Khóc trong cười

14:44 03/06/2022

DƯƠNG PHƯỚC THU
              Truyện ngắn dự thi

Kìa, lão đang đứng trước mắt chúng tôi đây, tay ngửa ra xin của bố thí, và đợi chờ một chút ân huệ nhỏ nhoi...

Minh họa: Đỗ Kỳ Huy

Với khoảnh khắc ngắn ngủi, chúng tôi không ai bảo ai cùng nhau dốc sạch số tiền lương công chức ít ỏi còn lại của những ngày cuối tháng cho lão. Bằng một cử chỉ nghĩa hiệp, lão chắp hai bàn tay thiếu ngón ép số tiền vừa kiếm được, xá chúng tôi rồi lắc mình khật khưởng bước đi qua những người khác, và động tác cứ lặp lại như vậy thành một chu kỳ.

Trong suốt hành trình, kể từ lúc hừng đông cho đến khi mặt trời rơi hẳn phía Tây thành phố, lão đã đi trên mười lăm cái chợ và hơn hai chục quán hàng: không bị gậy, không chén bát, không có vật gì vướng víu - lão dùng duy nhất một thứ của tạo hóa, ban phát phải dùng - bàn tay, bàn tay trái bị cụt mất hai ngón ngửa ra, to xù chai sạn (hình như tay phải của lão bị liệt thì phải) đã bị các vết nhơ bẩn che lấp làm mờ đi những đường vân chỉ tay (có lẽ lão cố ý) nên anh bạn tôi, tiến sĩ chiêm tinh học kiêm khoa tướng số (nghề gia truyền nổi tiếng mười đời của nhà anh) cũng không tài nào "nhìn thấy một chút dấu hiệu của hậu vận đời lão còn lại đi về đâu?".

Thi thoảng buồn tình hay có bạn bè rủ, tôi lại ra cái "quán thịt chó giá rẻ" của cái thằng cha trước đây chuyên đi thu thuế chợ như đi trấn lột, rút cuộc sinh ra năm đứa con đều nói ngọng, còn bà vợ bỗng nhiên lên cơn tăng-xông rồi thành mãn tính lúc tỉnh lúc mê như có ma dẫn lối quỉ đưa đường. Bây giờ hắn bỏ nghề "thu thuế" về mở quán - nhưng vẫn tiếc nguồn thu lợi khi xưa nên đứng bán thịt chó kiếm lời - song cũng mong tu tâm tịnh đức hòng cứu vớt sau này, mới có danh "quán thịt chó giá rẻ" mà kỳ thật đâu có rẻ gì! Ở quán nầy tôi hay gặp lão; nên biết rằng giờ đây lão sống bằng chính vào nguồn thu nhập do thiên hạ hảo tâm: đôi lúc của anh nhà giàu hay sĩ! Một chút từ tâm của những phật tử đã nguyện chân tu làm việc thiện, hay của những con chiên vâng mệnh Chúa trước giây phút mủi lòng đắc đạo. Lão có cái mà sống, mặc cho sự vần vũ của kiếp đời.

Lão cười! Phải thừa nhận rằng lão cười nhiều hơn khóc, đôi lần quan sát tôi thấy rằng khóc của lão chính ở điệu cười "cười ra nước mắt mà lỵ?” Tiếng cười của lão nhiều khi nghe như tiếng gió xoáy rít liên hồi, tiếng mưa tuôn giá buốt và hồng hộc như con thú lạc bầy bị thương. Sau đó lão mới khóc, nhưng tiếng khóc của lão thật êm dịu và rất ngắn. Một lần lão đang cười, mặt méo xệch, rồi bỗng nhiên im bặt và từ từ ngửa bàn tay cụt ngón ra chợ đợi thời vận đánh rơi một vật gì đó. Trong khi "chờ thời vận" quá lâu buộc lão phải xẵng giọng "đặt vấn đề" thẳng thắn như một mệnh lệnh:

- Cho nhà ông xin tý gì kiếm sống! Tiếng nói nặng, giọng khàn rè như chiếc loa bị rách màng, bàn tay cụt ngón giật giật nhắm hướng người ngồi định xin áp sát. Nghe lão nói, anh bạn "ngụ cư" của tôi lên tiếng. Anh nói rằng ở cái xứ nầy (chỉ quê nội của tôi) bất cứ làm việc gì cho dù anh đang thắng thế cũng phải đề phòng, phải nhã nhặn lời ăn tiếng nói và luôn tìm chỗ đứng thế thủ để "mã hồi” nhanh nếu cảm thấy thất bại. Và anh khuyên lão đừng nói vậy đừng nói vầy kẻo thất bại.

