Kiran Desai - một ngôi sao quốc tế của văn học thế kỷ 21!

11:19 22/09/2008
FRANCOIS BUSNELKiran Desai là nữ văn sĩ người Ấn Độ. Cô sinh năm 1971 tại Dehli. Là con gái của nữ tiểu thuyết gia Anita Desai. Kiran Desai lớn lên và học tiểu học ở Dehli đến năm 14 tuổi. Sau đó, cô cùng mẹ sang Anh Quốc, rồi Hoa Kỳ, học trung học ở tiểu bang Massachussettes. Cô theo học lớp viết văn ở Virginie và sau đó học Đại học Columbia ở NewYork.

Các tác phẩm chính của Kiran Desai là Hullabaloo in the Guava Orchard (1999), đoạt giải Betty Trask Award; The Inherance of Loss (2006), đạt giải The Man Booker Prije, giải The National Book Award; giải The Hutch Crosswords. Với kết quả như trên, Kiran Desai thật sự trở thành nhà văn lớn người Ấn Độ đầu thế kỷ XXI.
                                                                                     Hồ Thế Hà giới thiệu

Con đường mang tên “Thứ 2” (Second street) ở Brooklyn thật đáng được đổi tên thành “đường của các văn hào”. Trên con đường sang trọng này, san sát nhau, toàn là những ngôi nhà xây theo kiến trúc thời Hoàng gia Anh Victoria . Đường này nằm gần công viên lừng danh Prospect Park , một công viên mà xưa kia một cậu bé của khu phố đã hát những bài hát ca tụng. Cậu bé đó chính là nhà văn Henry Miller.

Nhiều văn hào lớn của New York ở trên đường này: Paul Auster và Siri Hustvedt, Jonathan Safran Foer và Nicole Krauss. Và mới 2 năm nay, Kiran Desai, một nàng tiên của văn học, người Ấn Độ, dọn đến ở.
Mấy tháng trước đây, Kiran Desai còn vô danh. Cô là con gái của nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng tên là Anita Desai.
Những tiểu thuyết gia mà Kiran Desai ưa chuộng, nhất là Gabriel Garcia Marquez và Italo Calvino, đã khuyến khích cô phát hành quyển truyện đầu tiên Le Gourou sur la branche (Thầy đời ngồi trên cành cây), một truyện huyền thoại nực cười được viết trong khi cô theo lớp viết văn ở Đại học Columbia.  Quyển sách này đã được phát hành trong 22 nước.
Và sau đó? Sau đó là tiểu thuyết dày hơn 600 trang (bản gốc là 1 tác phẩm bộ ba). Cốt truyện rất hấp dẫn, chứa đầy ý tưởng và cảm giác. Tác phẩm này đã hoàn thành sau 7 năm công sức, và năm ngoái, đã đoạt Giải thưởng The Booker Price ở Anh Quốc và Giải The National Book Critics ở Hoa Kỳ. Sau đó là giải Hutch Crossword ở Ấn Độ. Đó là tiểu thuyết La Perte en héritage.

Tác phẩm La Perte en héritage (Truất quyền thừa hưởng) này sẽ phát hành ở Pháp, đã có 37 nước mua bản quyền tác giả. Tiểu thuyết này là một hiện tượng lớn cho đời sống văn chương của kỳ nhập học năm nay ở Pháp!
Tuy nhiên, Kiran Desai không hề nghĩ rằng mình trở thành minh tinh. Tựa như một sinh viên, cô tiếp khách một cách đơn giản, trong căn hộ ở Brooklyn . Mặc chiếc áo đầm bình thường, tóc xoã dài, cử chỉ rất nữ tính, người phụ nữ trẻ trung 35 tuổi này, thú nhận là “tôi bị bất ngờ bởi những điều xảy ra cho tôi”.
Ngày hôm nay, cô đã nổi tiếng hơn cả mẹ mình. Cô, là nhà tiểu thuyết có một sự nghiệp lừng lẫy. Nhưng, cô cứ khẳng định nói rằng sự thành công này, tất cả nhờ mẹ mình: “Sự đồng cảm của mẹ con tôi rất sâu đậm. Chính nhờ mẹ tôi mà lúc còn thiếu nữ, tôi đã có nghị lực để trở thành nhà văn. Mẹ là độc giả đầu tiên của tôi. Và là người duy nhất mà tôi bàn về những công việc viết lách của tôi. Nhưng nhà văn thực thụ, chính là mẹ tôi’.
Giữa cô và Mẹ, chẳng có gì tương đồng cả. La Perte en héritage nhắc gợi đến thế giới của Salman Rushdie, chứ chẳng có gì liên quan đến địa hạt của Anita Desai - mẹ cô.
“Vâng, tôi rất hâm mộ Rushdie”, Kiran Desai, vừa nói vừa thổi tách trà nóng. Đối với người Ấn Độ cùng thế hệ tôi, họ quan niệm nhà văn là người giải phóng ngôn ngữ, nhưng cũng là người giải phóng những giấc mơ. Trong thời gian tôi viết truyện này, Rushdie đã khích lệ tôi rất nhiều, và cho tôi nhiều lời khuyên quý báu”.
Thật ra, ông Rushdie đã làm hơn thế nữa, ông ta thốt trong tiếng cười:
“Kiran Desai quả thật là một nhà văn kỳ diệu!”.

