Hy sinh

10:45 02/12/2011
TRẦN CHẤN UY Đơn vị đặc công chúng tôi nhận mật lệnh thọc sâu hậu cứ địch chuẩn bị địa bàn cho chiến dịch Mậu Thân. Nói đơn vị cho có vẻ sang, nhưng thực ra chúng tôi chỉ có mười hai người kể cả một đồng chí du kích dẫn đường.

Ảnh: internet

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Đơn vị tác chiến, trang bị hết sức gọn nhẹ. Cuộc chuyn quân phải tiến hành gấp rút trong mùa mưa để kịp thời "lót " đón quân chủ lực. Đoàn quân lặng lẽ đi trong những cánh rừng mùa mưa sũng nước. Không thể đi men hoặc lội theo những dòng suối một cách thuận lợi như mùa khô. Mùa mưa, tất cả những con suối cạn, suối con, suối mồ côi đều bị đánh thức, cuộn mình như những dòng sông hung hãn. Đường hành quân trở nên hết sức gian khổ. Chúng tôi mang theo những trang bị như móc sắt, đinh sắt, thang bằng dây mây rừng giống như những người thi leo núi đỉnh Chô-mô-lung-ma. Nhiều khi đơn vị phải vượt qua những vách đá dựng đứng, trơn nhẫy, chỉ cần trượt chân hay nhỡ tay là tỏm xuống thung lũng mờ mt bụi nước, sâu như vực thẳm dưới chân núi. Rừng Trường Sơn mùa mưa thật ảm đạm. Mưa rả rít hết trận này đến trận khác. Chúng tôi ngập đi trong nước. Nước từ tri trút xuống, từ đất ùn lên, từ bờ bụi dây leo chằng chịt hai bên quệt vào. Sut ngày ướt như chuột lột. Áo qun ướt dính vào da thịt lạnh cóng. Những trận sốt rừng được thể nổi lên dữ dội. Đầu nặng như chì, nhức như búa b. Mắt tóe ra từng quầng hoa lửa. Đu gối, khớp xương mỏi như dần. Nước da ngấm nước tái xám, nhợt nhạt. Những hàm răng va vào nhau lập cập. Mưa m ướt lớp lá mục dày hàng thước làm cho sên vắt sinh sôi nảy n nhiều vô kể. Thôi thì đủ các loại vắt: Vắt vàng, vắt nâu, vắt tím từ dưới đất giống như một nong tằm đang kỳ ăn rỗi. Vắt bám vào chân leo lên tận nách.

Rừng già mùa mưa thật khắc nghiệt, tất cả đều ướt sũng. Mưa hàng mấy tháng rồi còn gì! Thật tiếu lâm, giữa rừng mà thiếu củi. Có gạo nhưng không thể thi cơm ăn, cứ "nện" lương khô và nước sui hết ngày này sang ngày khác. Họa hoằn chúng tôi mới tìm một hốc đá nhen lửa để luộc ống tiêm, tiêm cho những người bị ốm. Nhen được lửa Trường Sơn mùa mưa quả là một kỳ công. Chúng tôi phi bớt đi từng cái bì thư quý giá, từng cái quai dép cao su ít ỏi để đốt lên một ngọn lửa nhỏ nhoi vừa đủ làm sôi một ấm nước nhỏ xíu. Sức khỏe của bộ đội gim xuống trông thấy. Những hốc mắt trũng sâu xuống, những gò má xám chì nhô cao lên. Nước da ai cũng tái mét, môi thâm xì lại. Lương thực mang theo cạn dần.

Tất c
những sự vất vả ấy, đối với chúng tôi - những người lính đặc công Trưng Sơn chỉ là chuyện thường. Thật ái ngại cho Thư, du kích dẫn đường, người con gái duy nhất trong đội. Liệu cô ấy có thể chống chọi được với hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt của mùa mưa Trường Sơn hay không? Với tm tuổi ấy, miền Bắc, em gái mình đang theo học ở nhạc viện Hà Nội. Trời ơi, giá mà không có chiến tranh thì Tôi bất giác mm cười với cái ý nghĩ ngồ ngộ của mình.

