thủy Phương). Thế nhưng, theo các cụ già trong làng kể lại, làm ghe thuyền, quan trọng nhất chính là làm cái mũi, cái lái. Bởi thuyền, ghe đi nhẹ hay không, có nổi tốt trên nước hay không là nhờ kỹ thuật lận mui (làm mũi) thuyền. Cho nên cũng có thể hiểu rằng, cụ Lê Quý Đôn lấy cái cơ bản, cái quan trọng nhất để nói cái tổng thể của nghề vậy!
Trong ký ức vụn vặt của mình, tôi còn nhớ khi nhỏ, mệ nội tôi có 2 chiếc ghe. Mỗi lần chuẩn bị đến vụ lúa mới, mệ nội lại gọi mấy đứa cháu đi tát nước trong ghe ra, nâng ghe lên mặt nước hói. Sau đó, mệ đi gọi thợ tới sửa chữa ghe. Người thợ hay sửa ghe cho mệ nội tôi là ông Nguyễn Công Hối, ở gần nhà.
Như thường lệ, ông mang theo nào là khoan (loại khoan kéo bằng cách xoắn dây), đục, bào … Ông nói mệ nội tôi đi mua các loại dây cước, dây mây và ít vỏ cây tràm (loại tràm có vỏ xốp xốp, có khả năng chống thấm nước). Sau đó, ông Hối cắm cúi chèn mấy tấm đệm lót giữa các tấm ván ghe. Những tấm đệm bằng gỗ thầu đâu (cây xoan, còn gọi là sầu đông), mềm, nhẹ, không bị mối mọt. Nghĩ cũng lạ, ngay cả các loại hà cũng hầu như không ăn được nó.
Rồi ông Hối lại dùng một cái đục không sắc, vừa nhét vỏ tràm vừa gõ nhẹ để chèn vỏ tràm vào những khoảng trống giữa tấm đệm và ván thuyền. Làm đến đâu, ông nấc dây mây hoặc dây cước đến đó. Dây cước được nấc theo kiểu xoắn chân rết. Đại khái là thế. Cho đến khi nào ông kiểm tra nước không thấm vào ghe được nữa là xong.
Gần 20 năm trước, trong làng Dã Lê Thượng, ngoài ông Hối ra, còn có nhiều thợ làm ghe, thuyền và cả sửa chữa nữa như ông Dương Văn Khá, ông Trần Văn Lớn, ông Trương Văn Tê và mấy thợ ngoài xóm Lợi Nông nữa. Khi những chiếc xe công nông chưa phổ biến, những chiếc xe tải hạng nhẹ chưa ra tới các cánh đồng thì ghe, nôốc (thuyền nhỏ) là phương tiện vận chuyển lúa chủ yếu của người làng nói riêng và hầu hết các làng có làm ruộng ở đồng bằng nói chung. Vì thế, những người thợ nói trên gần như không làm hết việc mỗi khi vụ mùa cận kề.
Bên cạnh những người làm, sửa chữa ghe, thuyền bằng gỗ, còn có những người chuyên đan ghe tre. Ngày trước, người có tiền thì đóng ghe, thuyền bằng gỗ, không có tiền hoặc ít tiền thì thuê lận (đan) một chiếc ghe tre. Theo ông Dương Văn Thọ, kiểu đan chiếc ghe cũng như đan một tấm gót vậy. Có lẽ, ngày xưa, các loại ghe đan bằng tấm tre nứa cũng có cách thức đan như đan tấm gót và người làng nói riêng, người Việt chúng ta nói chung, đã phát triển kỹ thuật đó thành kỹ thuật đan ghe bằng tre nứa.
Khi đan xong tấm phên của chiếc ghe, người thợ sẽ chọn 2 cây tre dài và có thân to để chặt và chẻ đôi 2 cây tre đó. Rồi đục lỗ ở 2 đầu sao cho chiều dài tấm phên sẽ dài hơn khoảng cách của 2 đầu có đục lỗ cặp cây tre. Bằng cách kẹp, rồi níu, rồi nống bằng các thanh tre ngắn khác ở đoạn giữa, người thợ tạo dáng một chiếc ghe. Rồi cặp, lận các góc tấm phên sao cho ăn khớp với bộ nẹp của nó. Sau khi phơi một thời gian cho khô hẳn tre (tấm đan, thanh nẹp …), người thợ sẽ tiến hành quết dầu.
