Khái niệm “vè” trong nhan đề các tác phẩm thuộc thể loại cùng tên

10:08 13/08/2021

TRIỀU NGUYÊN

1. Hiện nay, “vè” là tên của một thể loại, thể loại vè, thuộc văn học dân gian Việt Nam.

Ảnh: internet

Có cần đặt “vè” trước tên gọi các đơn vị văn bản thuộc thể loại này không? Một số tác giả trả lời là có, nhưng cũng không ít người bảo ngược lại. Chẳng hạn, đọc tên các tác phẩm được một số tài liệu ghi chép chúng vào thể loại vè, như sau: 1) Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ: a) “Sai anh trẩy Trấn Hưng” (tr. 60); b) “Phong cảnh làng Hương Nha” (tr. 60), c) “Cảnh làng Dị Nậu” (tr. 64); d) “Vè bán đồng” (tr. 67); e) “Chạy giặc năm 1892” (tr. 69);…(1); 2) Tài liệu Văn học dân gian Thái Bình: a) “Vè Bùi Đá và Hoàng Sỏi” (tr. 288); b) “Vè Ba Vành” (tr. 299); c) “Vè chống giặc biển” (tr. 304); d) “Vè Tạ Hiện” (tr. 309); e) “Vè Bang Tốn” (tr. 311);… (2) giờ nhà Nguyễn đã hư” (tr. 225); b) “Hoàng triều nay đức Hàm Nghi” (tr. 228); c) “Gặp vận phong ba” (tr. 234); d) “Tây vô Cửa Hội” (tr. 236); e) “Tây vô đốt phá tả tơi” (tr. 240);…(3); 4) Tài liệu Văn học dân gian Quảng Bình: a) “Vè mùa đông binh sĩ” (tr. 262); b) “Vè đảm phụ quốc phòng” (tr. 267); c) “Vè trận Phù Trạch” (tr. 271); d) “Vè khuyên chồng” (tr. 273);…(4); 5) Tài liệu Vè Thừa Thiên Huế: a) “Vè bảo ban con gái (bài I)” (tr. 93); b) “Vè năm đói” (tr. 125); c) “Vè Tự Đức lên ngôi” (tr. 142); d) “Vè Lợi Nông” (tr. 295); e) “Vè đi Tây” (tr. 307);…(5); 6) Tài liệu Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa): a) “Vè mưa lâm râm” (tr. 429); b) “Vè các loại rau” (tr. 430); c) “Vè hạ thú thượng cầm” (tr. 433); d) “Vè chê thầy pháp”; e) “Vè ở mướn” (tr. 454);…(6); 7) Tài liệu Văn học dân gian Sóc Trăng: a) “Vè chạy giặc” (tr. 788); b) “Vè Việt Minh” (tr. 790); c) “Vè 25 tháng Tám” (tr. 793); d) “Vè tranh đấu” (tr. 795); e) “Vè đánh trận Xẻo Me” (tr. 806);…(7)

2. Có thể thấy: nếu cho số lượng tác phẩm vè được nêu ở các tài liệu là bằng nhau, thì kém nửa không ghi “vè” vào tên gọi, trong lúc già nửa kia lại có. Dù các nhìn nhận vừa nêu được rút ra từ thực tiễn, nhưng cũng cần giải thích, nhất là trường hợp sau. Chẳng hạn, việc ghi “vè” vào đầu tên gọi có cơ sở từ lịch sử văn học hay không?

2.1. Ở văn học viết thế giới, một số tên thể loại (chẳng hạn: kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn,…), có khi được nêu sau tên tác phẩm dịch sang tiếng Việt, như một chú thích. Thử đọc một số: 1/ Những tên cướp (tập kịch) - của F. Sinle (Đức), Tất Thắng và Nguyễn Đình Nghi dịch (1983), Nxb. Văn học, Hà Nội; 2/ Gatxbi vĩ đại (tiểu thuyết) - của Scott Fitzgerald (Xcốt Fítgiêrơn, Mĩ), Hoàng Cường dịch (1985), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội; 3/ Ngõ hẻm dưới ánh trăng (truyện và ký) - của Xtêfan Xvaig (Stêfan Zweig, Áo), Phùng Đệ, Lê Thi, Dương Tường dịch (1984), Nxb. Thanh Hóa;… 4/ Mưa (truyện ngắn) - của Somerset Maugham (Xômơxét Môôm, Anh), Nguyễn Việt Long dịch (1984), Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội.