Thư có dáng người thanh mảnh, n
ước da trắng hồng, mái tóc để xõa chm eo lưng. Trông Thư giống như một cô gái con nhà khá giả ở thành thị. Thật mới đầu chúng tôi cũng khó mà tin được một cô gái vùng ven trông xinh là thế mà đã có một lý lịch mang đầy huyền thoại về những thành tích chiến đấu. Trông hiền lành, xinh đẹp vậy mà đã ba lần dũng sĩ chứ ít gì.

Tôi nhớ cái hôm Thư lên hậu c đón chúng tôi. Thú thật tôi hơi bị hẫng. Chúng tôi đã được báo trước là có đồng chí du kích vùng ven về đón. Cứ nghĩ đó là một đồng chí du kích đã lớn tuổi, mặt mũi gân guốc, cao lớn ngang tàng ra dáng "anh chị" hay chí ít cũng phải là một chàng thanh niên lực lưỡng, tầm thưc, tay chân chắc nịch như rễ lim, rễ đước, đánh giặc dữ như h v. Ai ngờ! Hôm được tin đồng chí du kích đến, chúng tôi đang đánh "tiến lên" vội quẳng ván bài đang đến lúc sát phạt chạy ra. Trời ơi, thất vọng! Dần đường mũi đột kích lại là một "Ami" xinh tươi kiều diễm thế này ư? Chúng tôi, ai cũng cười mm, t ý hơi coi thường cái cô gái có dáng người mềm mại mà hiền lành ấy. Trung đội trưởng Thịnh gật gù an ủi.

- Thôi! Cũng được. Chc chắn là chúng ta sẽ cắt rừng vất vả hơn, nhưng có một cô gái xinh đẹp như thế giữa Trường Sơn thâm u này để "cải thiện mắt" thì cũng được.

Chúng tôi gật đầu đồng tình với sự
an ủi đó. Cánh lính tr bắt đầu sà vào tán. Dãy nhà lá bỗng râm ran tiếng cười nói không hề hạ gam của cánh đặc công khi đã về hậu cứ, cứ xả ga hết cỡ, chẳng ý tứ lịch sự gì cả. Cô gái vẫn lặng lẽ nhìn chúng tôi mỉm cười. Đôi mắt bồ câu đen láy ánh lên một niềm vui hồn hậu. Bất giác, ánh mắt ấy dừng lại tôi, khiến cho câu đùa ác tôi chưa kịp nói đã bật ra đằng tai biến mất làm tai tôi lùng bùng như có ai mang bộ trống đánh bên cạnh mình với cường độ hàng ngàn đề-xi-ben. Toàn thân tôi bỗng nổi hết gai ốc, mồ hôi vã ra, chuếnh choáng như vừa uống rượu. Thú thật lần đầu tiên trong đời, tôi mới hiểu cái mà người ta thường gọi là "sóng khuynh thành". Cũng không rõ từ lúc nào, tất cả chúng tôi đã chuyn từ thái độ đùa cợt sang thương yêu. Tất cả đều coi Thư như là một cô em gái và mỗi người đều phải có trách nhiệm nâng niu, giúp đỡ.

