Nhà thơ Thanh Hải - Ảnh: internet
Sau 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội, tôi, nhà thơ Thanh Hải, nhà văn Tô Nhuận Vỹ được điều động trở lại chiến trường lần thứ hai. Tôi và Tô Nhuận Vỹ đang ở vào những ngày cuối của trại viết văn Hội Nhà văn Nghi Tàm, Quảng Bá. Thanh Hải đang ở trung tâm điều dưỡng cán bộ trung cao cấp chính trị Gia Lâm. Ba chúng tôi được Ban tổ chức trung ương quyết định điều vào Khu ủy Trị Thiên để thành lập tờ tạp chí Văn nghệ Trị Thiên Huế. Rời Hà Nội vào thời điểm chiến trường miền Nam, kể cả Trị Thiên giữa ta và địch đang giằng co chiến lược hình da báo. Hồi đó anh Thanh Hải và chị Thanh Tâm vừa mới cưới nhau chưa được bao lâu phải tạm biệt xa nhau. Ra đi trong người anh vẫn mang bệnh gan dai dẳng, chữa trị tối ưu trong, ngoài nước vẫn không hề thuyên giảm. Anh chia tay chị Tâm với nụ cười thanh thản, tin tưởng không bộc lộ sự băn khoăn bịn rịn nào cả. Vốn dĩ nhà thơ là người ít lời, cho dù nội tâm bộn bề, ngổn ngang trăm thứ nhưng bên ngoài vẫn đủng đỉnh, yên ắng. Đoàn xe zin khơ màu thiên thanh, chất đầy hàng chi viện miền Nam đang xếp nối đuôi nhau thành hàng dài quanh khu vực Văn Miếu chờ chúng tôi. Ba chúng tôi được xếp ngồi vào ca-bin của ba tài xế dạn dày khói lửa chiến tranh. Đoàn xe đồng loạt nổ máy. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ vẫn chưa can đảm bước lên xe. Anh và Phạm Thị Cúc, cô vợ cưới trước Thanh Hải hơn những hai ba năm xem ra vẫn còn xoắn xuýt bịn rịn, khó rời nhau như những đôi tình nhân trong mùa trăng mật. Tay trong tay, sát rạt vào nhau. Tình cảm da diết ấy có lẽ đã nối dài từ hình ảnh cô sinh viên Huế xinh xắn, son trẻ với chàng phóng viên báo Cờ giải phóng quân phục màu lính mạnh khỏe, đẹp trai choáng váng trong tiếng sét ái tình giữa chiến dịch Mậu Thân 1968 rồi bên nhau suốt thời gian chàng phóng viên bị thương trôi dạt về Phú Đa, Hương Thủy. Để rồi cô sinh viên Phạm Thị Cúc trở thành nhân vật chính theo cuộc hành trình dài xuyên suốt qua hàng ngàn trang viết trong ba tập tiểu thuyết Dòng sông phẳng lặng của nhà văn trẻ Tô Nhuận Vỹ. Trước cảnh tượng tuyệt vời của hai con người, nhà thơ Thanh Hải giơ cánh tay lên cao, vẫy gọi chiếc xe đi đầu: “Đợi cho một chút nữa”. Thanh Hải nhìn tôi cười với vẻ mặt thông cảm, độ lượng. Xe lăn bánh, Tô Nhuận Vỹ mới chịu bước lên ca-bin. Một tay anh vịn thành cửa xe, tay kia vẫy vẫy liên hồi trước hai cánh tay dài của chị Cúc chới với như hai cánh chim non đang tập bay trong bóng dáng gầy, cao, xa dần và khuất mờ vào trong những hàng cây bên bức tường dài Văn Miếu. Đến rừng. Có lẽ hình ảnh đậm đà giờ phút tạm chia tay ấy như đang chập chờn trong không gian chật hẹp nên nhà văn nằm dài và không