Bài viết tạm đặt các yếu tố thể loại trong ngoặc đơn để tiện trình bày, chứ các tài liệu được dẫn đều in chữ bé hơn số chữ của nhan đề sách, ở bìa chính và trang phụ bìa (mà không đặt trong ngoặc đơn). Theo cách hiểu: [nhan đề sách] thuộc thể loại x; như Mưa thuộc thể loại truyện ngắn (x = truyện ngắn), nên Mưa là một tập hợp gồm nhiều truyện ngắn (“mưa” có thể là nét nghĩa chung cho các truyện, hoặc trong số những truyện ấy, có một truyện tên là Mưa - điều vừa nêu thuộc trường hợp sau). Khi tên sách chỉ duy nhất một văn bản, thì x có thể đặt trước thể loại x của [nhan đề sách]: thí dụ, có thể viết “Gatxbi vĩ đại tiểu thuyết”, đồng thời, cũng có thể viết “tiểu thuyết Gatxbi vĩ đại”. Theo đó, việc đặt trong ngoặc đơn hay ghi bằng cỡ chữ bé, ngay sau nhan đề một sáng tác (được in thành sách) là nhằm chú dẫn về mặt thể loại của tác phẩm ấy (lưu ý: dù cỡ và màu chữ không có tác dụng thay dấu câu, trong đó có dấu chú thích, nhưng khi trình bày sách - bìa và trang phụ bìa - người ta thường cho là có thể thay thế được).

2.2. Trong nhan đề thơ thời kỳ trung đại Việt Nam, cũng tìm thấy một số tác phẩm thuộc thể loại hay kiểu dạng văn bản liên quan, như “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… ở tên gọi. Chẳng hạn, “Ngọc tỉnh liên phú” (Mạc Đĩnh Chi), “Hoàng Lê nhất thống chí” (Ngô gia văn phái), “Long Thành cầm giả ca” (Nguyễn Du), “Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiều), “Dương phụ hành” (Cao Bá Quát), “Hoán tỉnh châu dân từ” (Khuyết danh), “Tự tình khúc” (Cao Bá Nhạ),… Không khó nhận ra, các từ mang tính thể loại, kiểu dạng tác phẩm, được đặt ở cuối nhan đề bằng Hán văn. Những nhan đề này khi chuyển sang tiếng Việt, có thể giữ nguyên (như “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Dương phụ hành”, “Tự tình khúc”,…), hoặc đưa lên trước (kiểu “Ngọc tỉnh liên phú” thành “Bài phú về hoa sen trong giếng ngọc”), có khi bỏ đi (8).

Trần Trọng Kim (1950), trong Đường thi (Nxb. Tân Việt, Sài Gòn), đã dịch nhan đề của 33 bài có “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”, là bài, (khúc) hát. Trong lúc, nhiều dịch giả (1988), trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb. Văn học, Hà Nội), đã giữ nguyên, không chuyển “hành” thành bài hát như ở Đường thi (cả bốn bài có “hành” ở tài liệu này, như “Sở kiến hành” được dịch là “Bài hành về những điều trông thấy”, tr. 356). Cũng bài “Sở kiến hành” ấy, sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX (Huỳnh Lý chủ biên (1987), Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 470) dịch là “Những điều trông thấy”, tức bỏ “hành”.

2.3. Không khó nhận ra, nếu trường hợp đầu (việc chú thể loại ở văn chương bác học), chỉ có phần gần gũi, thì ở trường hợp sau (một số tác phẩm văn học trung đại, ghi “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,… trong nhan đề), đã thực sự tương ứng với hiện tượng các bài vè có ghi thể loại này vào tên gọi.

Mỗi khi đã như vậy, tức vấn đề có gốc gác từ lịch sử, thì việc nhìn nhận ít nhiều cũng xuất phát từ đó. Nếu làm khác thì hoặc khiên cưỡng, ngụy biện, hoặc mắc lỗi với cha ông.