Tối hôm đó đơn vị tổ chức
liên hoan văn nghệ. Toàn ca sĩ "đực rựa" giọng vịt đực, hát như là hô khu hiệu. Thật bất ngờ, giữa buổi biu diễn, cậu Sô (phụ trách văn nghệ) giới thiệu một tiết mục ngâm thơ của Minh Thư, du kích vùng ven. Bài thơ "Quê hương" của Giang Nam, tôi thuộc từ ngày còn đi học cấp hai. Bài thơ hay thật, nhưng chưa bao giờ tôi thấy xúc động như lúc này, khi được nghe qua giọng ngâm của Minh Thư. Giữa chốn núi rừng bạt ngàn này, tự nhiên giọng ngâm của Minh Thư vang lên trầm ấm, xôn xao. Độ rung ngân trữ tình của chất giọng ấm cúng ấy như có một sức mạnh quyến rũ kỳ diệu. Tôi nhìn chung quanh, những ánh mắt của các chiến sĩ đ dồn về phía Minh Thư, nhưng có lẽ tâm hồn họ đang hướng về quê hương, vùng đất thiêng liêng nhất trong mỗi người lính xa nhà. Có những tiếng xì xào bàn tán: nghe đâu trước đây, cô ấy là một cô giáo thuộc loại "sắc nước hương trời". Đám ngụy quân, ngụy quyền và cả tụi Mỹ nữa cứ bâu xung quanh cô ấy hàng lô. Cô ấy cũng là nguyên nhân của những cuộc đọ súng giữa những tên ác ôn khét tiếng tàn bạo và hám sắc. Và cũng chính vì thế mà cô ấy gặp nhiều khó khăn trở ngại trong hoạt động bí mật hợp pháp. Cực chẳng đã với tụi giặc, cô ấy đành xin với mấy chú "nhảy núi". Từ đó Ttrở thành cô du kích vùng ven xinh đẹp, dũng cảm gan dạ và đầy mưu trí, nhiều phen làm cho địch khiếp đảm.

Buổi liên hoan văn nghệ đêm ấy gây cho chúng tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Sáng hôm sau, vừa mới tinh mơ, chúng
tôi còn đang ngái ngủ, bỗng vang lên hai tiếng súng n rất đanh và gọn phía suối. Tôi xách súng nhào ra. Giữa đường gặp Minh Thư, tay lăm lăm khu côn 12. Cách đó một quãng, một con rắn h mang to bằng bắp tay bị bắn dập nát đầu đang quằn quại. Anh em đ xô đến. Ai cũng thán phục Thư là tay súng cừ khôi. Từ đó chúng tôi hoàn toàn tin tưởng và khâm phục cô du kích vùng ven có giọng ngâm thơ tuyệt vời ấy.

Giờ đây, Thư đang bươn bả đi trong mưa. Mảnh vải nhựa choàng lên thân hình mềm mại ướt sũng. Hai ống qu
n được xắn cao lên để lộ đôi chân tròn lẳn trắng muốt bước thoăn thoắt trong rừng mưa. Bóng cô nhạt nhòa trong mưa. Lòng tôi nhói lên một nỗi đau: "Nếu không có chiến tranh thì..." Cơn khát của một tâm hồn trai trẻ đầy sinh lực chợt ào đến dữ dội trong tôi. Nhưng mà thôi, sau cái chữ thì ấy, chắc chắn là lắm chuyện rắc rối, phiền hà lắm. Mọi thứ khả năng th hai ấy sau chiến tranh hãy hay...

Đoàn ngư
i vẫn lần lụi đi trong những cánh rừng tối om. Tất cả đều im lặng. Thỉnh thoảng, lại một người trượt chân ngã lăn ra đất. Mặt mũi bê bết bùn. Đoàn quân dừng lại chốc lát rồi lại từ từ chuyn động. Nhưng rồi những ngày cuối của mùa mưa cũng sắp hết. Trên đỉnh trời, mây đen bị xé rách l ch. Những mnh tri xanh rời rợi hiện ra. Khó mà nói hết sự thèm khát màu tri xanh ấy của người lính Trường Sơn mùa mưa. Những ánh mắt rực sáng lên. Trời bắt đầu ấm và thế là những cơn sốt dịu lại. Chúng tôi hết sức khoan khoái vì được giải thoát khỏi sự m ướt dai dẳng hàng tháng trời của mùa mưa.

Đơn vị quyết định dừng chân tắm giặt và nấu cơm bên
một dòng suối. Ánh nắng vàng rực bên một khoảnh rừng đầy hoa bươm bướm. Lũ chim chóc hót vang chào đón tia nắng đầu tiên của mùa khô. Tắm giặt xong, Thư ngồi hong khô mái tóc óng mượt. Những tia nắng dàn dụa chảy trên mái tóc. Tôi bất giác mm cười với cái ý nghĩ ng ngộ cứ ln vởn hoài trong đầu óc: Giá mà không có chiến tranh... Nhưng nếu không có chiến tranh, cái dáng vẻ trần trụi, chân thật của người lính sẽ được khoác vào những cái vỏ hình thức mượt mà, và như thế liệu mình có thể có hạnh phúc được chiêm ngưỡng cái v đẹp bằng sự khao khát thực sự hay không? Đang chìm đắm trong những suy tư ấy bng Huy vỗ mạnh vào vai tôi nói:

- Này, mày đang làm thơ đấy à. Thôi, đi kiếm chất tươi với tao.