một chút giấu giếm: “Tội nghiệp cho Cúc quá!” Một nhà thơ và một nhà văn. Hai con người ra đi mà chưa gởi gắm lại một chút của quý nào cho hai người vợ nhưng tình cảm của hai con người biểu hiện hoàn toàn khác nhau. Dọc đường Chín từ thị xã Đông Hà ngược lên, rẽ trái theo đường 14, đến Sa Trầm, nơi đóng quân của đội xe khu ủy, ba chúng tôi phải mang vác tư trang, tài liệu lội suối, băng rừng lần lượt ngang qua cơ quan bộ đội Biên phòng, Y tế, Bệnh viện, An ninh, trường Đảng, Dân vận và cuối cùng là cơ quan Ban tuyên huấn khu ủy Trị Thiên. Dỡ tháo đồ đạc trên người, thở phào. Mồ hôi ròng ròng ướt sũng. Có lẽ sức mạnh của cơ quan này là ngôn từ, tiếng nói thao thao, chân cò tay nhện nên xếp tít trong cùng, lội bộ, sái cả đôi giò hơn hai giờ liền mới tới nơi. Phó ban Trần Hoàn, thủ trưởng, con người chính trị nhưng tâm hồn là một nhạc sĩ, nhà thơ nên ông sắp xếp cho ba chúng tôi một chỗ ở khá lý thú. Nhiều bộ môn phải dồn ghép lên các nhà phía trên đồi. Ngôi nhà chúng tôi ở cũng là tranh tre, lá rừng nhưng được tọa lạc cạnh bờ suối. Gần sát mép nước lại có một ghế tựa dài, bằng tre và gỗ được buộc chặt vào các gốc cây làm giá đỡ. Phía trên ghế tựa được che phủ một dàn cây dây leo phủ một màu xanh mát mắt. Thỉnh thoảng lại có những bầy chim nho nhỏ đủ màu sắc râm ran, ríu rít hòa trong tiếng suối róc rách xa xa. Lâu lâu lại phảng phất hương thơm của các loại hoa rừng cuốn theo những giây phút bầy chim cất tiếng liu riu. Sau những giờ viết lách thư giãn một chút sau những bữa cơm sáng, cơm trưa nếu đặt lưng vào ghế tựa để nhìn ngắm bầy chim chao cành chíp chíp hắt bóng dáng xuống dòng suối trong veo thì thú vị biết nhường nào. Giờ phút ấy cứ ngỡ như diễm phúc ngự quảng ở thiên đường, thần tiên của núi non. Nắm được đường đi lối lại, nơi in ấn tờ tạp chí, nhà thơ Thanh Hải hăng hái “xung phong - xuất trận” thực tế A Lưới. Tô Nhuận Vỹ trực tòa soạn. Tôi về lại đường Chín, thực tế các chốt da báo dọc sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Tô Nhuận Vỹ viết đứng. Anh sáng tạo bàn viết bằng bốn thùng gỗ chồng lên nhau cao ngang khuỷu tay. Mỗi lần sáng tác anh lại nhìn ra bờ suối, ngắm ngược lên dàn cây trên ghế tựa để lấy cảm hứng. Thanh Hải thì xếp bằng viết ngồi trên sạp nằm. Tòa soạn chúng tôi khách khứa lui tới nhiều. Có lần đoàn văn công Trị Thiên vui chân sà đến râm ran tiếng cười giọng hát của các cô nàng xinh đẹp. Họ nán lại khá lâu và trầm trồ khen nhà văn ăn nói có duyên, đẹp trai. Những cuộc giao lưu như vậy Thanh Hải chỉ ngồi cười, nghe và thỉnh thoảng ai đụng đến thì trả lời vài câu góp chuyện ngắn gọn. Ôi chao! Sau lần gặp kỳ lạ đó nhà văn viết ngày, chong đèn dầu viết đêm như thể bắt nguồn cảm hứng bồng