Kiệt tác giao hưởng số 40 của Mozart

09:55 22/06/2015

Đa số giao hưởng của Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) được viết ở giọng trưởng, chỉ có hai bản giao hưởng số 25 và số 40 đều được viết ở giọng thứ (Sol thứ).

Nhà soạn nhạc thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791)

Symphony No. 40 của Mozart đôi khi còn được gọi là  Giao hưởng lớn giọng Sol thứ để phân biệt với Giao hưởng nhỏ giọng Sol thứ (tức Symphony No. 25). Giao hưởng nhỏ được sáng tác ở tuổi 17, còn Giao hưởng lớn thuộc về bộ ba kiệt tác giao hưởng cuối cùng được Mozart soạn trong vòng ba tháng mùa hè năm 1788 (các bản số 39, 40 và 41), là một mẫu mực và nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả giao hưởng về sau.

Trước kia, trong giới âm nhạc học đã có giả thuyết rằng Mozart chưa từng được nghe trình diễn Symphony No. 40 cũng như bộ ba kiệt tác giao hưởng cuối cùng lúc sinh thời. Nhưng điều này đã bị các nhà âm nhạc học hiện đại bác bỏ. Bằng chứng họ đưa ra là một bức thư mới được phát hiện gần đây. Bức thư do nhạc sĩ Johann Wenzel (1762-1831) viết ngày 10/7/1802 gửi nhà xuất bản Ambrosius Kühnel tại Leipzig. Trong thư Wenzel nhắc tới một buổi hòa nhạc trình diễn Symphony No. 40 tại nhà nam tước Gottfried van Swieten với sự hiện diện của Mozart. Tuy nhiên chất lượng diễn xuất không cao do thiếu luyện tập đã khiến nhà soạn nhạc sớm rời khỏi khán phòng.

Một số bản sao các tờ chương trình hòa nhạc trong chuyến lưu diễn nước Đức vào năm 1789 của Mozart còn tồn tại đến ngày nay cũng khẳng định tác giả đã mang theo tác phẩm và cho trình diễn tại Dresden, Leipzig và Frankfurt. Bản sao tờ áp phích quảng cáo buổi hòa nhạc ngày 17/4/1791 do Tonkünstlersocietät (Hội nhạc sĩ) tổ chức tại Vienna dưới sự chỉ huy của Antonio Salieri cũng nêu rõ tiết mục mở đầu chương trình là “một bản giao hưởng lớn của ngài Mozart”.

Symphony No. 40 có tới hai phiên bản khác nhau. Phiên bản đầu tiên không có sự tham gia của hai kèn clarinet. Khi sửa lại tác phẩm, Mozart đã bổ sung bè clarinet vào biên chế nhạc cụ và chỉnh sửa đôi chút ở bè oboe cho thích hợp. Bản giao hưởng gồm bốn chương nhạc như thông lệ của trường phái cổ điển Vienna. Ngoại trừ chương thứ ba, các chương còn lại đều được viết ở hình thức sonata. Tác phẩm có thời lượng biểu diễn khoảng 26 phút.

Chương nhạc thứ nhất ở tốc độ Molto allegro bắt đầu ngay bằng phần trình bày chủ đề chính mà không có phần mở đầu theo truyền thống cổ điển. Ở đây tính chất hiếm có của cảm xúc âm nhạc là một bước tiến táo bạo. Nỗi xao xuyến xúc động ở chủ đề chính càng tăng thêm ở phần phát triển. Đoạn kết chan chứa nỗi buồn thầm lặng và ước mơ trữ tình.

Chương hai Andante thấm thía và cảm động.

Chương ba Minuet hầu như không có tính chất nhảy múa mà là một khúc nhạc nghiêm túc, chững chạc. Trong phần trio của chương ba, các yếu tố của điệu nhảy thượng lưu quý tộc mới được thể hiện rõ hơn.

Chương cuối Allegro assai gần gũi với chương đầu ở tính chất của những hình tượng với chuyển động nhanh, sôi nổi, hình thức gọn gàng.

Symphony No. 40 của Mozart là một mẫu mực và nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả giao hưởng về sau. Ludwig van Beethoven đã chép lại 29 ô nhịp từ tác phẩm này vào một cuốn sổ tay. Rất có thể chủ đề mở đầu chương cuối Symphony No. 40 của Mozart là cảm hứng để Beethoven soạn chương ba giao hưởng số 5 “Định mệnh”. Hai bản giao hưởng này cũng giống nhau ở chỗ gây ấn tượng tức thời cho người nghe ngay từ những ô nhịp đầu tiên. 50 năm sau khi Mozart qua đời, Franz Liszt lúc tiến hành chuyển soạn chín bản giao hưởng của Beethoven cho đàn piano đã khẳng định rằng ngoại trừ âm lượng mỏng và sự đa dạng âm sắc thì người ta có thể tái tạo được ý nghĩa của thứ âm nhạc này trên đàn phím. Còn Mendelssohn thì bình luận: “Ồ, nếu Liszt có thể chơi đoạn mở đầu Giao hưởng giọng Sol thứ của Mozart bằng đàn piano như là nó được dàn nhạc chơi thì tôi tin ông ấy.”