Tôi và Huy xách súng lội ngược dòng suối tìm thức ăn cải thiện cho đơn vị. Bao giờ cũng thế, c
ngh chân là thằng Huy tìm cách cải thiện, khi thì vài con cá nhi đồng (cách gọi loại cá con của Huy). Khi thì một mũ ci đầy nấm lửa, tệ nhất cũng phải nắm lá chua nấu canh.

Huy quê Hà Nội, làng Ngọc Hà làng hoa nổi tiếng của Thăng Long cổ xưa. Những lúc rỗi
, hắn hay giảng cho tôi về tính khí các loài hoa. Hoa Hà Nội nổi tiếng đẹp và có tính cách hẳn hoi. Nào đồng tiền, thược dược, lay dơn, hồng bạch, hồng nhung, đào, mào gà, thủy tiên. Thôi thì đủ loại, mỗi loại một phong cách khác nhau. Những lúc ấy mắt tôi cứ tròn ra như ốc nhồi, mồm há ra như hang đá, phục lăn như b cái kiến thức về hoa của Huy. Thật đúng là người Hà Nội, sành chơi, có tiếng. Huy là một thanh niên rất đẹp trai. Dáng người dong dỏng, trắng trẻo thư sinh. Đúng mốt "Người dây". Huy li là người chơi vi-ô-lông rất giỏi. Đến ni mù tịt về âm nhạc như tôi mà nghe tiếng đàn của hắn cũng nổi hết da gà lên một lượt. Nghe nói, Huy say mê kéo đàn Vi-ô-lông từ khi đọc sách về nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng tài ba và cũng nổi tiếng bi kịch người Ý là Pa-ga-ni-ni. Có lần không có dây căng ác-sê, Huy phải đi tuốt đuôi ngựa bị ngựa đá lăn xuống ao bèo. Học xong lớp mười. Huy vào bộ đội. Chúng tôi vẫn gọi Huy là người "kiểng". Ấy vậy mà Huy lại là một chiến sĩ đặc công dũng cm có tiếng. Có lần chúng tôi đi điều nghiên một khu đồi. Gần sáng, tất cả đã có mặt vị trí tập kết, chỉ thiếu có một mình Huy, mãi một lúc sau, Huy mới bò về đến nơi, miệng tủm tỉm cười.

- Tao bò vào phòng thằng đồn trưởng. Hắn đang ôm bồ ngủ. Nhìn lên đầu giường thấy gói ru-bi, thèm quá, tao tính rút một điếu nhưng nghĩ chúng mày cũng khao khát, tao nâng luôn cả gói. Sáng mai, th nào thằng cần vụ cũng được mấy cái bạt tai đim tâm.

Tôi đang miên man trong nh
ng dòng suy nghĩ ấy thì Huy vẫy tay ra hiệu. Chúng tôi leo lên một quả núi. Gn tới đnh, Huy dừng lại trao súng cho tôi rồi leo lên một cây dẻ cụt nhìn chăm chăm sang quả đồi bên kia rồi bất chợt reo lên:

- Tuyệt? Tuyệt! Thật là rừng vàng bin bạc Tùng ơi. Bên kia có dơi. Dơi núi bay rợp một góc trời. Chà có hang dơi là có thịt tươi rồi Tùng ơi!