Anh chân thành quá, nhưng chưa dứt lời đã bị lão nổi cáu, mặt tím bầm, hai hàm răng siết mạnh vào nhau phát ra một thứ âm thanh như người thợ đan quạt cạo da cây tre giang ghê rợn, rồi chìa bàn tay cụt ngón chỉ vào mặt anh bạn "ngụ cư" của tôi mà rồ giọng:

- Nhà ông đói, nhà ông đi xin chứ có làm phiền đứa nào đâu mà ông sợ - Lão thét lên - Cho thì cho không thì thôi việc đếch gì phải hạ thân chiều lụy - nhục ơi là nhục!

Lão lại cười rồi nổi giận bỏ đi, còn chúng tôi ngồi lặng như trời trồng...

Kẻ ăn mày của chúng ta đã có một thời oanh liệt: lúc ở làng từng đoạt nhiều giải vật võ hàng tỉnh. Cái dáng chắc nịch màu đồng thau, cao khoảng thước bảy mươi, phô diễn cơ bắp cuồn cuộn, nở nụ cười sảng khoái đầy mỹ mãn mỗi khi chàng bước lên bục danh dự nhận giải trước ánh mắt chiêm ngưỡng của hàng vạn người. Rút cuộc, cô con gái cưng của ông chủ lò vật bước theo chàng chấp thuận làm người nâng khăn sửa túi. Năm tháng trôi vèo, chàng và nàng đã cho ra đời hai thằng xích tử! Tưởng hạnh phúc ấy bên nhau trọn đời, ai dè - mùi thuốc súng khét lẹt đã lan đến tận cái làng cát quê chàng. Gác cày cuốc, chia tay vợ con - làm trai nước Việt, chàng khoác súng lên đường ra trận... ở chiến trường anh đánh giặc cực giỏi, đơn vị anh cũng vào loại đánh cực hay. Công lao của anh treo đỏ ngực, nhưng toàn thân của anh cũng đầy những vết thâm đen lâu dần hóa thành sẹo. Một lần đơn vị anh ở mũi tiên phong được lệnh đánh thẳng vào đầu não của kẻ thù mở màn cho chiến dịch. Bỗng trước mắt anh chớp đỏ, xanh lè, đất dưới chân rung lên, tai ù điếc và toàn thân thể anh cứ bồng bềnh bay cao, bay cao như vô tận vào cõi không gian mờ mịt...

Tiếng súng ngừng tạm thời giữa hai trận đánh, ai cũng tưởng anh đã hi sinh, nhưng số kiếp không ác nghiệt như nó muốn. Anh bị thương ở chân và một mảnh đạn xớt nhẹ lớp mỏng hộp sọ phía đỉnh đầu, cũng may chưa tới phần não (bây giờ đặt tay lên ta có cảm giác mềm mềm và phập phồng như nhịp thở nên anh phải luôn luôn bảo vệ đầu bằng chiếc mũ lưỡi trai có đệm lớp bìa cứng suốt quanh năm).

Trận ấy đơn vị của anh hy sinh bảy mươi ba chiến sỹ!

Anh bạn cùng xã khác thôn nhập ngũ cùng lần với anh được phong quân hàm đại tá.

Sau ngày xuất viện, anh có bước đi khật khưỡng, trí nhớ mất đi, lúc cười lúc lại khóc, lúc hô xung phong rồi đánh trần hoa chân múa tay đi quyền vật võ. Khi quân y viện đã không "điều chỉnh" được trí nhớ của anh về lại như xưa. Một ngày đẹp trời chiếc co măng ca quân sự đưa anh trở lại cái làng cát quê hương nơi có người vợ chờ chồng và hai thằng con ngóng bố!

Thật kỳ lạ, trước mảnh làng quê hương sao anh không còn nhận ra một điều gì nữa, tất cả đã đi đâu? Vợ anh đâu? con anh đâu? Cái đám tung hô anh thắng cuộc ngày xưa đâu rồi?!...

* * *

Theo thông tin của tổ trưởng dân phố khu vực có "quán thịt chó giá rẻ" thì lão xuất hiện ở đây sau trận bão năm 1985. Lúc đầu không ai để ý, vì chỉ là kẻ ăn mày như bao ăn mày khác, nhưng rồi cử chỉ của lão làm họ để mắt tới.