bềnh tuôn trào. Không biết từ lúc nào nhà thơ đọc lén được và hớn hở mách chuyện với tôi: - Cha nội viết hay thiệt! - Viết chi? Tôi hỏi. - Hắn tả bầy chim thường lui tới trên giàn cây hay lắm! - Đầu đề là chi? - “Khoảng trời màu xanh”. - Răng anh không lấy cớ ấy để thành thơ? - Hắn nhanh hơn mình, tài thiệt! Ôi chà chà! Một nhà thơ nổi tiếng mà nức nở khen một nhà văn có tài viết hay, liệu có ngược quy luật muôn thuở “văn mình vợ người” không? Thanh Hải chân chất là vậy. Từ đó tôi hồi tưởng cảnh Tô Nhuận Vỹ nồng nàn tiếp các cô nàng văn công, rồi nhiệt tình tiễn đưa một chặng dài dọc con suối sang quân khu. Nhà văn viết loáy hoáy say sưa suốt ngày đêm tôi cứ ngỡ viết nối dài “Dòng sông phẳng lặng” từ duyên cớ hai cánh tay chới với như hai cánh chim non tập bay của Phạm Thị Cúc. Không ngờ đó là chuyện ni. Chuyện cô nàng văn công xao xuyến. Cô nàng ôm gọn chiếc áo len xanh của chàng vào ngực hóng chuyện để mãi bấy giờ vẫn còn hơi nóng chuyền sang. Từ đó mới nhận ra rằng nghệ sĩ luôn luôn tìm đến cái mới. Cái nghiệp đeo đẳng nhà văn éo le đến khó lường. Nếu không có như vậy thì đâu còn sáng tạo, đâu còn nổi danh tài hoa. Được cái này mất cái khác để rồi “oan gia” cái tội không chung thủy. Để rồi song hành nổi tiếng cả hai. So với nhà văn, nhà thơ Thanh Hải ngược chiều trăm phần trăm. Nhà thơ lấy vợ muộn, chị Thanh Tâm cảm nhận chồng mình cũng trên hai khía cạnh nhưng lại là chính trị và nhà thơ. Ở chung với nhau, mỗi lần đi về, Thanh Hải đều có quà cho chúng tôi và cất lời nhẹ nhàng: “Có khỏe không? Vỹ mô rồi?” Một hôm, trời sang hè, rừng vẫn lạnh, Tô Nhuận Vỹ nằm lỳ không chịu dậy ăn sáng. Anh nằm đắp tấm ra trùm lên cả đầu. Thanh Hải vừa dỡ tấm ra vừa hốt hoảng: “Vỹ sốt rồi!” Hai ngày liền Vỹ bỏ cơm, cháo húp qua loa vài thìa. Thanh Hải xuống tận bếp bày vẽ cô cấp dưỡng tên là Hương cách thức nấu cháo, ruốc thịt băm, muối hầm nên bỏ riêng tùy thích lựa chọn của người bệnh. Chiều hôm sau Vỹ vẫn sốt, nhiệt kế cao vút. Thanh Hải lục túi cá nhân tìm thuốc. Anh còn điện thoại xin ý kiến tư vấn người thân ở bệnh viện cách điều trị. Anh đi lên, xuống nhà bếp với vẻ mặt băn khoăn lo lắng. Lúc này anh đã quên hẳn động tác đưa bàn tay xoa xoa ở vùng mép sườn dưới bên phải, vùng bệnh gan âm ỉ quấy rầy sự bình an của anh. Anh đề xuất sáng mai đi Quân khu. - Chấm bài xong, vài ngày nữa mới có tạp chí! Tôi băn khoăn. - Đi xin gà. Thanh Hải trả lời gọn lỏn. - Nuôi à? - Nấu cháo. Vỹ ăn ít quá! Ban tuyên huấn không có nhà in. Chúng tôi in nhờ tạp chí ở nhà in Quân khu. Mọi chi phí cánh nhà báo quân khu Trị Thiên lo trọn gói. Hai chúng tôi thả những bước chân dài trên suối vừa nhắc lại cảnh các cô nàng văn công xinh đẹp chao liệng gót