Tôi vừa nghe Huy nói đến thịt dơi
, nước bọt đã tứa ra đầy miệng. Hai thằng vội vã cắt rừng trèo lên quả núi đá đồ sộ. Lưng chừng núi, một cái hang đá sâu hun hút, tối om. Chúng tôi bước đi trên đống phân dơi dày hàng thước. Đàn dơi bay loạn xạ. Không mang theo vật gì để đựng. Huy ci phăng quần dài, thắt gút hai ng quần rồi bỏ dơi vào. Chỉ một lúc sau, chúng tôi đã bắt được đầy một bọc dơi. Hai đứa hý hửng vác bọc dơi lùng nhùng trèo xuống núi. Về đến dưới sui, cả đơn vị đ xô lại. Ai nấy trầm trồ, hoan hỷ. Trưa và chiều hôm ấy, cả đơn vị chén thịt dơi hả hê. Mặc dầu thịt dơi núi nấu muối bm tím lại, n nhân nhn đắng. Nhưng dù sao, đây cũng là một bữa tiệc tươi rói giữa Trường Sơn.

Sáng hôm sau, Huy v
à Minh Thư dậy sớm, rủ nhau lên núi bắt dơi. Hai người mang theo một chiếc bao ti to tướng. Họ ra đi lúc đơn vị đang ngủ say sau những ngày lặn lội mệt nhọc.

Khoảng tám giờ sáng, chúng tôi bắt đầu nghe tiếng L19 quần đảo trên không. Ở chiến trường, chuyện đó rất bình thường, chẳng ai để ý đến nó. Nhưng chiếc L19 đ
i vòng bay, hạ thấp độ cao lượn đi, lượn lại chung quanh quả núi đá. Vòng bay của nó ngày càng khép kín. Hình như nó đã phát hiện thấy một dấu hiệu bất thường nào đó. Tôi nghĩ ngay đến chuyện đàn dơi liền nói:

- Anh Thịnh ạ, Huy và Minh Thư dậy sớm. Họ vào hang bắt dơi. Có lẽ đàn dơi bị động tổ bay dáo dác nên thằng L19 nghi ngờ chắc.

Thịnh nói: "Loại máy bay trinh sát dai như đĩa đói ấy là ghê lm đấy" - rồi anh ra lệnh.

- Coi chừng bị lộ, tất cả tản ra - Tuyệt đối không được n súng, giữ bí mt đến phút cuối cùng cho chiến dịch.

Chúng tôi dự đoán không sai
, chỉ năm sáu phút sau, một đàn phản lực lao tới. Tiếng bom n rền trên đỉnh núi. Giặc oanh kích dữ dội, hết tốp này đến tốp khác.

Trong những ánh chớp nhoáng nhoàng
, tiếng nổ dữ dội, tiếng cây cối đ ầm ầm, tôi ch lo cho Thư và Huy. Nếu không may một qu bom rơi đúng miệng hang, sức ép dữ dội trong hang đá sẽ rất nguy hiểm cho hai người.

Máy bay giặc vừa cút khỏi, chúng tô
i đã lao lên quả núi đá. Cảnh vật tr nên trơ trụi. Mặt đất bị đào bớt nham nh. Những tảng đá lăn ầm ầm xuống suối. Cây cối bị tuốt hết lá giơ những cánh tay khẳng khiu lên trời. Khói bom đắng nghét. Không gian tr lại yên tĩnh một cách ghê rn. Khó khăn lắm chúng tôi mới xác định được phương hướng.

Tôi lao về phía hang dơi
. Một tảng đá khng lồ đ ụp xuống chắn lấy miệng hang. Đồng đội lao lên. Tất cả chững lại trước tảng đá khng lồ xám xịt như một bức tường chết. Chúng tôi lao vào đào bới tìm kiếm, nhưng bất lực. Tảng đá lớn hàng trăm tấn đã ngăn cách hai người trong hang với chúng tôi thành hai thế giới riêng biệt. Lòng tôi quặn lên một nỗi đau đớn cùng cực. Ở trong kia, hai người bạn thân yêu của chúng tôi còn sống không? Ước gì có được sức mạnh thần thoại nhấc bống tảng đá khng lồ kia quẳng xuống chân núi.

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]Minh họa: Bửu Chỉ

Như những người mất tinh thần, chúng tôi hoang mang tìm kiếm đào bới. Mãi sau chúng tôi mới phát hiện ra một kẽ nứt nhỏ. Tôi ghé vào hét lớn:

- Thư
ơi! Huy ơi!