Cũng nói thêm, hiện tượng trước thì có tên thể loại, sau đó lại không, như một số tác phẩm có ghi “thi” (thơ) vào nhan đề (kiểu “Khải hành thi” (Bài thơ lên đường), “Vấn Hằng Nga thi” (Bài thơ hỏi chị Hằng), “Toạ nguyệt thuật hoài thi” (Bài thơ tỏ nỗi lòng lúc ngồi ngắm trăng),…, của Lê Thánh Tông (1442 - 1497), thế kỉ thứ XV, hay “Ngẫu thành thi” (Thơ ngẫu thành), “Cảm hứng thi” (Thơ cảm hứng),…, của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), thế kỷ thứ XVI,…), chừng vài thế kỷ trở lại đây, có hiếm hơn; hiện nay, trong thơ hiện đại, hầu như không tìm thấy. Ngay các tác giả vừa nêu, với vấn đề đặt ra, cũng chỉ có một ít (không phải bất kỳ một sáng tác thơ nào của hai nhà thơ đều vậy, như với Lê Thánh Tông, chỉ một số có ghi “thi” vào nhan đề, tập trung ở Chinh Tây kỉ hành - ba tác phẩm vừa ghi đều được trích ở đó).

3. Có thể nêu vài nhận xét để khép lại vấn đề như sau:

- Trường hợp một số tài liệu có hoặc không ghi “vè” vào tên gọi tác phẩm thuộc thể loại cùng tên: a) Các tỉnh, xứ thuộc Đàng Trong (từ Quảng Bình trở vào Nam) ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài vè cụ thể nhiều hơn các tỉnh, xứ thuộc Đàng Ngoài (từ Hà Tĩnh hướng ra Bắc); b) Khi ghi “vè” vào đầu các nhan đề của bài, thì có khả năng nó sẽ làm chủ ngữ cho cả tổ hợp, tức biến vai trò khái quát của thể loại thành một yếu tố cụ thể của tên gọi - như văn bản “Vè chạy giặc”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] chạy giặc”, tác phẩm “Vè khuyên chồng”, có thể hiểu: “Bài vè [về việc] khuyên chồng”,...; ở đây, chúng danh hóa các tổ hợp động ngữ (“chạy giặc”, “khuyên chồng”). Trường hợp dịch tác phẩm nước ngoài, các yếu tố thể loại (như thơ, kịch, tiểu thuyết,…) được nêu kèm nhan đề như một chú thích: do tách rời, nên các tên thể loại vừa kể, về lĩnh vực ngữ pháp, không thành một yếu tố của nhan đề, hòng biến vai trò thể loại thành một phần tử của tổ hợp tên gọi đặt ra.

- Nói rõ hơn, việc có hay không tên gọi thể loại, kiểu dạng văn bản trong nhan đề tùy thuộc vào vai trò, vị trí của thể loại ấy ở người sưu tập, người thưởng thức. Chẳng hạn, ở một xã hội chuộng thơ như nước ta, mà bài thơ nào cũng có từ “thi” (hay “thơ”) trong nhan đề, là không cần thiết; bởi người nghe/đọc chỉ cần sau vài dòng là biết ngay bài ấy là thơ (thậm chí, thơ của ai), thì cần gì phải ghi nữa. Nhưng cũng có một số thể loại, kiểu dạng mà nếu không ghi, e người đọc sẽ không biết thật; như một số trường hợp đã nêu, hoặc “chiếu”, “cáo”, “hịch”, “thuyết”(9),... của văn học trung đại Việt Nam.

- Việc nêu “vè” trong nhan đề của những tác phẩm thuộc thể loại cùng tên ở nước ta, cho thấy xuất phát điểm của vấn đề liên quan đến văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, tên một số văn bản kiểu phú, chí, ca, ngâm, hành, từ, khúc, chiếu, cáo, hịch,… được ghi vào nhan đề sáng tác như vè. Người ta có thể dịch nó hay không; tương tự với việc, có thể gọi đó là “bài vè [về việc]…”, hay nếu thấy không cần thiết, thì cứ đi thẳng vào nội dung chính cũng được (theo lối đặt tên vè phổ biến ở các địa bàn thuộc Đàng Ngoài, đã ghi).  

