Chàng thổ dân bận chiếc khố bằng lá cây, mình trần cháy nắng, khẽ khàng bước sâu vào bụi rậm để tiến lại gần con mồi. Trên tàng cây cao, những con chim vẫn đang véo von. Anh dừng lại, nhẹ nhàng rút mũi tên từ trong túi nhỏ đeo bên người cẩn thận đặt vào cái ống dài, đưa lên miệng nhắm vào con chim gần nhất rồi… thổi mạnh. “Phụp”, một tiếng gọn nhẹ vang lên và con chim rơi xuống.
Người Bora sống chung trong một cái lều cực lớn (gọi là maloca) - Ảnh: N.T
Miền Tây Nam bộ ở... Nam Mỹ
Đó là đoạn phim tôi yêu thích trên kênh Discovery về một buổi đi săn của thổ dân Amazon. Tuy nhiên, lần này xem lại, tôi không ngủ được. Trằn trọc, hồi hộp, háo hức. Cũng phải thôi, vì ngay sáng mai, tôi sẽ trực tiếp gặp những thổ dân Amazon bằng xương bằng thịt.
Trời vừa tờ mờ sáng, chúng tôi đã có mặt tại điểm hẹn. Cùng đi với tôi là một nhóm người Anh, Pháp, Đức. Họ cũng tò mò muốn tìm hiểu về thổ dân Amazon. “Cần mang theo những gì để vào gặp thổ dân Bora và Yagua?”, tôi hỏi. Câu trả lời của anh hướng dẫn viên làm tôi hơi ngạc nhiên: “Một chai nước và tiền (dĩ nhiên). Đó là tất cả những gì anh cần mang theo”. Gặp thổ dân vùng Amazon dễ dàng đến thế sao? Tôi lên đường với chút “gờn gợn” trong lòng.
Từ trung tâm Iquitos (Peru), tôi bắt “xe lôi” (moto-kar) giá 2 soles (khoảng 14.000 đồng) ra bến sông. Khác với tưởng tượng về con sông Amazon dài thứ nhì thế giới (6.437 km), khúc sông Amazon tại Iquitos hiền lành và đỏ quạch phù sa như con sông ở miền Tây Nam bộ. “Đừng tưởng lầm! Amazon có khoảng 10.000 con sông lớn, nhỏ. Đây chỉ là một khúc bé tí. Xuôi theo dòng ra cửa sông, có khúc rộng đến… 325 km, trông như biển đấy”, người dẫn đường giải thích.
Vùng này giống một khu chợ nổi ở miền Tây Nam bộ như đúc. Người dân cũng thấp, đen; cũng vỏ lãi, ghe chở trái cây, nông sản từ những vùng lân cận đổ về mua bán, trao đổi; cũng xô bồ, nhộn nhịp… Nếu không biết trước, chẳng bao giờ tôi nghĩ mình đang ở một đất nước Nam Mỹ xa xôi, cách VN cả nửa vòng trái đất.
Chiếc xuồng máy lạch xạch rời bến. Non một tiếng đồng hồ đã thấy anh hướng dẫn chỉ tay vào đám người đang đứng lố nhố tại cánh rừng ven sông cách đó không xa: “Thổ dân Bora đấy!”.
|
Thổ dân Bora
Quả không hổ danh là những nghệ nhân đầy tài năng của rừng xanh vốn nổi tiếng trong việc làm mặt nạ, súng thổi tên, đồ trang sức cùng nghệ thuật trang điểm độc đáo…, người Bora ở đây để ngực trần (kể cả nữ), đeo trên cổ những chuỗi hạt trái cây đủ màu đặc trưng của vùng Amazon, đội mũ gắn lông đuôi vẹt dài thượt, mặc váy được đan từ vỏ cây vả, cây sung, chân đeo vòng bằng vỏ ốc, đeo trên mình những chiếc giỏ xinh xắn được đan từ lá cọ…
Vài thổ dân rất tự nhiên, không cần hỏi trước, dùng bàn tay đầy màu của mình… quẹt lên mặt chúng tôi. “Đừng sợ, những hình vẽ này sẽ giúp chúng ta tránh được rắn rít, thú dữ trong rừng đấy”, người hướng dẫn nói. Thì ra, đối với người Bora, thế giới tâm linh vẫn sống chung quanh thế giới thực của con người. Họ tin vào năng lực siêu nhiên sẽ sắp đặt thế giới và giải quyết mọi vấn đề theo cách tốt nhất. Những hình vẽ trên mặt, trên người họ biểu lộ niềm tin đó. Tùy vào địa vị của họ trong bộ lạc mà hình vẽ sẽ khác nhau.