Tiếng gọi của tôi va
vào b đá vọng lại một cách đơn độc buồn bã. Mãi một lúc sau, chúng tôi nghe như có tiếng trả lời rất nhỏ, mơ hồ và xa xôi như vọng lên từ lòng đất. Chúng tôi tìm mọi cách để phá hang. Các phương án liên tiếp được đưa ra nhưng tất cả đều vô hiệu. Chúng tôi đứng đực ra như phỗng, hai tay buông thõng, mắt ráo hoảnh nhìn không chớp vào tảng đá đ sộ. Tất cả còn lại mười con người với những trang bị gọn nhẹ biết lấy gì để hất tung tảng đá lớn hàng trăm tn này.

Chúng tôi nhìn nhau im lặng
. Chỉ còn mỗi một cách duy nhất. Đánh bộc phá. Nhưng đánh bộc phá sẽ xy ra hai điều bất lợi. Thứ nhất, sức ép của bộc phá sẽ nguy him đến tính mạng của hai người. Thứ hai, tiếng nổ của bộc phá sẽ làm lộ bí mật, bọn thám báo biết được ý đ của ta và như thế chiến dịch sẽ thất bại. Nhưng nếu không phá được hang, tính mạng của Huy và Thư sẽ ra sao? Tình hình trở nên hết sức gay cấn, khó xử.

Suốt một ngày căng thẳng. Căng thẳng đến tột độ. Ai cũng cảm thấy mệt mỏi và bất lực. Trời tối
dần, ánh hoàng hôn hấp hối phía bên kia cánh rừng cố hắt những tia nắng vàng vọt mỏng manh và yếu đuối lên nền trời đang sm tối. Chúng tôi chẳng nghĩ gì đến chuyện ăn ung, ngồi lặng im như những pho tượng đá quanh cái hang dơi đang giam hãm hai người đồng đội. Rừng núi trở nên lạnh vắng, hoang vu và khắc nghiệt. Những đôi mắt dò tìm nhau trong bóng tối. Ai cũng sợ phải nói lên một sự thực tàn nhẫn đến xót xa: bất lực và cái chết.

i không thể quên cái đêm khắc khoải y. Ở trong kia, cái bóng tối đặc quánh của hang sâu giữa bn b là đá ấy, hai người bạn, hai người đồng chí, đồng đội của tôi đang phải chống lại cái đói và sự cô đơn đến rùng rợn. Chung quanh đồng đội cũng thức trắng. Những đôi mắt ánh lên một nỗi buồn man mác. Ai cũng muốn làm một điều gì đó. Nhưng tất cả đều bất lực, Thịnh hút liên miên hết điếu này đến điếu khác thứ thuốc rê khét lẹt và nặng chịch của vùng Qung Bình quê anh. Khuôn mặt Thịnh đanh lại, hốc hác. Trong anh già đi hàng chục tuổi. Chợt anh đứng dậy ném mạnh tàn thuốc. Điếu thuốc vạch một vệt sáng hình vòng cung rồi tắt ngấm trong bóng đêm. Thịnh nói:

- Các đồng chí, bằng mọi giá chúng ta phải cứu được hai đồng chí ấy.

Lời nói của anh đầy quyết tâm, nhưng lời nói ấy cũng chỉ rơi vào khoảng không im lặng. Chính anh cũng thừa biết điều đó vượt ra ngoài khả năng của con người. Chúng tôi đứng tựa lưng vào tảng đá lành lạnh, lòng ngn ngang đau đớn. Trong lúc mọi người cm thấy hoàn toàn bất lực thì Phúc, một chiến sĩ còn trẻ măng, bỗng dậy reo lên.

Em nghĩ ra rồi. Chúng ta có thể dùng sào dài xuyên kẽ h
ấy để trao đi với hai người trong hang.

Như có một sức mạnh kỳ lạ, tất c
chúng tôi đứng bật dậy. Sáng kiến của Phúc được tiến hành ngay. Chúng tôi tìm hai cây nứa nối vào nhau thành một chiếc sào dài. Sau đó viết một mảnh giấy nhỏ kèm theo, mảnh giấy, chúng tôi bỏ vào trong ruột nứa phía đầu mũi sào một chiếc bút bi, một cái bật lửa và hai bánh lương khô.

