Trong những ngày tháng 10 lịch sử, cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021), chúng tôi tìm về nhà bác Phan Nhạn, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, nguyên là Máy trưởng của Đoàn tàu không số năm xưa.
Cựu chiến binh Phan Nhạn thăm lại bến K15 Đồ Sơn, Hải Phòng.
Bác cùng với các đồng đội đã đưa 15 chuyến tàu không số vượt biển khơi vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển.
Trong căn nhà đầy ắp những kỷ niệm tại số 3A ngõ 117, đường Lý Nam Đế, phường Phước Long, Nha Trang, bác Phan Nhạn say sưa kể về quãng đời oanh liệt mà hào hùng của mình, trong đó có nhiều trận chiến không cân sức khi tàu của bác giáp mặt kẻ thù. Đang say sưa kể, giọng bác bỗng chùng xuống và xúc động khi nhắc tới các đồng đội hy sinh trên biển, hòa mình vào biển cả mãi không ngày trở về…
Sinh ra và lớn lên trên quê hương đất võ Bình Định, cũng như bao người con miền Nam lúc bấy giờ, bác hăng hái lên đường tham gia nhập ngũ, năm 1954 tập kết ra Bắc. Sau đó, bác được cấp trên cử đi học văn hóa và đào tạo lớp cơ điện tàu thủy, 8 năm sau bác được cấp trên điều về công tác tại Đoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân), đảm nhiệm cương vị Máy trưởng của các con tàu thuộc “Đoàn tàu không số” để vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam. Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ thì nhiều lần tàu bác bị địch bủa vây, nhưng bác và đồng đội vẫn mưu trí thoát khỏi vòng vây địch. Bác cùng đồng đội đã trải qua nhiều thời khắc nguy hiểm cận kề khi cái chết và sự sống chỉ trong gang tấc.
Nhấp một chén trà đặc, bác Phan Nhạn say sưa kể, trong số các chuyến vượt biển thì bác nhớ nhất là chuyến chở 25 tấn vũ khí vào Vàm Lũng, Cà Mau. Theo kế hoạch, 23 giờ ngày 16/10/1962 tại bến K15 Đồ Sơn, con tàu gỗ Phương Đông 2 của bác do đồng chí Nguyễn Giạt làm Thuyền trưởng nhổ neo xuất phát. Trước lúc lên đường các đồng chí Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Ung Văn Khiêm đến chia tay đoàn. Anh Phạm Hùng nói: “Các đồng chí chuẩn bị thực hiện một nhiệm vụ vô cùng lớn lao, vinh quang và nguy hiểm, phía trước miền Nam và Quân Giải phóng đang từng ngày, từng giờ ngóng chờ các đồng chí”. Những cái bắt tay, ôm hôn nồng ấm của các đồng chí lãnh đạo như tiếp thêm sức mạnh và lòng vững tin cho bác và cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Thay cho điều muốn nói, Thuyền trưởng Nguyễn Giạt nhìn các cán bộ, chiến sĩ giơ cao cánh tay rắn rỏi và đồng thanh hô: “Quyết tâm!”. Trên con tàu lịch sử ấy, những gương mặt còn rất trẻ như Huỳnh Văn Lân, Nguyễn Hấn, Tư Đạo, Nguyễn Ngọc… cùng với bác hồn nhiên ra trận với bầu máu nóng tuổi đôi mươi.
![]() |
| Bác Phan Nhạn (người đứng giữa) cùng đồng đội năm 1965. |
Lấy khăn lau vội mồ hôi bác say sưa kể tiếp, do có 3 đồng chí quê Nam Bộ là Ba Trung, Năm Công và Sáu Danh sẽ làm hoa tiêu nên chuyến đi có phần thuận lợi. Sau hơn 2 ngày, 3 đêm trên biển, luồn lách, tránh tàu địch, đến vĩ tuyến 17 thì tàu mất liên lạc với đất liền. Chi bộ triệu tập cuộc họp, thuyền trưởng thông báo “Máy vô tuyến điện bị sự cố, tàu quay về hay tiếp tục lên đường”? Mọi người quyết tâm cùng hô “Lên đường!”. Thông suốt tư tưởng, tàu chuyển phương án, ban ngày ngụy trang giả làm tàu đánh cá, đêm len lỏi và tăng tốc di chuyển nhanh. Thời tiết Phương Nam vào mùa gió chướng, sóng to cấp 5 cấp 6, anh em không nấu ăn được, chỉ có lương khô và nước để cầm hơi. Vào lúc 18 giờ ngày thứ năm của chuyến hải trình, tàu đã qua Cù Lao Thu, Phan Thiết. Đến 22 giờ 30 phút, thủy thủ trực ca phát hiện từ xa 3 chiếc tàu tuần tra của Mỹ đang lao tới. Toàn tàu hội ý và nhận định tình hình, có thể tàu mình đã bị địch phát hiện, nghi ngờ. Thuyền trưởng lệnh sẵn sàng chiến đấu, tầm nhìn xa cự ly giữa hai bên khoảng hơn 5 hải lý. Thuyền trưởng Giạt ra lệnh: “Phải 45 độ, tất cả vào vị trí sẵn sàng chiến đấu!”. Sau hơn 20 phút tình hình trở lại bình thường bởi tàu địch không phát hiện được, vì tàu không bật đèn, toàn tàu thở phào.
Sau 7 ngày lênh đênh trên biển, sáng ngày 22 tháng 10, tàu đến vùng biển Cà Mau. Lợi dụng cơn mưa bất chợt tàu chuyển hướng vào bờ. Lại nỗi lo nữa. Sắp vô bến rồi mà vẫn chưa bắt được tín hiệu của đất liền. Toàn tàu căng mắt dõi về bốn hướng cảnh giác và tìm đồng đội. 4 giờ 15 phút, anh em phát hiện có một chiếc ghe đánh cá, thấy tàu mình họ bỏ chạy. Tàu tăng tốc đuổi theo, cặp bám được ghe của họ. Biết là tàu của đằng mình, chiếc ghe đã dẫn đoàn vào được lạch Gành Hào. Lúc đó là 5 giờ ngày 23 tháng 10. Đồng chí Tư Đức, thủ trưởng đơn vị 962, Quân khu 9 ra đón, tâm sự: Đã mấy ngày nay tàu của chúng tôi cứ đêm ngày vào ra phía mũi dõi tìm, lòng cồn cào lo lắng, thật vui mừng khôn xiết khi tàu mình cập bến được an toàn. Chuyến đi đầu tiên của tàu Phương Đông 2 đã đưa 25 tấn vũ khí về Vàm Lũng, Cà Mau.
60 năm đã trôi qua nhưng ký ức về những tháng ngày cùng đồng đội chống chọi với đạn bom kẻ thù và sóng gió đại dương vẫn vẹn nguyên trong tâm trí cựu chiến binh Phan Nhạn. Sau ngày đất nước thống nhất, bác Nhạn vào định cư ở thành phố biển Nha Trang, tiếp tục tham gia công tác xã hội và kinh qua nhiều chức vụ khác nhau. Những cống hiến không mệt mỏi của bác đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.
Theo Báo Kinh tế đô thị.
Tải mã QRCode
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.
Gần đây có một bộ tranh chân dung của các vua triều Nguyễn được vẽ mới và phổ biến, thu hút được nhiều sự chú ý của người xem. Nếu chỉ thưởng thức các bức vẽ này như những ảnh vui mắt, đầy mầu sắc thì được.