Lão xin ăn bằng những thứ gì ăn được ngay, còn tiền lão để giành trong một cái túi khâu dưới nách tay phải (túi này do lão tự chế tạo để bảo vệ an toàn tài sản công dân) cũng tưởng rằng lão góp nhặt cho mai sau, nhưng không. Có tiền rồi, lão đi tìm bọn trẻ cỡ chín mười tuổi, đứng nhìn xem chúng nô đùa, khi thật chán mắt lão mới gọi chúng lại, gạ gẫm:

- Lại đây các cháu, lại đây ông cho tiền mua kẹo nầy! Rồi lão móc tiền ra đếm như muốn khoe với chúng. Bọn trẻ con thành phố ngạc nhiên, nghi ngờ, nhưng cũng kéo đến vây tròn quanh lão. Chúng cảnh giác theo dõi mọi hành động của ông già lạ lùng. Còn lão đưa tiền cho bọn nhóc nhưng đòi được đổi lại:

- Ông sẽ cho tiền, đứa nào cho Ông hôn cái đã, xoa đầu cũng được, hoặc sờ, sờ chim - lão cười - sờ chim tý ông cho tiền nhiều hơn, à cho hết!

Nghe vậy bọn trẻ cười ồ rồi ù té chạy. Lão khật khưỡng đuổi theo. Chẳng may cho đứa bé chậm chân để lão tóm được, thế là một trận mưa hôn hít đổ xuống khắp thân thể thằng bé, rồi hứng chí lão sờ chim nó, kéo mạnh quá làm đứa bé khóc thét lên. Người đi đường dừng lại định can thiệp, nhưng lão đã đặt thằng nhỏ xuống nhét toàn bộ số tiền kiếm được vào túi nó, hôn nó lần cuối. Thằng nhỏ tuột khỏi tay lão, ù té chạy.

Lão chôn chân tại chỗ cười rung người, nước mắt từ mạch nguồn sâu thẳm trong ký ức tuôn trào như mưa làm nhòa đi không gian trước mắt lão. Bọn trẻ đã đi xa... Giờ đây lão kiếm được nhiều hơn trước - có lẽ lão đã lựa lời chăng? Rồi lão khật khưỡng đến các nhà trẻ mẫu giáo (một cuộc điều tra cho hay các nhà trẻ mẫu giáo trong thành phố nầy đều thấy bóng dáng lão xuất hiện) đứng nhìn chúng chơi đùa, chúng hát lão cũng hát theo, chúng nhảy múa lão cũng nhảy múa theo. Khi đã chán mắt, lão ném toàn bộ số tiền đang có cho bọn trẻ, mặc chúng làm gì thì làm. Lão khoái chí "khóc" rồi "cười"... Bọn trẻ phố tôi bây giờ đâm ra khoái lão. Chúng nói rằng lão kể chuyện đánh nhau với tụi Mỹ ở Khe Sanh hay lắm, rằng sau kể chuyện còn được xem lão đi quyền võ vật rồi được cho tiền nữa, nhưng thỉnh thoảng bị lão kéo "chim" đau dễ sợ!

Ngày lão trở lại mảnh làng quê sau gần mười lăm năm chinh chiến, nhưng than ôi! Dân làng kể lại rằng vợ con lão ra đi khi bữa cơm chiều chưa chín tới!...

Người ta đưa lão về trại an dưỡng mong hàn gắn bớt nỗi đau cho lão, nhưng mùi đồng quê khơi gợi và tiếng gà gáy mỗi sáng mai làm lão sực tỉnh. Lão trốn trại tìm về quê với "vợ con làng xóm", nhưng ác nghiệt thay, vết thương đỉnh đầu không để cho lão nhớ lâu, thế là lạc đường và cuộc hành trình tìm lại dĩ vãng của lão cứ bồng bềnh trôi dạt trong mênh mông trời đất...

Giờ đây khi tôi biết đích thực về quá khứ của lão thì đã muộn, người ta không còn tìm thấy bóng dáng khật khưỡng của người ăn mày chuyên đi tìm trẻ em để "sờ chim" ở thành phố nầy nữa.

Tin đồn rằng ông đã qua tỉnh khác, hoặc có thể trở lại cái làng cát quê hương tiếp tục kiếm tìm?! Riêng điều này có thực: Anh bạn cùng xã khác thôn với ông đã đưa vợ con lên Hà Nội ở và mới đây được phong quân hàm cấp tướng trước lúc hồi hưu.

Huế, 1990-1993
D. P. T.
(TCSH57/09&10-1993)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.