Mỗi người bỏ 20 soles (khoảng 140.000 đồng), gọi là “phí thăm bộ lạc”. Vẫn biết là ai cũng cần tiền để sống nhưng tự nhiên cảm thấy “lượng sượng”. “Mình sẽ tìm hiểu được gì thú vị ở đây?”, tôi thầm nghĩ.
Tuy nhiên, tôi cũng chẳng có thời gian “tâm tư” nhiều vì lập tức những người Bora đã lôi tuột chúng tôi vào vòng tròn cùng tham gia nhảy múa. Họ đồng loạt đi vòng quanh, dộng gậy xuống sàn đất, nam đánh trống, nữ múa và tất cả cùng hát. Tiếng gậy nhịp nhàng theo tiếng hát của những cô gái Bora ngực trần.
Bộ lạc người Bora chia làm nhiều họ. Mỗi họ sẽ có một con thú làm biểu trưng và thường nhảy múa để tưởng nhớ đến linh vật của họ. Hôm đó, họ nhảy những điệu múa để tỏ lòng tôn kính đến Sacha Vaca (một loài heo vòi chỉ có ở rừng Amazon), rồi chuyển sang điệu nhảy để tỏ lòng tôn kính con Manguare (một loài tương tự con diệc, bồ nông)… “Trong những buổi lễ hội, người Bora có thể nhảy múa như thế cả đêm”, người hướng dẫn giải thích.
Sau điệu nhảy, phụ nữ bỗng bao vây du khách và… chào bán đồ lưu niệm. Nói cho công bằng, những con búp bê, chiếc túi xách đan từ lá cọ kia thật sự là những tác phẩm nghệ thuật rất xinh xắn. Và quả thật, nếu muốn có hình ảnh “ấn tượng” về thổ dân vẽ rằn ri trên người, bận trang phục lạ lẫm, “bắt mắt” thì đây chính là cơ hội tuyệt vời. Nhưng đó không phải là thứ tôi vượt hàng ngàn cây số để tìm kiếm. Thổ dân Bora chỉ vậy thôi sao? Tôi lịch sự từ chối, lẳng lặng chuồn ra khỏi đám đông nhốn nháo đó.
Nguồn: Nguyễn Tập - TNO
Tải mã QRCode
ORHAN PAMUK
Trong bốn năm qua, tôi đã và đang viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử kể lại câu chuyện diễn ra vào năm 1901, trong suốt giai đoạn được biết đến với cái tên Trận đại dịch hạch thứ ba. Đó là một đợt bùng phát bệnh dịch hạch đã giết chết hàng triệu người ở châu Á khi mà châu Âu không chịu nhiều ảnh hưởng từ nó.
VALENTIN HUSSON
Trước hết, ta phải hướng sự chú ý đến động từ “cách ly” khi mà với tư cách là một ngoại động từ, nó có nghĩa là sự vứt bỏ ra khỏi một giới hạn; trong khi với tư cách là một nội động từ, nó hướng đến sự ràng buộc để ở lại trong một vài giới hạn nhất định. Nó vừa nói lên cả sự vứt bỏ lẫn sự rút lui; vừa hiện diện vừa vắng mặt.
HIỀN LÊ
Hiroshi Sugimoto (sinh năm 1948 tại Tokyo) là nhà kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia người Nhật.
Palomar là tác phẩm hư cấu cuối cùng của Italo Calvino (1923 - 1985), một trong những nhà văn lớn nhất của Ý ở thế kỉ 20, xuất bản tháng 11 năm 1983.
TRẦN KIÊM ĐOÀN
Nếu bình thường thì giờ nầy chúng tôi đang ở “hộp đêm” trong bụng máy bay Eva trên đường về Quê hương và đang vượt nửa sau Thái Bình Dương.
JEAN-CLET MARTIN
Trong thời điểm cách ly và tự cách ly này, thế giới tái khám phá ra chiều kích mang lại cho nó một phương hướng nhất định.
Slavoj Žižek, nhà triết học người Slovenia, được mệnh danh là “nhà triết học nguy hiểm nhất ở phương Tây” hiện nay. Ông nổi tiếng với tác phẩm Đối tượng trác tuyệt của ý thức hệ (The Sublime Object of Ideology, 1989), ở đó ông đã kết hợp quan niệm duy vật Marxist và phân tâm học Lacan để hướng đến một lý thuyết về ý thức hệ.