Xét về số lượng giao hưởng, Mozart sáng tác ít hơn Joseph Haydn, nhà soạn nhạc đã cho ra đời tới hơn 100 bản giao hưởng và được coi là cha đẻ của thể loại. Nhưng với cuộc đời ngắn ngủi chỉ 35 năm và chất lượng cao đồng đều thì con số 41 bản giao hưởng của Mozart thật không thể xem thường.


Với thính giả hậu thế, Symphony No. 40 luôn gây tác động mạnh mẽ nhưng theo các cách rất khác nhau, thậm chí là trái ngược. Vào thế kỉ 19, một nhà phê bình âm nhạc người Nga nghe thấy trong đó “nỗi bối rối đam mê, những khát khao và nuối tiếc của một tình yêu bất hạnh”. Màn sương thương cảm bao phủ tác phẩm khiến nó được ví như cuốn tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Werther của Johann Wolfgang von Goethe. Nhưng Robert Schumann thì ngợi ca nó vì “vẻ thanh thoát và duyên dáng kiểu Hy Lạp”. Còn theo Alfred Einstein, một học giả về Mozart ở thế kỉ 20, thì bản giao hưởng mang tính chất “bi hùng” và có những đoạn nhạc “đắm chìm trong vực thẳm tâm hồn”. Hai đồng nghiệp của Einstein cho rằng tác phẩm “được viết bằng máu của chính tác giả”, trong khi những nhà bình luận khác lại coi trọng hơn hết những liên quan của nó tới thế giới opera hài. Sự đa chiều về cảm xúc này cũng là dễ hiểu với âm nhạc của Mozart bởi chẳng mấy khi có thể tìm được lời lẽ diễn đạt hoàn toàn thỏa đáng cho kiệt tác âm nhạc của một thiên tài.

Nguồn: Ngọc Anh - Tia Sáng

 


 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện ra rằng Luwig van Beethoven đã soạn nhạc theo nhịp đập trái tim mình. Theo họ, những nhịp điệu ấn tượng trong một số tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc có thể xuất phát từ chứng loạn nhịp tim của ông.

  • Có lần tôi hỏi một nhóm các nhà soạn nhạc trẻ mà tôi đang giảng dạy xem liệu có thứ âm nhạc hiện đại nào khiến họ không ưa chăng. Hơn một nửa số người đã nhắc đến Pierre Boulez.

  • Joseph Haydn là một nhà soạn nhạc đáng kinh ngạc và hài hước là một phần trong nghệ thuật tuyệt vời của ông.

  • Nhạc: NGUYỄN VIỆT HOÀNG
    Thơ:   NGUYỄN THÀNH PHONG

  • George Harrison của ban nhạc The Beatles gọi ông là “bố già” của dòng World Music. Yehudi Menuhin, Philip Glass, André Previn, Zubin Mehta và David Murphy từng hợp tác ra album hoặc chỉ huy tác phẩm của ông. Nhiều nghệ sĩ độc tấu, trong đó có nghệ sĩ flute Jean-Pierre Rampal hay nghệ sĩ cello Mstislav Rostropovich, đều từng mời ông biểu diễn cùng. Ông là nghệ sĩ đàn sitar, nhà soạn nhạc cổ truyền Ấn Độ Ravi Shankar.

  • LÊ ĐÌNH BÍCH

    Sau lần dự buổi giảng dạy về văn hóa và âm nhạc của chúng tôi cho sinh viên Đại học SIT - Hoa Kỳ theo kế hoạch thường niên hợp tác giữa Đại học Cần Thơ và Đại học SIT, nghiên cứu sinh tiến sĩ âm nhạc Alexander M. Cannon, thuộc bộ môn âm nhạc học Đại học Michigan quyết định về Cần Thơ nghiên cứu âm nhạc Tài Tử Nam Bộ - một phần trong luận án tiến sĩ của anh.

  • Nền Âm nhạc Việt Nam vừa phải đau đớn tiễn biệt những vị nhạc sĩ tài hoa liên tiếp chỉ trong một thời gian ngắn, từ Trần Văn Khê, Phan Huỳnh Điều, Phan Nhân cho tới An Thuyên. Trong số này, nhạc sĩ An Thuyên được coi là gương mặt tiêu biểu của dòng âm nhạc dân gian đương đại.