son trên dòng suối trong veo đang còn “hành quân” trên mặt bàn viết của Tô Nhuận Vỹ. Giá như các cô nàng lội suối cùng chúng tôi lần nữa để có dịp so sánh chất văn hoa có tài của Tô Nhuận Vỹ trong “Khoảng trời màu xanh” định vị khoảng này hay khoảng mô? Bạn hữu báo Quân khu thấy nhà thơ Thanh Hải xuất hiện liền hồ hởi òa ra như thể lâu ngày mới gặp nhau. Họ bắt tay, quàng lưng, nhìn ngắm dung nhan như thể tìm kiếm, giãi bày thêm sự nổi tiếng của nhà thơ mà mọi người dân Việt Nam, một số bạn bè thế giới chiêm ngưỡng cái tên Thanh Hải lừng danh từ chiến tranh ác liệt ở miền Nam Việt Nam. - Hai anh đi nhận tạp chí à? - Tuần nữa mới có. Tôi trả lời. - Vỹ sốt! Xin gà nấu cháo. Thanh Hải bộc bạch gọn lỏn. Các nhà báo Quân khu: Huyền Dân, Vũ Thuộc, Vũ Huế, Nguyễn Trọng Bính, Bùi Kim... có vẻ bối rối khi nghe Tô Nhuận Vỹ ốm. Họ vặn hỏi cặn kẽ sốt cao không? Có thuốc gì uống chưa? Mới gặp còn khỏe mạnh sao ốm nhanh thế? Mọi người chia cụm ra vây bắt gà. Nguyễn Trọng Bính còn hăng hái chuẩn bị các loại thuốc đi cùng chúng tôi sang thăm Vỹ. Gà hầm với gạo, tí muối, thêm chút bột ngọt thơm lừng, nóng hổi còn kèm theo vài quả ớt rừng chống đắng miệng cho người ốm. Ngon thế mà Vỹ chỉ nuốt nổi lưng bát và vài miếng thịt gà xé nhỏ. Thanh Hải nài nỉ hoài, Vỹ vẫn lắc đầu. Hớp vài ngụm nước lá rừng, Vỹ lại trùm chăn thở dốc. Thanh Hải bưng soong cháo xuống bếp nhờ nhà bếp cất đặt cẩn thận để ép Vỹ ăn thêm vào buổi chiều. Năm hôm sau Vỹ mới cắt được cơn sốt. Thanh Hải và tôi lội suối sang Quân khu nhận tạp chí. Ba lô Thanh Hải cộm lên một cái thùng cộm trì nặng sau lưng. - Chi rứa? Tôi hỏi. - Xin thêm một thùng lương khô. Thanh Hải cười. Thường xuyên buổi ăn sáng cơ quan chúng tôi mỗi người vỏn vẹn một bát cơm với muối hoặc nước ruốc pha loãng. Người ốm như Vỹ khó bề nuốt trôi. Thanh Hải giải thích là để cho Vỹ ăn sáng hoặc ăn dặm khi đói. Rừng cũng lắm chuyện gian nan, khổ cực nhưng rừng cũng nhiều chuyện vui, chuyện đáng nhớ. Tô Nhuận Vỹ lại sốt, lại phải trở về hậu phương miền Bắc chữa bệnh. Gần năm sau Thanh Hải lại ôm bụng với bệnh gan tái phát tiếp tục ra Bắc chữa bệnh lần thứ hai. Xa nhau cũng chẳng bao lâu, sau 1975 Thanh Hải, Tô Nhuận Vỹ và tôi lại tụ tập nhau cùng ngôi nhà văn nghệ Bình Trị Thiên 26 Lê Lợi - Huế. Lại một câu chuyện nữa nhưng không phải là hai cánh tay yếu ớt chới với như hai cánh chim tập bay của Phạm Thị Cúc và cũng không phải chuyện lãng mạn của núi rừng râm ran, những gót son chao lượn trên mặt suối trong “khoảng trời màu xanh” mà manh nha cho một đầu đề “Áo trắng” hay “Ngoại ô” sắp diễn ra. