“Có lần tôi hỏi anh Học: Tư tưởng cách mệnh của mày nảy ra từ hồi nào? Anh đáp: Từ năm độ lên mười tuổi! Hồi ấy tao còn học chữ Nho ở nhà quê...”.
Ảnh: L.Điền
Ðây là câu đối đáp của Nhượng Tống và Nguyễn Thái Học, dẫn trong tập tiểu sử của nhà lãnh đạo VN Quốc Dân đảng. Nhượng Tống là “bạn cùng thề” với Nguyễn Thái Học, đã nhận lấy việc viết quyển tiểu sử này là nghĩa vụ. Một cuốn tiểu sử, được viết bởi người bạn từng xưng hô mày - tao như thế thật là đặc biệt. Quyển này in lần đầu vào năm 1945, vừa được tái bản nhờ nỗ lực của Công ty Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn.
Tập sách mỏng, chỉ 141 trang, nhưng là tư liệu quan trọng bởi những tư liệu tác giả có được từ thời Nguyễn Thái Học còn đi học, đến lúc nhen nhóm việc thành lập VN Quốc Dân đảng, và các diễn biến trong quá trình hoạt động của tổ chức chính trị ấy.
Ðiểm quan trọng là Nhượng Tống viết dưới góc nhìn của người trong cuộc, nên những sự kiện được nhìn ở cự ly gần, lý giải bằng những nguồn tin trọng yếu, có những nguồn tin gần như duy nhất vì là đồng chí của nhau mới có thể biết.
Cho nên tuy vắn tắt, tập tiểu sử này hệ thống một loạt vấn đề tuy gọi là tiểu sử Nguyễn Thái Học nhưng kỳ thực là sự kiện lịch sử, biến cố chính trị một thời. Như cung cách tổ chức VN Quốc Dân Ðảng, những người trung kiên, những kẻ phản bội, các cuộc điều đình với những đảng chính trị khác cùng thời, diễn biến cuộc khởi nghĩa Yên Bái, cả việc ném bom ở Hà Nội, tiến công ở Hưng Hóa, Lâm Thao... mà lâu nay chính sử chưa nhắc được tường tận.
Nhượng Tống là cây bút kỳ tài lúc bấy giờ. Ðến nay, đọc văn ông vẫn thấy một tấm lòng tha thiết với sự nghiệp cách mạng của các đồng chí, đồng thời cũng phơi bày gan ruột những yếu kém non nớt không tránh khỏi của những người làm chánh sự thời kỳ đầu chỉ có lòng nhiệt thành muốn đánh đuổi thực dân, mưu độc lập cho dân tộc.
Trong lời giới thiệu sách, nhà sử học Dương Trung Quốc nhận định: “Sách chứa đựng nhiều tư liệu có giá trị để các thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu và viết về Nguyễn Thái Học, tổ chức VN Quốc Dân Ðảng cùng cuộc khởi nghĩa Yên Bái”.
Theo Lam Điền - TTO
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.