  • Mặc dù tên tuổi của Cristofori ít được phổ biến rộng rãi, nhưng cây đàn piano do ông tạo ra đã trở thành nhạc cụ có tầm ảnh hướng rất lớn đến nền âm nhạc và xã hội loài người.

  • Âm nhạc cổ điển vốn có tiếng là quý phái song cũng đầy rẫy những cuộc luận chiến và những vụ bê bối. Clemency Burton-Hill chọn ra một vài sự vụ đình đám nhất trong số đó.

  • Huế và chùa, hai mảnh ghép trong vô tận mảnh ghép cuộc đời họ Trịnh, chỉ duy, chúng hình như gần trái tim của người nhất, hay nói cách khác, Trịnh đã hít thở từ khi còn nằm nôi...

  • NGUYỄN VIỆT

    Tuyển tập Rừng hát do Nxb. Văn học ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc tháng 1/2015, là một công trình xuất bản văn học nghệ thuật công phu, chất lượng và rất đáng trân trọng về những tác phẩm và công trình nghiên cứu của nhạc sĩ, nhà văn, nhà biên kịch, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian Minh Phương.

  • Sau hơn một năm điều trị bệnh, dù được các y bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng vì tuổi cao, sức yếu, nhạc sĩ Hồ Bông đã trút hơn thở cuối cùng vào lúc 16 giờ 15 ngày 23-4, tại Bệnh viện Thống Nhất, TPHCM.

  • Martin Jarvis, giáo sư âm nhạc người Wales hiện đang giảng dạy tại ĐH Charles Darwin, Úc, vừa đưa ra một số bằng chứng cho rằng người vợ thứ hai của Bach, Anna Magdalena, mới chính là tác giả thực sự của một số tác phẩm lớn của ông, bao gồm cả bộ tác phẩm Cello Suites kinh điển.

  • “19 tháng 8”, “Giải phóng Điện Biên”, “Tiến về Hà Nội”, “Đất nước trọn niềm vui”, “Như có Bác trong ngày đại thắng”…là những khúc tráng ca đầy hào hùng và xúc động ngợi ca chiến thắng của quân và dân ta, gắn liền với những mốc son của lịch sử dân tộc.

  • Các dòng nhạc ít nhiều đều góp phần nuôi dưỡng lẫn nhau. Ta có thể nói các bài hát của Adele có cấu trúc giống các ca khúc nghệ thuật của Schubert và việc vay mượn giai điệu có thể đã không tồn tại nếu không có Dvorák.

  • Trong cảnh phong trần của lịch sử dân tộc, mỗi con người đều mang chút thân phận éo le, không cứ gì các bậc tài danh. Nhưng tài danh thì nhiều người biết đến, và trở thành tiêu biểu, như  nhạc sĩ  Đoàn Chuẩn (1924-2001) đã ra đi ngày 15 tháng 11, 2001 tại Hà Nội, mà những ngày se lạnh  đang nhắc lại những khúc ca mùa thu tuyệt diệu mà ông là tác giả.

  • Nhà soạn nhạc người Anh Richard Blackford vừa cho ra đời một tác phẩm giao hưởng chưa từng có: “The Great Animal Orchestra” (Dàn nhạc Động vật Vĩ đại), lồng ghép những âm thanh của các loài vật hoang dã vào chất liệu của một dàn nhạc giao hưởng hoàn chỉnh. Không chỉ là một tác phẩm âm thanh ngoạn mục, bản giao hưởng còn đặt ra những câu hỏi đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa động vật, con người và âm nhạc.

  • VĂN THAO 
    Trích hồi ký Văn Cao - Đời & nghiệp

    Mùa thu năm 1947, từ Lào Cai, Văn Cao trở về Vĩnh Yên. Ông cùng gia đình mở một quán cà phê tại chợ Me Lập Thạch tiếp tục làm báo Độc Lập và phụ trách một cơ sở in báo đóng tại Thản Sơn.

  • Tiếp theo sự ra đời của nhiều trường phái mới cùng song song tồn tại như Ấn tượng, Biểu hiện, Tân Cổ điển, Nhạc 12 âm v.v. với những cách tân để thay thế cho những quy phạm cũ của nền âm nhạc truyền thống, nửa sau thế kỷ 20 lại chứng kiến một cuộc cách mạng triệt để không kém về triết lý sáng tác, từ đó cho ra đời các tác phẩm thể hiện những tư tưởng cá nhân đầy táo bạo.

  • Từ anh bộ đội trở thành nhạc sĩ

    Tên khai sinh của nhạc sĩ Xuân Giao (ảnh) là Trương Xuân Giao, sinh ngày 2-1-1932, tuy quê hương ở Hưng Yên, nhưng ra đời ở Tiên Lãng, TP Hải Phòng, lớn lên học Trường chuyên khoa Phan Thanh ở tỉnh Thái Bình.