Cây sào được c
n thận xuyên vào rãnh nứa. Gần ngập hết cả hai cây nứa bỗng chân tay chúng tôi run lên, cây sào bị đẩy đi đẩy lại như một sự báo hiệu tốt lành. Mười phút sau cây sào được từ từ đẩy ra. Chúng tôi nhẹ nhàng, hồi hộp kéo về phía mình. Một mảnh giấy nhem nhuốc và những dòng chữ thân thuộc của Huy run run trong bàn tay đầy đất bụi của Thịnh.

... Đã ba ngày rồi
, chúng tôi trao đổi thông tin và lương thực cho hai người trong hang bằng phương tiện đặc biệt ấy. Cả đơn vị đau đầu vì chưa biết giải quyết ra sao. Những bánh lương khô cuối cùng được giành ưu tiên cho Thư và Huy. Đơn vị thay nhau đào củ mài, hái tàu môn thục nấu canh ăn. Tình trạng ngày một trở nên bi đát. Thời hạn quy đnh hành quân sắp hết. Bình thường ra thì hôm nay đơn vị đã cắm được xung địa bàn, tiến hành điều nghiệm xây dựng cơ sở. Vậy mà, cho đến giờ phút này đơn vị vẫn còn kẹt lại giữa rừng trong hoàn cảnh khắc nghiệt này. Rồi lương thực cũng cạn hẳn. Ngày thứ tư, chúng tôi phải tiếp tế vào hang một ít c mài luộc và ít quả sung rừng. Những cơn đói khủng khiếp ào đến. Chúng tôi nằm trong tình trạng hết sức khó xử. Không thể bỏ hai người đồng đội chết đói trong hang sâu, cũng không thể bỏ nhiệm vụ của đơn vị. Trưa hôm ấy chúng tôi nhận được một mảnh giấy nát nhàu, nét chữ nhòe ướt có lẽ vì nước mắt. Bức thư yêu cầu đơn vị tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ.

M
t tôi hoa lên, m đi, nước mắt ứa ra. Chưa bao giờ chúng tôi lâm vào một tình trạng bi đát như thế. Ai nỡ đang tâm ra đi bỏ lại hai người bạn thân yêu trong cái hang chết giữa rừng sâu này. Đã bn ngày rồi đơn vị ăn toàn rau rừng và hình như ngày nào chúng tôi cũng nhận được mảnh giấy đề nghị đơn vị tiếp tục ra đi làm nhiệm vụ. Đến nỗi cuối cùng không ai còn can đảm cầm đọc những mảnh giấy ấy nữa.

Sang ngày
thứ năm, đơn vị hội ý để tôi và Phúc ở lại thay nhau đào củ mài hái quả rừng để tiếp tế cho Thư và Huy. Còn tám đồng chí còn lại gấp rút hành quân làm nhiệm vụ. Chiến dịch bùng nổ, đơn vị sẽ quay lại tìm cách phá hang.

Hôm sau, khi chúng tôi chuy
n thức ăn vào hang cho Huy và Thư đồng thời báo cho hai người biết quyết định của đơn vị. Cây sào bị níu giữ khá lâu, sau đó, chúng tôi nhận được một gói nhỏ bằng vải áo quân phục buộc cn thận bằng một nắm tóc. Chúng tôi nhìn nhau kinh hoàng. Tất cả linh cảm thấy một điều gì ghê gớm sẽ xy ra. Bỗng một tiếng AK trầm đục và ghê lạnh từ trong hang đá vọng ra. Liền sau có một tiếng súng nữa lại vang lên. Chúng tôi không tin vào tai mình nữa. Chiếc gói tuột khỏi tay tôi rơi xuống đất. Tất cả bàng hoàng. Đất dưới chân chúng tôi như lún xuống. Thịnh chồm vào kẽ đá giọng thất thanh.

- Các đồng chí không được liều lĩnh.