Kiran Desai đã dám nói: Lúc mà các báo chí trên toàn cầu nói về nước Ấn Độ như là thiên đàng, một xứ đang phát triển mạnh, thì cô ta, gốc người Gujarat, sinh ra và học ở Delhi, đã sống ở London, ở Mexico, sau đó ở New York, lại nêu ra một cái nhìn khác về “nước Ấn Độ huyền diệu” này. Xứ Ấn Độ của cô ta là “một con tàu trôi lạc đường”. Báo chí chỉ muốn nhìn thấy bộ mặt hớn hở của Ấn Độ ngày nay”. Cô ta biện hộ như vậy. “Thật là ảo tưởng nếu tin rằng đó là sự thật đơn thuần. Mặt khác, Ấn Độ cũng là một nước bị giằng co giữa tính hiện đại và tính truyền thống, và trong khung cảnh đó, chính là sức mạnh của dục vọng và sức mạnh của tội lỗi va chạm nhau”. Chính cái bộ mặt này của Ấn Độ nằm trong lòng tiểu thuyết cực tinh vi và tế nhị này.
La Perte en héritage (Truất quyền thừa hưởng) châm biếm hiệu quả xã hội Ấn Độ, nhất là những thành phần cuồng tín và ngay cả những thành phần thích học tiếng Anh. Kiran Desai chính xác những chi tiết như “Họ có trình độ đại học, khát vọng yêu đương, thích có những mối tình theo kiểu Âu Tây, và, họ hân hoan sẽ có một đám cưới linh đình theo truyền thống Ấn Độ; cô dâu, chú rể sẽ mang đầy nữ trang: trang sức màu xanh (ngọc lục bảo), trang sức màu đỏ (ngọc rubi), trang sức màu trắng (kim cương)”. Họ rất kiêu hãnh, trong “sự thoả mãn” khiến cho nữ tiểu thuyết gia trẻ tuổi của ta rất ngạc nhiên và phẫn nộ.

Kiran Desai quyết đấu tranh chống lại “những sự thể hiện sai lầm mà người dân Ấn mắc phải nơi xứ sở của họ”. Đấu tranh cũng là vai trò của nhà văn: “quan tâm đến xã hội, nhất là trong thời kỳ biến động”; nhưng cô vội nói thêm “những nhà văn không được lấy cớ này để tính toán chuyện riêng tư của mình”.
Cô đã thể hiện sự đấu tranh này rất hay: Đọc quyển tiểu thuyết đầy nhập nhằng này, chúng ta thấy hiện lên một cách khéo léo những cây kim đâm vào lưng các bậc văn hào vĩ đại Ấn Độ, mà trước hết là ông V.S.Naipul, giải Nobel. Một trong những dòng đối thoại trong tiểu thuyết, nói về Naipul, có nhân vật thì nói:
- “Ồ! Ông ta là một văn sỹ giỏi”. Người thì đáp:
- “Ông ấy là một tác giả khép kín trong quá khứ, hủ lậu”.
- “Không thể ra khỏi đầu óc thuộc địa”.
Khi họ hỏi Kiran Desai, tại sao lại dám cả gan xâm phạm như vậy, thì cô ta gạt và chỉ trả lời: “Ồ! Đó chỉ là những đối thoại trong tiểu thuyết mà thôi”.
Chính ra La Perte en héritage không hẳn nói về quá trình thuộc địa, mà nói về vấn đề “toàn cầu hoá” và những hậu quả của nó.
Tiểu thuyết này diễn tả, lẫn lộn, hai câu chuyện, câu chuyện về cô Sai, và câu chuyện về anh Biju:
- Cô Sai là một cô gái mồ côi, lớn lên trong cô nhi viện, rồi cuối cùng về ở với ông của mình. Ông của cô là một Thẩm Phán dễ ghét. Nhà ông ta nằm sát tảng đá của núi Himalaya , trong một khung cảnh thơ mộng.
- Cô Sai yêu thầy dạy học của mình, một chàng sinh viên ít nói. Anh này đã dần dần trở thành cuồng nhiệt, một tín đồ của “trào lưu chính thống”, vì thế mà cô Sai, ngoài thân phận bình thường của phụ nữ Ấn, phải chịu đựng một mối tình “đau khổ, chờ mong, khuất phục”. Cô không hề biết “cảm xúc” là gì.
- Anh Biju là một chàng thanh niên sống ở New York , rất xa nơi ở của cô Sai. Anh ta đã trốn Ấn Độ để sang Mỹ, một xứ mà “người bần cùng cũng được ăn uống như những ông hoàng”. Để sinh tồn, anh làm bếp trong những nhà hàng ở Mahattan.