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ lại lăn lộn thực tế để tiếp tục thai nghén. Thế là tiếng đồn đại của những con người thiếu tiền, thừa miệng, tiếng vặn vẹo nổi cồn cơn ghen đã làm cho nhà văn nổi tiếng lại một phen nổi tiếng tiếp. Hồi đó nhà thơ Lương An làm bí thư chi bộ. Tôi làm phó. Có nhiều vị cấp trên một chút, vài đảng viên có tuổi đảng cao trong chi bộ đề xuất kiểm điểm, kỷ luật. Chúng tôi gặp khó khăn dồn ép nhiều phía. Nhà thơ Thanh Hải lại tỉnh bơ: “Có chuyện chi mà kiểm điểm. Có bắt được tay vày được cánh mô mà kỷ luật. Đang là chuyện đồn thổi, mà nếu có thì khuyên Vỹ khai là đã yêu; đằng sau yêu người ta mần chi kệ họ”. Có lần Thanh Hải nhỏ nhẹ như chỉ bộc lộ với tôi: “Hắn có tài, để cho hắn hót”. Bao nhiêu người xằng bậy trời sợ mà có “hót” được chi mo”. Tôi đồng cảm với Thanh Hải nhưng lắm lúc tự vấn tại sao Thanh Hải hiền lành đôn hậu, đâu có những cuộc tình mớm tài để “hót” thành thơ, để thành tên tuổi nổi cồn như vậy? Đó cũng là những bí ẩn dành riêng cho những nhà nghiên cứu phê bình văn chương. Thế là mọi chuyện được dàn xếp yên ổn. Tác phẩm mới của nhà văn Tô Nhuận Vỹ ra đời trên văn đàn, trên phim ảnh. Vào những ngày cuối năm 1980, nhà thơ Thanh Hải gần như đầu hàng với bệnh gan dai dẳng. Thân hình anh ốm o, đôi mắt to, sâu hoắm, thỉnh thoảng anh vẫn cố gượng cười như cố che giấu cơn đau cắn xé ở vùng gan triền miên không dứt. Đôi chân anh tê lạnh dần lên phía trên. Anh nhờ tôi nắn bóp thật mạnh vào hai bàn chân như muốn kéo dài sự sống hiếm hoi quý giá. Bên cạnh anh có chị Thanh Tâm, ba con trai còn nhỏ và nhiều bạn bè xa gần lui tới. Anh kéo tay tôi sát mặt anh: “Vỹ đi mô; thấy vắng? Có viết chi nữa không?”. Tháng 12 năm 1980 nhà thơ Thanh Hải đã ra đi vĩnh viễn. Một nhà thơ, một con người chân chất, cả cuộc đời luôn luôn quan tâm đến người khác đặc biệt là người có tài nhưng ít khi anh mong muốn người khác phải quan tâm đến với mình. Quả là điều lạ! V.M.L (258/8-10) |
Tải mã QRCode
TRẦN THỊ TRƯỜNGBước chân vào cái ngõ 45 Phan Bội Châu gặp mùi bánh trứng nướng thơm phức bao trùm, ngỡ ngàng: “Ông Trần Đình Hiến còn là một chủ lò bánh?”. Nhưng: - Không phải đâu. Khu nhà này hầu hết là mấy anh em ruột chúng tôi sinh sống. Lò bánh này của một chú, còn các người khác mỗi người một nghề. Các em tôi đều chịu khó. Vâng, bây giờ ai chẳng lấy chịu khó làm đầu...
Chính Bùi Hiển dẫn lời bạn ông nói rằng văn ông đi từ hướng ngoại đến hướng nội, hàm ý chín dần, mỗi ngày mỗi gần hơn với cốt lõi văn chương. Tôi không thấy như vậy.
NGÔ MINHSau hai cuộc hành trình vất vả hơn 2600 cây số đi về Đại hội Nhà văn khu vực miền Trung ở Nha Trang giữa tháng 3, rồi Đại hội Nhà Văn Việt Nam VII, bắt đầu từ 22/4 đến 10 giờ rưỡi đêm 27/4 tôi mới về tới nhà mình ở Huế, ngồi trước máy vi tính viết những dòng buồn vui lẫn lộn.