Tiếng thét của anh va vào đá bật lại khô khốc và đơn độc. Cả không gian im lặng. Im lặng một cách rùng rợn. Trong đời lính chưa bao giờ chúng tôi phải chứng kiến một sự hy sinh đau đớn đến mức không thể chịu đựng nổi như thế. Tôi nhìn chăm chăm vào tảng đá, nước mắt chảy dàn dụa trên gò má nóng bỏng. Bất thần Phúc lao lên dáng một nắm đấm vào tảng đá đ
sộ. Bàn tay anh tóe máu. Tôi chạy lên đỡ lấy Phúc. Hai hàm răng anh nghiến chặt.

Sau những phút bàng hoàng, tôi nhặt gói vải lên, nhè nhẹ gỡ lọn tóc. M
nh vải bung ra. Một vài vật kỷ niệm, chiếc đồng hồ và lá thư gửi gia đình của hai người. Chúng tôi đứng im như những pho tượng trước cái hang đá trở thành ngôi mộ đá chôn hai người đồng đội. Chúng tôi cúi đầu vĩnh biệt Thư và Huy, nỗi đau hằn lên những khuôn mặt hc hác đầy cát bụi. Vut mảnh giấy nát nhàu trong tay, những dòng chữ thân thuộc cuối cùng của Thư và Huy như nhảy múa trước mắt tôi

Chúng tôi bước đi trong những cánh
rừng già, lòng nặng nề u ám. Đằng sau chúng tôi hòn núi đá, m dần rồi khuất hẳn. Chẳng ai nói điều gì, chúng tôi đi im lặng, mỗi người theo đui một dòng suy tưởng riêng.

Khi tiếng súng chiến
dịch Mậu Thân sắp sửa bùng n, chúng tôi cấp tốc quay lại hang đá dùng bộc phá cực mạnh nổ tung tng đá để đưa hài cốt của hai người bạn về phía sau mai táng. Nhưng hài cốt không còn nguyên vẹn nữa. Các loài chuột, loài thú trong hang tha đi rãi rác khắp nơi. Chúng tôi phải bấm đèn pin đi nhặt nhạnh những khúc xương rơi vãi trong các hang hốc, gờ đá. Không còn phân biệt được hài cốt của hai người. Chúng tôi đưa về chôn chung một ngôi mộ bên cạnh dòng suối.

Trước khi rời hang đá chúng tôi nhặt được khu AK đã mục nát báng g. Trong băng đạn vẫn còn lại hai tám viên đạn đã r sét. Khi tôi lấy viên đạn cuối cùng bung ra thì một gói ni lông nh xíu rơi xuống, trong gói ni lông một mảnh giấy nhàu nát ghi chi chít những dòng chữ thân thuộc của Huy.

"Hôm nay là ngày thứ mười sáu kh
i các đồng chí ra đi. Chúng tôi vẫn hy vọng..."

Đọc đến đây, mắt tôi hoa lên. Mảnh giấy tuột khỏi tay rơi xuống đất. Thì ra chúng tôi đã ra đi bỏ lại hai người bạn yêu quý trong hang đá mà không ngờ họ vẫn còn sống, vn chống chọi với cái chết, bóng đêm và sự tuyệt vọng. Đêm ấy, trước khi tr về hậu cứ, chúng tôi đốt lên một đống lửa và ngồi quây qun chung quanh ngôi mộ của hai người cho đến sáng.

By năm sau, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi tr lại Trường Sơn đưa hai người đồng đội yêu quý về quê hương Minh Thư, mai táng bên gò đất cao cạnh bờ sông Sài Gòn ngày đêm dạt dào sóng vỗ. Hàng năm vào những ngày lễ ngày tết, các cụ phụ lão đến tảo mộ và thắp hương. Các em thiếu niên nhi đồng mang vòng hoa đến đặt lên ngôi mộ.

Họ kể về ngôi mộ chung của hai người
liệt sĩ như kể về một câu chuyện thần thoại đầy kỳ tích của thời đánh Mỹ.

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]Nha Trang tháng 12-1984
T.C.U
(18/4-86)







Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.