Kẻ hách dịch

14:48 31/08/2022

ROGER DEAN KISER (Hoa Kỳ)

Tôi bước vào nhà hàng Huddle House ở Brunswick, Georgia và ngồi ngay quầy vì hết sạch chỗ. Tôi cầm thực đơn lên và bắt đầu xem những món ăn khác nhau và cố quyết định sẽ ăn sáng hay nhịn tới trưa luôn.

Ảnh: internet

“Xin lỗi.” Ai đó nói khi chạm vào vai tôi.

Tôi nhìn lên và nghiêng sang bên thấy một phụ nữ khá xinh đang đứng trước mặt.

“Roger là tên của bạn thì phải?” Cô ấy hỏi tôi.

“Vâng.” Tôi trả lời, khá bối rối vì tôi chưa từng thấy người phụ nữ này trước đây.

“Tên tôi là Barbara, còn chồng tôi là Tony,” cô nói, chỉ cái bàn phía xa gần cánh cửa vào phòng vệ sinh.

Tôi nhìn theo hướng cô chỉ nhưng tôi không nhận ra người đàn ông đang ngồi một mình ở bàn ăn.

“Tôi xin lỗi, tôi… a… tôi… ờ, không rõ. Tôi không nghĩ rằng tôi biết các bạn, anh chàng... Nhưng tôi tên là Roger. Roger Kiser.” Tôi nói với cô ấy.

“Tony Claxton. Tony, trường trung học Landon, Jacksonville, Florida?” Cô ấy hỏi tôi.

“Tôi thực sự lấy làm tiếc. Cái tên ấy không gợi nhớ được gì.” Tôi nói.

Cô quay lưng, trở lại bàn của mình và ngồi xuống. Cô và chồng cô bắt đầu nói chuyện liền và lâu lâu tôi thấy cô ngồi quay lại nhìn thẳng vào tôi.

Tôi cuối cùng đã quyết định dùng điểm tâm và một tách cà-phê-lọc-sạch- chất-ca-phê-in. Tôi ngồi đó, vắt óc cố nhớ cái tay Tony này là ai.

“Chắc mình biết hắn,” tôi tự nhủ. “Hắn hẳn vì lý do nào đó mới nhận ra mình chứ.” Tôi nâng tách cà phê lên nhấp một ngụm. Đột nhiên nó lóe trong tôi như một tia chớp.

“Tony. Tony Bò Đực.” Tôi lẩm bẩm, đu đưa qua lại trên chiếc ghế cao ở quầy và hướng mặt về phía hắn.

“Kẻ hách dịch trong khối lớp Địa 7 của tôi,” tôi nghĩ.

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Bao nhiêu lần thằng cha tội lỗi đó chế nhạo đôi tai quá khổ của tôi trước mặt các bạn nữ trong lớp? Bao nhiêu lần thằng cha đáng khinh tội lỗi đầy mình này đã cười đểu tôi vì tôi không có cha mẹ và phải sống trong cô nhi viện? Bao nhiêu lần thằng cha  to xác hách dịch này chặn đường ra oai, nắm cổ tôi đẩy vào dãy tủ khóa ở hành lang chỉ để chứng tỏ hắn đích thị là ông lớn trong trường?

Hắn giơ tay và vẫy tôi. Tôi mỉm cười, vẫy trả rồi xoay ghế lại và bắt đầu dùng điểm tâm.

“Chúa ơi. Giờ hắn quá ốm. Không phải cái gã lực lưỡng mà tôi nhớ vào năm 1957.” Tôi nhủ thầm.

Thình lình tôi nghe thấy tiếng tách đĩa vỡ vì vậy tôi nhìn quanh xem có chuyện gì xảy ra. Tony đã vô tình đụng phải tách đĩa khiến chúng văng khỏi bàn, rớt xuống nền khi hắn đang cố leo lên xe lăn - chiếc xe đã để ở hành lang dẫn vào phòng vệ sinh khi họ ăn. Cô phục vụ chạy đến và bắt đầu nhặt những mảnh vỡ lên. Tôi nghe thấy Tony và vợ hắn xin lỗi rối rít.

Khi Tony ngồi xe lăn, được vợ đẩy, đi ngang qua chỗ tôi, tôi nhìn lên, thân thiện cười.

“Roger”, hắn gục đầu về phía trước, chào.

“Tony”, tôi đáp, gật đầu chào lại.

Tôi nhìn theo khi họ ra khỏi cửa và chậm chạp tiến về phía chiếc xe tải cỡ trung. Chiếc xe van này bên hông có cửa trượt, thanh ngang tự hạ xuống nâng lên để tiện cho xe lăn.

Tôi ngồi xem vợ hắn ráng sức, hết lần này đến lần khác, kéo cái thang nghiêng, nhưng nó vẫn kẹt cứng. Cuối cùng tôi đứng dậy, trả tiền cho bữa ăn của tôi, và tôi bước tới chiếc xe tải.

“Có chuyện gì vậy?” Tôi hỏi.

“Cái thứ chết tiệt thỉnh thoảng bị mắc thế.” Tony nói. “Anh có thể giúp tôi đưa anh ấy vào trong xe chứ?” Người vợ nhờ.

“Tôi nghĩ mình làm được.” Tôi nói và nắm chiếc xe có Tony ngồi trên, lăn đến cửa hành khách.

Tôi mở cửa và khóa phanh xe lăn.

“Ô-kê. Ôm chặt cổ nha, công tử bột.” Tôi nói, cúi xuống và nắm quanh thắt lưng, cẩn thận nâng hắn, đặt vào ghế hành khách trong xe tải.

Khi Tony buông cổ tôi ra, tôi vươn tay xoay sửa đôi chân mềm uột quặt quẹo của hắn, từng chân một, cho ngay lại.

“Cậu nhớ. Phải không?” Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, nói.

“Mình nhớ, Tony,” tôi nói.

“Tớ đoán cậu đang nghĩ cười người hôm trước hôm sau người cười”, hắn hạ giọng.

“Mình chả bao giờ nghĩ thế, Tony,” tôi nói, với cái nhìn lạnh lùng trên gương mặt.

Hắn vươn người nắm lấy cả hai tay tôi, siết chặt.

“Có phải cảm giác của tôi khi ngồi trên xe lăn chính là tâm trạng của cậu hồi trước khi cậu sống trong cô nhi viện?” Hắn hỏi tôi.

“Gần như thế, Tony. Ông rất may mắn. Ông có người đẩy ông đi đây đi đó, người yêu thương ông. Tôi đã không có ai cả.” Tôi trả lời.

Tôi lục túi lấy cái card có số điện thoại nhà của tôi trên đó và tôi đưa cho hắn.

“Lâu lâu gọi cho mình nha. Chúng ta sẽ ăn trưa,” tôi nói với hắn. Cả hai chúng tôi đều cười.

Tôi đứng đó nhìn họ đã lái xe về phía tiểu bang và cuối cùng biến mất vào đoạn đường dốc chạy về phía nam. Tôi hy vọng một lúc nào đó hắn sẽ gọi cho tôi. Hắn sẽ là người bạn duy nhất mà tôi có từ thời trung học.

Hồ Nghĩa dịch
từ nguyên bản tiếng Anh (The Bully)
Nguồn: eastoftheweb.com

(TCSH402/08-2022)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.