THANH THẢO 6 năm nay, kể từ cái đêm thơ nhạc kỷ niệm 40 năm đường 559 do nhà thơ Phạm Tiến Duật dẫn chương trình, trong đêm ấy Tế Hanh vì quá xúc động khi nhớ lại chuyến đi qua Trường Sơn của mình đầu năm 1974, ông đã bị xuất huyết não. 6 năm ấy, không thể có một cuộc phỏng vấn hay “gặp gỡ” nào được thực hiện với Tế Hanh, đơn giản vì ông không nói được. Tôi nghĩ, 6 năm nay, Tế Hanh chỉ còn trò chuyện với dòng sông của mình, dòng sông của đời mình, trong im lặng. Vì thế, những cuộc trò chuyện tôi kể sau đây đều thuộc về thời gian trước khi Tế Hanh lâm trọng bệnh.
LTS: Kể từ khi xuất hiện với bạn đọc qua bài bút ký đầu tiên có tên là Gọi nắng và chùm thơ Đời chị trên tạp chí Sông Hương lúc tuổi đời mới hai mươi, gần 10 năm qua, Văn Cầm Hải là một “hiện tượng văn học” của nhiều cuộc tranh luận vì phong cách lập ngôn mới lạ của mình. Bước vào mùa xuân mới, đúng vào ngày sinh nhật 20/1/2005 của mình, Văn Cầm Hải đã chính thức trở thành một trong những nhà văn trẻ nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Vốn là người kín tiếng đến mức “lập dị” nhưng nhân dịp xuân vui này, nhà văn Văn Cầm Hải đã “bật mí” nhiều điều, từ A đến Z trong cuộc sống của anh với Sông Hương.
Sáng ngày 24-2-2005 tại trụ sở 26 Lê Lợi - Huế, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức lễ tưởng niệm nhà thơ Huy Cận. Nhiều cơ quan, ban ngành tỉnh, thành phố Huế và anh chị em văn nghệ sĩ đã tới dự. Sông Hương trân trọng giới thiệu “điếu văn” do nhà thơ Võ Quê đọc trong lễ tưởng niệm.
NGUYỄN KHẮC PHÊ(Tưởng nhớ nhà thơ Lương An)Năm 1984, sau khi cùng anh chị em văn nghệ đón di hài nhà thơ Vĩnh Mai về Huế, nhà thơ Lương An - người đồng hương, người bạn thơ gần gũi với Vĩnh Mai đã viết bài "Đón anh về lại Huế thơ": Anh về lại Huế hôm nay / Huế đang mưa bỗng tạnh ngày nắng xuân...
HỒ SĨ HIỆPBa Kim, tên thật là Lý Nghiêu Đường, tự Thị Cam, sinh năm 1904, người Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Ông viết văn rất sớm, nổi tiếng trên văn đàn từ thời "ngũ tứ vận động" (1919) và hoạt động văn học sôi nổi từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước, tên tuổi ngang hàng với các nhà văn Mao Thuẫn, Tào Ngu và Lão Xá.
TRUNG SƠN(Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Phùng Quán)I. Hơn mười năm trước - mùa hè 1992, một cuộc “khai quật” ở Huế đã làm chấn động dư luận. Trong lúc đào hố móng xây dựng một căn nhà tại trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Thừa Thiên Huế, người ta đã phát hiện một ngôi mộ tập thể gồm 17 bộ hài cốt, một số vũ khí, đạn và 3 kỷ vật còn ghi rõ tên hiệu, đơn vị Vệ quốc đoàn hồi năm 1946.
XUÂN TÙNG Chòi trống im lìm, khách ngẩn ngơ Bình khô, rượu cạn, điếu chăng tơ Bao giờ điếu lại reo êm ái Nhà rộn tiếng cười, ấm giọng thơ...
TRẦN THỊ LINH CHIXuất thân gia đình quan lại, học giỏi nhưng lại không chịu theo đuổi đến nơi đến chốn để khoa bảng đề tên, tiến bước công danh hầu nối nghiệp nhà, cha tôi bỏ dở chương trình tú tài sau khi đậu thành chung, làm một công chức kiếm sống qua ngày, dành hết cuộc đời cho văn học. Năng khiếu phê bình của ông đã biểu hiện ngay từ thời còn đi học.