MARKUS GABRIEL
Trật tự thế giới bị lung lay. Một loại virus đang lây lan trên quy mô vô hình của vũ trụ mà ta không hề biết được những chiều kích thực sự của nó.
ĐỖ LAI THÚY
M. Bakhtin (1895 - 1975), nhà nghiên cứu văn học Nga - Xô viết có tầm ảnh hưởng bậc nhất ở Việt Nam. Ông là nhà lý luận tiểu thuyết. Người phát hiện/minh ra tiểu thuyết đa âm, tính đối thoại, nguyên tắc thời-không, tính nghịch dị và văn học carnaval hóa…
THÁI THU LAN
Émile Zola là một nhà văn hiện thực lớn nhất đồng thời cũng phức tạp nhất của nước Pháp ở cuối thế kỷ thứ 19, là người sáng lập lý luận về chủ nghĩa tự nhiên, là một tấm gương lao động không mệt mỏi, là một chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm chống chiến tranh phi nghĩa, chống quyền lực tàn bạo và bênh vực quần chúng lao động nghèo khổ.
NGUYỄN TÚ ANH - TRẦN KỲ PHƯƠNG
Trong nghệ thuật Ấn Độ cũng như nghệ thuật Chàm, hình tượng con chuột luôn mang ý nghĩa tốt đẹp, đó là con chuột nhà hay chuột nhắt (mouse), chứ không phải chuột cống.
ANĐRÂY GOCBUNỐP (Tiến sĩ ngôn ngữ học Liên Xô)
Gần đây đã có những khám phá rất có ý nghĩa ở Washington và London, trong những cuốn sách đã yên nghỉ trên các kệ sách thư viện trong cả bốn thế kỷ nay.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Jen học trước tôi hai năm, đàn chị. Cô là thường trú, PGY- 4, tôi là PGY- 2. Trong nghề chúng tôi, hơn nhau một năm đã là tình thầy trò, huống gì hơn hai.
LƯU TÂM VŨ
hồi ký
LTS : Nhà văn Lưu Tâm Vũ sinh năm 1942, tốt nghiệp sư phạm Bắc Kinh năm 1961, sau đó dạy học nhiều năm ở Bắc Kinh. Truyện ngắn đầu tay Chủ nhiệm lớp đoạt giải thưởng truyện ngắn ưu tú toàn quốc 1978, được coi là tác phẩm mở đầu cho văn học thời kỳ mới.
Cách đây 40 năm khi nhà xuất bản Morrow and Avon chi 5 triệu đô la cho James Clavell, tác giả những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Hồng Kông ngày ấy, Đại tướng quân, Whirlwind, giới xuất bản ở Mỹ choáng váng. Nhưng bây giờ tiền nhuận bút đã vượt xa kỷ lục ấy.
ALAN BURNS
William Carlos Williams cũng như bất cứ người nào, đến rất gần với việc nhận thức ra lý tưởng mới của chủ nghĩa hình tượng, nhất là trong những bài thơ như “The Great Figure” và “The Red Wheelbarrow”.
Đây là một câu chuyện về di dân được viết theo chương trình “Dự án chiếc giày” (The Shoe Project) được khởi xướng thành lập bởi tiểu thuyết gia Katherine Govier, Toronto, Canada. Chương trình này bao gồm việc giúp các phụ nữ di dân viết một câu chuyện 600 từ về kinh nghiệm di dân của mình và lên một sân khấu nhỏ để trình diễn (đọc) câu chuyện đó trước những khán giả trong vùng. “Dự án chiếc giày” được thực hiện ở Antigonish với sự giúp đỡ của tiểu thuyết gia Anne Simpson và nhà biên kịch Laura Teasdale.
NHƯ QUỲNH DE PRELLE
Tôi đã từng mơ ước về quê nhà để đọc thơ tiếng Việt, để thổn thức cùng thi ca tiếng Việt. Thế mà, ở nơi này, giữa trái tim châu Âu và trong lòng bạn bè quốc tế, tiếng Việt của tôi ngân lên giữa những nhịp điệu, những giọng nói hoàn toàn khác. Và tôi đi đọc thơ, tự bao giờ tôi cũng tự chuyển ngữ những bài thơ của chính mình với bạn đọc ở đây. Đi đọc thơ, bao điều thú vị và những mới mẻ.
HÂN QUY
(Phỏng vấn nhà báo lão thành LÉO FIGUÈRES)
PATRICIA HIGHSMITH