Ngày xưa, khi chưa có loại dầu hắc (nhựa đường), người thợ dùng dầu rái lấy từ cây rái trên rừng về, hoặc loại nhựa từ cây sơn, để quết lên chiếc ghe. Ban đầu, người thợ quết ở bên ngoài ghe một lớp thật dày, sau đó, phơi ghe vài ba ngày. Tiếp theo lại lật ghe lại và quết bên trong. Phơi tiếp mấy ngày. Sau đó lại làm quy trình cũ, cho đến khi nào cảm thấy dầu ngấm đủ để bảo vệ chiếc ghe thì thôi.
Ngày nay, sự phát triển của các phương tiện cơ giới và xe cộ có thể ra đến tận chân ruộng, thì những chiếc ghe, thuyền dần ít được sử dụng. Những người thợ xưa cũng dần vắng bóng. Những người đã khuất thì có lẽ cũng chưa kịp truyền nghề cho học trò, học trò thì có lẽ cũng ít nhớ về những kỹ thuật mà thầy mình đã truyền dạy. Dù có nhớ, họ cũng không có nhiều cơ hội thể hiện tay nghề. Có lẽ vậy, cả làng Dã Lê Thượng chỉ còn 2 người có thể đan được ghe tre. Trong đó, có ông Dương Văn Thọ ở xóm Bến Chợ, nay là tổ 1 phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy.
Dẫu ít, nhưng sự đoạn tuyệt của một nghề được ghi lại đã gần 300 năm trong sách cổ đã cho thấy một nghề thủ công truyền thống có bề dày của Dã Lê nói riêng và vùng đất Hương Thủy nói chung. Trong tiến trình phát triển ngày nay, có thể, những chiếc ghe, nôốc ít hữu dụng, tuy vậy, ở vùng đất từng có kênh, hói nhiều như Hương Thủy, những phương tiện đó đã góp phần đưa người đi khai phá thưở ban đầu khai hoang lập ấp./.
Đình Đính
Tải mã QRCode
Với sự tham gia của ĐẶNG MẬU TỰU * LÊ VĂN LÂN * ĐINH CƯỜNG * PHẠM THỊ ANH NGA * LÊ HUỲNH LÂM * TÔN PHONG * MAI VĂN PHẤN * PHẠM ĐỨC MẠNH * HỒNG VINH * NGUYÊN NGỌC - TÔN NỮ MINH CHÂU * NGUYỄN XUÂN SANG * NGUYỄN ĐỨC TÙNG * ALICIA OSTRIKER * JEAN VALENTINE * TIM SUERMONDT * NHẬT CHIÊU * PHI TÂN * VÕ NGỌC LAN * PHƯƠNG ANH * NGUYỄN DƯ HOÀI MỤC * ĐỖ XUÂN CẨM * QUẾ HƯƠNG * NGUYỄN KHOA QUẢ * HOÀNG DIỆP LẠC * LÊ MINH PHONG * NGÔ ĐÌNH HẢI * NGÔ MINH
Sông Hương số đặc biệt tháng 9/2105 trân trọng gửi đến quý bạn đọc.
Số báo này xuất bản cũng nhằm vào những ngày Liên hiệp Hội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 70 năm thành lập. Bài “70 năm, một dòng chảy văn học nghệ thuật nối tiếp văn mạch của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa sẽ điểm lại diễn trình 70 năm đáng tự hào của văn nghệ xứ Huế.
Hiếm có làng nào lại quy định rõ ràng về việc dọn thức ăn trong ma chay như làng Mỹ Phú (xã Phong Chương, H.Phong Điền, Thừa Thiên-Huế).
Ở không ít làng quê xứ Huế ngày nay, lệ làng vẫn tồn tại với nhiều quy định khắt khe, chặt chẽ.