PHAN TRUNG THÀNHTháng giêng năm 2003, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đêm thơ Nguyên Tiêu lần thứ I, theo sáng kiến thành lập “Ngày thơ Việt Nam” của Hội Nhà văn Việt Nam.
BẢO CƯỜNGLTS: Trên 40 năm ngâm thơ và đệm sáo cho thơ từ ra Bắc, từ trong nước ra nước ngoài, Bảo Cường hiện là một nghệ sỹ lão luyện trong nghề. Bài viết dưới đây, như chính tác giả nói: “Với lòng thiết tha mong mỏi bộ môn ngâm thơ và đệm sáo cho thơ ngày một phát triển, để mọi người và nhất là giới trẻ yêu thơ có cơ hội tìm hiểu đào sâu về hai bộ môn này.”
TRẦN NINH HỒLTS: Trần Ninh Hồ tên thật là Trần Hữu Hỷ. Lính Đông Bộ 1971 - 1976, 1977 - Trưởng ban Văn thơ báo Văn Nghệ. Nguyên chủ nhiệm Bảo tàng Văn học Việt …Bình quân cứ độ dăm năm, nhà thơ Trần Ninh Hồ lại có một "đợt" xuất bản thơ. Anh là cây bút sung sức trong suốt mấy thập niên vừa qua của nền thơ hiện đại Việt Nam, từ cuộc chiến tranh chống Mỹ cho suốt đến những ngày hôm nay...Nhà văn Võ Thị Xuân Hà đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Trần Ninh Hồ trong một cách nhìn riêng biệt.
INRASARACác hội thảo bàn về nâng cao tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn học đã lôi kéo không ít nhà văn tham gia bàn cãi sôi nổi. Là tín hiệu đáng mừng: văn học Việt đang tự ý thức, tự phản tỉnh (self consciousness).
TRẦN ĐÌNH SỬThực tế nghèo nàn về thành tựu khoa học xã hội và nhân văn của chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân trong lối tư duy độc tôn một thời ở lĩnh vực học thuật. Cội nguồn sâu xa của lối tư duy ấy đang nằm trong di chứng của thời kì chiến tranh kéo dài ba mươi năm và cuộc đấu tranh ý thức hệ tàn khốc.
NGUYỄN THANH MỪNGKhái niệm nhà văn làm báo chắc không phải là chuyện lạ, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Cánh cửa mở ra cho nhà văn tung hoành trên “sân cỏ” báo chí không đơn thuần là chuyện “cơm áo không đùa...” mà vì nơi đây, nhà văn thể hiện mình ở nhiều góc độ khác nhau, hiểu từ hai phía, nhu cầu biểu lộ tâm trạng của họ và nhu cầu của đời sống đất nước và nhân dân đòi hỏi ở họ.
TRƯỜNG NHÂNLTS: Cũng như cuộc đời, văn nghệ có biết bao buồn vui. Nhà văn cũng là người, cho nên có lúc cũng dở khóc dở cười bởi những chuyện ngoài văn chương. “Vạch túi cho người xem... bia” là câu chuyện hậu kì để bạn đọc chia sẻ với chuyện bếp núc làng văn.
NGUYÊN ANMột nhà văn đồng hương cao niên hỏi tôi:- Sao bây giờ ta mới quen nhau nhỉ?Tôi chưa kịp trả lời, ông đã nói tiếp:- Thôi, từ nay nhé!
THANH THẢOLTS: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về Huế. Có thể nói đấy là một sự kiện - một sự kiện trang nghiêm lặng lẽ.Là người có căn lành, cuộc trở về của ông dường như mãn vẹn. Ông đã trở về với nơi xuất phát, trở về với “ngôi nhà có ngọn lửa ấm”, trở về với tư cách một công dân thi sĩ.Sông Hương có nhã ý “cập nhật” ông từ đầu nhưng qua dò ướm, biết ông chưa muốn, Sông Hương đành để các báo bạn “post” trước.Mặc dầu “truy cập” sau nhưng Sông Hương với ông, với người Tổng Biên tập đầu tiên - Tổng Biên tập sáng lập hẳn còn nhiều duyên nợ, dài dài...