T.N
(SHSDB41/06-2021)

---------------------------
1. Tài liệu Văn hóa dân gian huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (Dương Huy Thiện (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 60-72) chép 8 bài vè, trừ “Vè bán đồng”, 7 bài còn lại không ghi tên “vè” ở nhan đề; theo đó, tổng số bài có ghi “vè” trong nhan đề chiếm 12,5%.
2. Theo Văn học dân gian Thái Bình (Phạm Đức Duật (Chủ biên) (1981), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 288-384 - năm 2012, sách này được Nxb. Lao động in lại, có sửa chữa, bổ sung).
3. Tuy tài liệu Kho tàng vè xứ Nghệ, 9 tập (Ninh Viết Giao (1999, 2000), Nxb. Nghệ An), so với sáu đầu sách còn lại (được dẫn ở mục này) chỉ chiếm một phần bảy, nhưng nó có đến hơn 1.100 bài vè (hầu hết không ghi “vè” vào nhan đề như thế), nên số lượng văn bản của tài liệu này vượt trội, là điều cần chú ý.
4. Theo Văn học dân gian Quảng Bình (Trần Hùng (Chủ biên) (1996), Nxb. Văn hóa Thông tin, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Bình kết hợp xuât bản, tr. 212-275).
5. Theo Vè Thừa Thiên Huế (Tôn Thất Bình (Chủ biên) (2001), Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên Huế xuất bản, Huế).
6. Theo Ca dao, dân ca, vè, câu đố huyện Ninh Hòa (Khánh  Hòa) (Trần Việt Kỉnh (Chủ biên) (2011), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 428-463).
7. Theo Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên (Chủ biên) (2012), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 695-836).
8. a/ Trường hợp “bỏ đi”, được trình bày tiếp theo. Do “phú”, “chí”, “ca”, “ngâm”, “hành”, “từ”, “khúc”,... đặt sau các tên gọi tác phẩm Hán Việt, khi chuyển chúng sang thuần Việt thì từ tương ứng được đặt lên đầu nhan đề, là điều ai cũng biết, nên không cần thiết phải nêu; b/ Xem thêm: Triều Nguyên (2002), “Ý nghĩa của ca, ngâm, hành, từ, khúc trong nhan đề thơ cổ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (51), tr. 36-40.
9. Như: “Thiên đô chiếu” (Chiếu [về việc] dời đô, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), 974 - 1028), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi, 1380 - 1442), “Dụ chư tì tướng hịch văn” (thường gọi Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn, 1232 - 1300), “Thiên cư thuyết” (Bài thuyết về chuyện dời nhà, Cao Bá Quát, 1809 - 1854),...




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN BÀN 

    Hồi còn học trung học, khi đọc Truyện Kiều, chúng tôi đinh ninh rằng Thúy Kiều gặp Kim Trọng lúc tuổi “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”, nghĩa là khoảng 15, 16 tuổi. Nay đọc cuốn Tìm hiểu Truyện Kiều của tác giả Lê Quế (Nxb. Nghệ An, 2004) thì thấy Thúy Kiều gặp Kim Trọng lúc 22 tuổi.

  • PHẠM PHÚ PHONG 

    Nguyễn Hữu Sơn là nhà nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, là phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện Văn học và Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Văn học.

  • LUÂN NGUYỄN

    Trần Đức Thảo, với người Việt, hiển nhiên là một trí tuệ hiếm có. Trong tín niệm của tôi, ông còn là một trí thức chân chính. Một trí thức dân tộc.

  • MAI VĂN HOAN

    Trong những tháng ngày ở Châu Thai chờ đợi Từ Hải, sau khi diễn tả nỗi nhớ của Kiều đối với quê nhà, cha mẹ, Nguyễn Du viết: Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

  • NGUYỄN HỒNG TRÂN

    Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng.

  • VĂN NHÂN

    Trong bài thơ viết về dòng sông Hương, Nguyễn Trọng Tạo có bốn câu khá hay: Con sông đám cưới Huyền Trân/ Bỏ quên giải lụa phù vân trên nguồn/ Hèn chi thơm thảo nỗi buồn/ Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ (Con sông huyền thoại).