Tháng 8 năm này, kỷ niệm 95 năm ngày sinh của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị (18/8/1920). Một bài viết trong số này, đã nhắc lại “cuộc hóa thân của đất đá” trong sự nghiệp lừng lẫy của bà. Các truyện ngắn được chọn đăng, vừa có những thử nghiệm bút pháp mới, vừa sâu thẳm tính nhân văn; và một lần nữa, trách nhiệm cụ thể của nhà văn được khơi mở: Làm sao vừa có những sáng tạo đầy bứt phá về nghệ thuật, vừa có thể gắn chặt với thực tại? Làm sao để những biến ảo kỳ diệu của tâm thức đời sống, của tiềm thức con người, của “cái bóng” đa nhân cách cuộc đời không dễ nắm bắt… có thể đi vào văn học nghệ thuật? Tất cả lại là những vấn đề muôn thuở của văn học
Chùa Từ Hiếu hay còn gọi là chùa “Thái giám” nằm trên ngọn núi Dương Xuân thuộc phường Thuỷ Xuân (TP.Huế). Đây là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của Huế, nhưng ít người biết được nguồn gốc đầy nước mắt của ngôi cổ tự này. Nơi đây có một nghĩa trang của những con người mang thân phận không phải đàn ông mà cũng chẳng phải đàn bà...
Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng Thành – Kinh Thành Huế, cũng được coi là bộ mặt của Hoàng Thành và vương triều phong kiến.
Hệ thống thơ văn trên di tích Huế có một phần rất lớn là Ngự chế thi của vua Minh Mạng, trong đó, đặc biệt tại Hiếu Lăng (lăng vua Minh Mạng) là nơi có nhiều thơ của nhà vua được chạm khắc, trang trí để lưu truyền cho hậu thế.
Từ ngày 17 đến 23 tháng 7 năm 2015, trại sáng tác văn học Phong Điền năm 2015 đã diễn ra tại vùng Ngũ Điền do Hội nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND huyện Phong Điền tổ chức.
Câu chuyện này lại có liên quan đến một sự kiện diễn ra cách nay đúng một 150 năm, đó là câu chuyện sứ đoàn đầu tiên của nước ta sang Pháp (1863 - 1864)...
Trên các đền đài, lăng tẩm, cung điện triều Nguyễn tại cố đô Huế xuất hiện hàng ngàn bài thơ, văn, câu đối bằng chữ Hán. Hệ thống di sản tư liệu độc đáo này vừa được giải mã để đề nghị UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới.
Chỉ cần nhìn làn da bất chấp tuổi tác của những người phụ nữ trong gia đình này, bạn sẽ thấy bí quyết làm đẹp từ hoàng cung mà họ được truyền lại qua mấy đời thực sự diệu kỳ đến thế nào. Đó là bí mật để làm ra những viên phấn nụ, dưới công thức của các ngự y triều Nguyễn, chỉ dành cho những giai nhân ở chốn cấm cung.
Nét khác biệt của lăng Hoàng Cô gắn liền với câu chuyện cảm động về cuộc đời tiết hạnh của Công chúa Long Thành - người chị ruột của vua Gia Long.
Cung đường hình chữ S dẫn du khách lên Bạch Mã, chơi vơi gió, chơi vơi mây và chơi vơi tất cả mọi xúc giác…
Huế vốn là đất kinh kỳ, có rất nhiều thú vui tao nhã. Những thú vui đó đã tạo cho Huế một bản sắc riêng mà "chẳng nơi nào có được". Ngủ đò trên dòng sông Hương là một trong những thú vui như thế.
Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới vừa ban hành kế hoạch tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu huyện A Lưới năm 2015.
Vào cung là đến với cuộc sống giàu sang nhung lụa nhưng với phần lớn cung nữ, Tử Cấm thành lại là nơi chôn vùi tuổi xuân của họ.
Ngôi chùa hàng trăm năm được đánh giá có kiến trúc và khung cảnh đẹp nhất xứ Huế.
Trên địa bàn làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, TP Huế có một khu lăng mộ đồ sộ được gọi là lăng Cơ Thánh. Đây chính là lăng của ông Nguyễn Phúc Luân (1733 - 1765) - cha đẻ của Gia Long, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Lăng mộ của đấng thân sinh vua Gia Long còn được dân gian gọi là lăng Sọ, vì dưới mộ chỉ chôn cất hộp sọ của người quá cố.
Những nốt xăm trên trán, mí mắt của người dân tộc Ka Tu thuộc huyện miền núi Nam Đông (Thừa Thiên- Huế) đã hình thành từ lâu đời. Nó là biểu tượng cho sức mạnh, uy lực của dân tộc và trở thành nét giá trị văn hóa mang đậm bản sắc cộng đồng dân tộc. Mới đây, chúng tôi đã có chuyến thực tế, để hiểu hơn về tính độc đáo xung quanh tục xăm hình đầy bí ẩn của đồng bào Ka Tu.