SHO - Sáng ngày 17/3, Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Liên hiệp các hội VHNT Thừa Thiên -Huế tổ chức Hội nghị - Hội thảo Mỹ thuật khu vực Bắc miền Trung lần thứ nhất tại thành phố Huế.
Quang cảnh hội thảo
Tham dự Hội nghị - Hội thảo, có gần 150 đại biểu là các hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam các chi hội thuộc các 6 tỉnh thuộc khu vực Bắc miền Trung gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế; đại diện lãnh đạo các cơ quan văn hóa, văn nghệ ở Trung ương, các tỉnh thành trong khu vực; đại diện Ban Chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam và một số nhà lý luận - phê bình Mỹ thuật quan tâm đến Mỹ thuật Bắc miền Trung.
|
|
|
Đoàn Chủ tịch Hội thảo Họa sĩ Đặng Mậu Tựu - Chủ tịch Hội VHNT TT-Huế, Họa sĩ Trần Khánh Chương - Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam và Họa sĩ Vi Kiến Thành - Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam (từ trái qua) |
Với tính chất “kép” của buổi gặp mặt và thảo luận lần này, Hội nghị - Hội thảo đã đi sâu vào những chủ đề về đánh giá những thành tựu đã đạt được trên các phương diện sáng tác, công bố tác phẩm, đội ngũ, đào tạo, các hoạt động Mỹ thuật, tác giả, tác phẩm và những đề xuất về tổ chức, các hoạt động nhằm đưa Mỹ thuật khu vực phát triển vững mạnh trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
|
|
| Họa sĩ Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, trình bày tham luận tại Hội thảo |
Các bài tham luận đã tổng kết những chặng đường của Mỹ thuật khu vực Bắc Miền Trung qua những giai đoạn gắn liền với lịch sử dân tộc: trước cách mạng tháng 8; trong kháng chiến chống Pháp, Kháng chiến chống Mỹ, thời kì đổi mới và giai đoạn hiện nay. Đáng chú ý nhất là bài viết: “Mỹ thuật khu vực Bắc miền Trung một chặng đường” của Họa sĩ Trần Khánh Chương; “Một thoáng Mỹ thuật khu vực Bắc miền Trung trước cách mạng tháng 8” của tác giả Khánh Phương; “Hội họa Bắc miền Trung những năm thánh không quên” qua hoài niệm của họa sĩ Lê Trí Dũng …
|
|
|
Họa sĩ Đặng Mậu Tựu - Chủ tịch Hội VHNT TT-Huế trình bày tham luận: " Mỹ thuật Huế hôm nay với những cái cần có để phát triển" |
Bên cạnh đó, Hội nghị - Hội thảo đã dành nhiều thời gian để bàn luận, đánh giá về thành tựu cũng như tồn tại trong sáng tác theo các chuyên ngành sáng tác như Hội họa, Đồ họa, Điêu khắc, Mỹ thuật ứng dụng, Phê bình mỹ thuật. Các tham luận “Mỹ thuật ứng dụng khu vực Bắc miền Trung-một mảnh đất cần chăm bón” của họa sĩ Nguyễn Thiện Đức, “Tính cách Mỹ thuật Bắc miền Trung” của nhà Phê bình Nguyễn Đỗ Bảo… đã tập trung làm rõ những chủ đề chuyên ngành trên.
Mặt khác, nhiều bài viết đã tập trung về đánh giá tổ chức, đội ngũ và các hoạt động chuyên môn, công bố tác phẩm của 6 tỉnh Bắc miền Trung. Trong đó, nổi bật lên những chủ đề lớn như: vị trí Mỹ thuật Bắc miền Trung trong nền Mỹ thuật hiện đại Việt Nam; sự liên kết hoạt động giữa các hội Mỹ thuật của khu vực Bắc miền Trung; Đào tạo Mỹ thuật của khu vực; bàn về các tác giả-tác phẩm tiêu biểu của Mỹ thuật Bắc miền Trung (đội ngũ các thế hệ, tác giả trẻ, tác giả nữ) ; Những đề xuất về tổ chức và hoạt động Mỹ thuật khu vực Bắc miền Trung.
Đặc biệt, Hội nghị - Hội thảo cũng đã chỉ rõ những điểm còn tồn tại đáng lưu tâm như việc phát triển hội viên còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng; các tỉnh trong khu vực ít hợp tác trong các hoạt động Mỹ thuật chung; không nhiều tác phẩm đóng góp vào các công trình quần chúng; một số tỉnh còn là “vùng trắng” của các giải thưởng lớn như giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước…
Hội nghị - Hội thảo Mỹ thuật khu vực Bắc Miền Trung lần thứ nhất diễn ra trong hai ngày 17 và 18/3, đã tạo điều kiện cho các nghệ sĩ tạo hình của khu vực có thời gian và điều kiện nhìn lại những chặng đường đã qua và những quan tâm, định hướng cho sự phát triển của Mỹ thuật khu vực trong tương lai.
PV
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.