  • THÁI KIM LAN  
    (Đôi điều về Con Đường Mẹ Đi)

    Trước tiên, khi thử nhìn lại con đường của Mẹ - Đạo Mẫu, tôi lại muốn đánh dấu chéo gạch bỏ những khái niệm “Đạo Mẫu”, Tiên Thánh Liễu Hạnh, Thánh Cô và một loạt những nhân vật được tôn sùng cho sức mạnh, thế lực hàng đầu của nữ giới Việt, thường được hóa thánh, sùng thượng một thời.

  • THÁI DOÃN HIỂU

    Thân sinh của Cao Bá Quát là ông đồ Cao Hữu Chiếu - một danh nho tuy không đỗ đạt gì. Ông hướng con cái vào đường khoa cử với rất nhiều kỳ vọng.

  • ANNIE FINCH  

    Chúng tôi khát khao cái đẹp thi ca, và chúng tôi không e dè né tránh những nguồn mạch nuôi dưỡng chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng với chủ nghĩa Toàn thể hình thức (omniformalism), cho một thi pháp phong phú và mở rộng, giải phóng khỏi những doanh trại của những cuộc chiến thi ca đã chết rấp.

  • Chuyên luận THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC (Nxb. Hội Nhà văn - Song Thuy bookstore, 2012, 458tr) gồm ba phần: Phần một: THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC, Phần hai: CHÂN TRẦN ĐẾN CÁI KHÁC, Phần ba: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA CÁI KHÁC.

  • NGUYỄN QUANG HUY

    (Khảo sát qua trường hợp "Người sông mê" qua cái nhìn của lí thuyết Cổ mẫu)

  • NGUYỄN HỮU TẤN

    Trong buổi lễ mừng thọ thất tuần, Sigmun Freud đã từng phát biểu: “Trước tôi, các thi sĩ và triết gia đã sớm phát hiện ra vô thức, còn tôi chẳng qua cũng chỉ khám phá ra những phương pháp khoa học để nghiên cứu vô thức mà thôi”.

  • Tóm lược bài nói chuyện trao đổi một số vấn đề về tình hình văn học Xô viết những năm 80, đặc biệt là sau Đại hội 27 của GSTS V. Xmirnốp trong chuyến thăm Huế với Chi hội Nhà văn Bình Trị Thiên của đoàn cán bộ Học viện văn học Gorki (Liên Xô cũ) do nhà thơ Valentin Xôrôkin, phó Giám đốc Học viện và GSTS Vladimia Xmirnốp đã sang Việt Nam giảng dạy tại trường Viết văn Nguyễn Du năm 1987.

  • Tỳ kheo THÍCH CHƠN THIỆN

    Theo Spaulding - The “New Rationlism”, New York, Henry Holt and Conpany, 1918, pp. 106 - 107 -, Aristotle nêu lên ba nguyên lý cơ bản của tư duy:

  • TRẦN NGUYÊN HÀO

    Năm 1987, tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa của Liên hiệp quốc, UNESCO trong cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 24 (tại Paris từ 20/10 đến 20/11) đã ra Nghị quyết phong tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh danh hiệu kép: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”.

  • ĐỖ HẢI NINH

    Quan sát hành trình Thơ mới, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vào đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, Thơ mới bắt đầu có dấu hiệu chững lại, thậm chí khủng hoảng về cảm hứng và thi pháp.

  • JU. LOTMAN

    Từ “biểu tượng” (symbol, còn được dịch là tượng trưng, biểu trưng, phù hiệu, kí hiệu) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(1).

  • PHẠM TẤN HẦU

    Trong bản tham luận về mảng thơ trên trang viết đầu tay của Tạp chí Sông Hương do anh Hoàng Dũng trình bày tôi thấy có chủ ý nói đến tính khuynh hướng. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được đặt ra một cách chặt chẽ, sâu sắc. Theo tôi, nếu hướng cuộc thảo luận đến một vấn đề như vậy chắc sẽ đem đến cho những người viết trẻ nhiều điều bổ ích hơn.

  • ĐỖ VĂN HIỂU

    Tóm tắt
    Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 Phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên.

  • LƯỜNG TÚ TUẤN

    Việc lý luận văn học thống nhất coi “ngôn ngữ là chất liệu của văn học” đã không vì thế mà dành cho cái chất liệu ấy một vị trí xứng đáng trong những luận thuyết và “diễn giải” của mình.