Đây là cái cớ mà nữ văn sỹ Kiran Desai dùng vài trang để biện lý hùng hồn về cái thế giới của những người sống loi nhoi dưới mặt đất, dưới bộ mặt thành phố bóng lậy, biểu tượng cho niềm hy vọng trở thành giàu có.
“Sau mặt tiền của các nhà hàng ăn uống, bếp núc thường đặt trong tầng hầm, dưới mặt đất. Ở nơi này, vô số dân cư, trong lòng chứa chan mơ tưởng, họ làm đủ mọi cách để được phép nhập cư ở nước Mỹ. Họ sống ẩn dật, họ chui nhủi, ngoài lề. “Ở Brooklyn , trong số này, có rất đông người Ấn. Và quyển sách tôi đã ám chỉ những người này”. Kiran Desai nói thế.
Qua hình ảnh Biju, Kiran Desai tả lại định mệnh của hàng triệu người Ấn, hàng năm, họ rời bỏ gia đình và xứ sở, chịu mọi tủi nhục và thù hằn, nhiều khi chịu nguy hiểm đến tính mạng để xin được “thẻ xanh”, thẻ này cho phép họ cư ngụ và làm việc hợp thức ở Hoa Kỳ.
Biju lang thang từ nhà hàng này sang nhà hàng kia, xin lao động đủ mọi việc, “sống trốn tránh như một tội nhân”. Anh ở trong một căn phòng chật hẹp ở khu Harlem . Trong khu này, người vô gia cư sống chung đụng cạnh những người điên khùng.
Và Kiran Desai đặt ra nhiều câu hỏi dễ “làm mất lòng”:
- Ở Hoa Kỳ, người ta có được hưởng những thứ mà xứ này có dành cho họ không? Họ cứ nằng nặc đòi ở lại đây cho dù họ phải chịu một hình ảnh sai lầm về họ?

Chuyện của Biju là một câu chuyện thất tình diễm ảo giữa Ấn Độ và phương Tây. Nhưng song song với những ảo tưởng và thất vọng của “Thế giới mới”, là sự bất ổn của nước Ấn Độ đang bị cấu xé bởi những phong trào cuồng nhiệt có tính cách “chủ nghĩa quốc gia” và sự kềm kẹp của những hủ tục truyền thống.
Kiran Desai không nhận là cô đã viết một tác phẩm luận đề, “tôi không muốn chỉ ra “Sự thật”. Sự thật của Ấn Độ ngày nay, hay sự thật của Hoa Kỳ ngày nay là gì? Tôi sống ở hai nước này đã nhiều năm nay, tôi không biết trả lời câu hỏi đó. Tôi chỉ kể những mẩu chuyện của những nước tôi biết và tôi yêu quý.
Nhưng tôi cũng thấy những mặt trái của những xứ này. Phận sự của nhà văn là tố cáo những điều trái: “Tại sao lại phải thán phục một cuộc sống hoàn toàn là ảo ảnh, vô nghĩa?”.

Kiran Desai hùng hồn, luyến thoắng khẳng định: nhân vật ắt phải quan trọng hơn khung cảnh họ thao diễn, cô nói không hề sợ sự thành công của cô làm cô mù quáng. Cô kể rằng không hiểu tại sao, nhân dịp cô đi Ấn Độ để giới thiệu sách vào mùa đông năm ngoái, “một cuộc biểu tình cực kỳ hung bạo, đã cản trở cô đến Kalimpong, một thành phố “khủng khiếp kỳ lạ” mà trong cảnh cuối của cuốn sách có đề cập tới.
Kiran Desai không có ý định trở về định cư ở mẫu quốc.
Mỉm cười, cô nói thêm: “Ấn Độ là ở đây, là ở New York, và cũng là ở London, ở Toronto và Dehli nữa”. Đối với cô, ở đâu cũng là xứ sở của mình, miễn sao cô có cây bút để, đêm đêm viết truyện.
Kiran Desai quả thật đã trở thành một trong những nhà văn lớn người Ấn Độ đầu thế kỷ này.
                                                             ĐỖ TRỊNH QUANG dịch

(nguồn: TCSH số 226 - 12 - 2007)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".

  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.